Danh mục: Tư vấn hỗ trợ Doanh nghiệp

  • Để trồng rừng kinh tế hiệu quả

    Để trồng rừng kinh tế hiệu quả

    (BGĐT) – Trồng rừng và làm giàu từ rừng kinh tế là câu chuyện đã có từ nhiều năm ở Bắc Giang. Tuy vậy, đến nay vẫn có không ít chủ rừng chưa nắm được kỹ thuật thâm canh hiệu quả.

    Gia đình ông Ban Văn Tạy, thôn Lái, xã An Bá (Sơn Động) có hơn 10 ha rừng kinh tế trồng và khai thác luân phiên. Năm nay, gia đình ông trồng mới 2 ha. Do thổ nhưỡng vùng này không hợp với bạch đàn nên vụ này ông vẫn chọn keo lai để trồng, với mật độ từ 1,8-2 nghìn cây/ha; tương ứng với mỗi cây cách nhau chỉ hơn 1m. 

    Rừng bạch đàn của gia đình ông Nguyễn Văn Bắc, xã Canh Nậu (Yên Thế) phát triển tốt nhờ trồng đúng kỹ thuật.

          Rừng bạch đàn của gia đình ông Nguyễn Văn Bắc, xã Canh Nậu (Yên Thế) phát triển tốt nhờ trồng đúng kỹ thuật.

    Quan sát những vạt keo 2 năm tuổi của gia đình ông Tạy, chúng tôi không khỏi bất ngờ khi thấy nhiều cây keo chỉ to bằng bắp tay, cao trung bình khoảng 4- 6 m. Nhiều cây còi cọc, không được tỉa thưa. Năm ngoái, gia đình ông bán 2 ha keo hơn 4 năm tuổi chỉ thu được 110 triệu đồng/ha, thấp hơn nhiều so với một số hộ khác.“Do bán vo cho thương lái nên tôi không biết rừng đạt bao nhiêu m3/ha” – ông Tạy phân trần.

    Tìm hiểu thực tế, nhiều hộ dân ở xã An Bá đều canh tác như hộ ông Tạy. Anh Triệu Anh Tuấn, cán bộ kỹ thuật, Hạt Kiểm lâm Sơn Động cho biết, đã nhiều lần xuống vận động và khuyến cáo người dân nhưng vẫn không có chuyển biến.

    Không như người dân An Bá, các chủ rừng tại huyện Yên Thế chỉ trồng từ 1,3 đến 1,6 nghìn cây/ha (kể cả keo lai và bạch đàn), tương ứng với cây cách cây từ 2,5 đến 3m. Ông Nguyễn Văn Thành, Hạt phó Hạt Kiểm lâm Yên Thế chia sẻ, để người trồng rừng canh tác theo cách này, các cán bộ của Hạt cùng kỹ sư của Công ty TNHH hai thành viên Lâm nghiệp Yên Thế đã trải qua nhiều năm vận động, hướng dẫn các chủ rừng. 

    Thậm chí Công ty còn trồng nhiều cánh rừng mẫu để bà con học tập. Thực tế qua các chu kỳ khai thác, rừng trồng tại Yên Thế cho từ 130 đến 170 m3/ha (với cùng chu kỳ 4 năm); đạt giá trị từ 130 đến 160 triệu đồng/ha. Ông Đào Văn Bắc, thôn Đống Cao, xã Canh Nậu (Yên Thế) nói: “Trồng rừng theo hướng dẫn của cán bộ Hạt Kiểm lâm Yên Thế, gia đình tôi giảm gần 5 triệu đồng/ha tiền đầu tư cây giống, phân bón, công trồng, chăm sóc trong khi thu nhập lại cao hơn”.

    Đang bước vào mùa trồng rừng, thiết nghĩ không chỉ các chủ rừng ở xã An Bá mà các hộ trồng rừng nói chung cần tuân thủ quy trình. Bên cạnh đó, những người làm công tác phát triển lâm nghiệp nên sát sao, hướng dẫn người dân làm đúng kỹ thuật, từ đó nâng cao giá trị đất lâm nghiệp.

     

                                                                                                                                             Theo: Đại La (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Amazon tung loạt ưu đãi cho nhà cung cấp từ Việt Nam

    Amazon tung loạt ưu đãi cho nhà cung cấp từ Việt Nam

    100 doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia chương trình hỗ trợ xuất khẩu qua Amazon sẽ được tư vấn chuyên sâu và giúp đỡ giá chiết khấu.

    Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương) và Amazon Global Selling đã chính thức công bố chi tiết chương trình độc quyền “Hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường thế giới với Amazon.com” cho 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ.

    Quyền lợi cho doanh nghiệp tham gia gồm các buổi tập huấn kỹ năng bán hàng trực tiếp hoặc online, hỗ trợ và tư vấn chuyên sâu cũng như giá chiết khấu với các nhà cung cấp dịch vụ địa phương trong toàn bộ quá trình bán hàng trên Amazon.

    Bên cạnh đó, 100 doanh nghiệp được chọn sẽ có cơ hội tham gia vào giai đoạn 2 của kế hoạch, tập trung vào việc phát triển thương hiệu doanh nghiệp và hàng hóa Việt Nam trên Amazon. Thông qua chương trình, Amazon Global Selling cho biết muốn tạo cơ hội để các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam xuất khẩu sản phẩm ra toàn cầu, đặc biệt đối với đồ thủ công mỹ nghệ, dệt may, da giầy, hàng tiêu dùng…

    “Internet bùng nổ, lực lượng lao động trẻ, am hiểu công nghệ cùng sự phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất tại Việt Nam đã khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại đây ứng dụng thương mại điện tử ngày càng nhiều. Tuy nhiên, một số hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm vẫn còn tồn tại đã và đang cản bước nhiều doanh nghiệp Việt vươn ra thị trường thế giới”, ông Bernard Tay – Giám đốc Bán hàng toàn cầu của Amazon khu vực Đông Nam Á nhận xét.

    Ngoài ra, bắt đầu từ tháng 4/2019, Amazon và Cục xúc tiến thương mại sẽ phối hợp tổ chức chuỗi chương trình đào tạo trực tuyến miễn phí trên toàn quốc cho khoảng 200 doanh nghiệp Việt Nam mỗi đợt. Chương trình nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu qua Amazon, đặc biệt với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, quà tặng, gốm sứ, vật dụng trang trí gia đình, hàng may mặc, thực phẩm khô…

    “Với những đặc trưng riêng của các doanh nghiệp và hàng hoá tại Việt Nam, kết hợp với hệ thống phân phối toàn cầu của Amazon, chúng tôi tin chương trình phối hợp sẽ giúp được nhiều doanh nghiệp mở rộng kinh doanh ra thị trường quốc tế”, ông Vũ Bá Phú – Cục trưởng Cục xúc tiến thương mại lạc quan.

     

                                                                                                                                                       Nguồn: Viễn Thông (VnExpress)

  • Lý do khiến giá điện tăng 8,36% trong tháng 3

    Lý do khiến giá điện tăng 8,36% trong tháng 3

    Yếu tố mấu chốt quyết định đến điều chỉnh giá điện được EVN đưa ra là do tổng chi phí của tập đoàn này đội lên khoảng 20.735 tỷ đồng.

    Ngày 5/3, trả lời VnExpress, ông Hoàng Quốc Vượng – Thứ trưởng Công Thương cho biết Bộ này đã lên phương án về tăng giá điện với “mức tăng trên 8%”. Cụ thể, giá điện sẽ tăng 8,36% so với giá điện bình quân hiện hành, từ 1.720,65 đồng lên 1.864,04 đồng một kWh (chưa gồm thuế VAT). Phương án tăng này dự kiến sẽ điều chỉnh ngay trong tháng 3/2019.

    Theo ông Hoàng Quốc Vượng, đáng lý giá điện đã phải tăng trong năm 2018 nhưng vì nhiều lý do đã dời lại sang năm nay. Trong 10 năm qua giá điện đã tăng 7 lần, lần tăng mạnh nhất là 15,28% năm 2011, thấp nhất là mức tăng 5% 2012 – 2013. 

    Lý do để nhà chức trách đề xuất tăng giá lần này là kết quả sản xuất kinh doanh điện của năm 2017. Tại họp báo công bố giá thành sản xuất điện năm 2017 cuối năm 2018, Bộ Công Thương cho biết, doanh thu bán điện năm 2017 của EVN gần 290.000 tỷ đồng, trong khi chi phí sản xuất kinh doanh điện gần 291.300 tỷ. Sau khi cộng tất cả thu chi của EVN năm 2017, tập đoàn này lỗ khoảng 2.220 tỷ đồng.

             Công nhân điện lực Hà Nội sửa chữa đường dây điện sinh hoạt tại quận Long Biên. Ảnh: Ngọc Thành

    Công nhân điện lực Hà Nội sửa chữa đường dây điện sinh hoạt tại quận Long Biên. Ảnh: Ngọc Thành

    Song, kết quả sản xuất kinh doanh điện chỉ là một yếu tố để điều chỉnh giá điện. Yếu tố mấu chốt được nhắc tới là tổng chi phí bị “đội” lên năm 2018 và 2019 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) khoảng 20.735 tỷ đồng. Bóc tách dữ liệu này trong một cuộc họp của Ban chỉ đạo giá, ông Đỗ Thắng Hải – Thứ trưởng Công Thương cho biết, năm 2018 chi phí tăng thêm trong cơ cấu tính giá điện khoảng 5.483 tỷ đồng, gồm chênh lệch tỷ giá năm 2017 là 3.071 tỷ đồng, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước 502 tỷ và giá khí trong bao tiêu theo thị trường tăng thêm 1.910 tỷ.

    Năm 2019, ngành điện ước tính phát sinh chênh lệch tỷ giá năm 2018 là 3.516 tỷ đồng, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước 502 tỷ, giá khí bao tiêu thực hiện theo thị trường năm 2019 tăng thêm khoảng 10.500 tỷ đồng… Tổng chi phí đội lên năm 2019 sẽ là 15.252 tỷ đồng.

    Ngoài ra, còn khoản chênh lệch tỷ giá treo lại từ năm 2015 dự kiến phân bổ cho năm 2019 khoảng 734 tỷ đồng. Giá than bán cho điện tăng 5% từ đầu năm 2019 dự tính cũng làm chi phí sản xuất điện tăng khoảng 5.500 tỷ đồng. Các khoản “đội” thêm này chưa gồm chi phí tăng thêm khi phải nhập khẩu than dùng cho sản xuất điện, mà theo tính toán của EVN nếu áp dụng giá than trộn (than nhập khẩu về pha trộn trong nước) như đề xuất của TKV và Tổng công ty Đông Bắc, chi phí mua điện năm 2019 sẽ bị đội thêm gần 1.500 tỷ đồng. Trong số này, than trộn mua từ TKV tăng gần 1.063 tỷ, than mua từ Tổng công ty Đông Bắc tăng 435,2 tỷ đồng. 

    Với các thông số đầu vào nêu trên, Cục Điều tiết Điện lực (Bộ Công Thương) khẳng định, phương án giá điện “đã được xây dựng theo nhiều kịch bản khác nhau, các phương án được cân nhắc với mục tiêu là đưa vào dần các chi phí còn treo, đảm bảo phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, có xem xét đến tình hình kinh tế vĩ mô”. 

    Bình luận về dự kiến tăng giá điện, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, việc tăng giá điện là khó tránh khỏi khi mặt hàng này đã bị kìm giá thời gian dài qua, nhưng lưu ý cơ quan quản lý cần đánh giá tác động đầy đủ việc tăng giá lần này tới các khu vực sản xuất, do điện là nguyên liệu đầu vào chính của tất cả các ngành, lĩnh vực.

    Trong khi các chi phí phát sinh đầu vào sản xuất điện khá lớn, nhưng ở lần tăng giá điện lên 8,36% tới đây số này chưa được phân bổ hết vào giá thành, bởi nếu phân bổ hết thì mức tăng có thể sẽ lớn hơn. “Mức độ phân bổ sẽ được xem xét trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng của điều chỉnh giá điện tới chỉ số CPI, GDP, cũng như tới các ngành nghề sản xuất, hộ sinh hoạt”, Cục Điều tiết điện lực thông tin.

    Trước lo lắng việc tăng giá điện sẽ ảnh hưởng tới lạm phát, tăng trưởng và các hộ tiêu thụ điện lớn như sản xuất thép, xi măng, tôn… Bộ Công Thương cho biết các phương án điều chỉnh đã được cơ quan này tính toán để đảm bảo tác động là ít nhất. Ước tính, việc tăng giá điện thêm 8,36% vào cuối tháng 3 sẽ làm tăng CPI 0,26 – 0,31%, làm giảm GDP 0,22 – 0,25% và khiến chỉ số sản xuất (PPI) tăng 0,15-0,19%.

    “Tăng giá điện lần này nhằm lành mạnh hoá thị trường điện khi cơ cấu nguồn điện huy động từ khí, điện than đắt hơn, mức tiêu thụ tăng 10% trong khi các dự án điện ngoài EVN bị chậm, không đáp ứng đủ nhu cầu cung ứng, tiêu dùng”, ông Vượng nói.

    Ông cũng cho biết với mức giá hiện 7,4 cent một kWh và sẽ tăng lên khoảng 8 cent sau điều chỉnh tới đây, thì giá điện Việt Nam vẫn thấp hơn so với các nước trong khu vực, thế giới. Cụ thể, giá điện Việt Nam thấp hơn Trung Quốc, Ấn Độ khoảng 8,1%, thấp hơn Lào trên 18%, Indonesia khoảng 26,5%…

    “Giá điện Việt Nam sau tăng giá cũng chỉ ngang bằng với giá điện của Trung Quốc, Ấn Độ”, ông Vượng cho hay. Việc giá điện Việt Nam thấp hơn các nước cũng là điểm thiếu hấp dẫn được các nhà đầu tư nhiều lần nêu là nguyên do khiến họ không mặn mà rót vốn đầu tư các dự án ngành này.

    Đợt tăng giá điện gần nhất là ngày 1/12/2017 với mức tăng 6,08%, đưa giá bán lẻ điện bình quân lên 1.720,65 đồng một kWh (chưa gồm thuế VAT). Như vậy giá bán lẻ điện sẽ được điều chỉnh sau hơn một năm kìm hãm.

     

                                                                                                                                                       Theo: Nguyễn Hoài (VnExpress)

  • Rút tiền mặt từ thẻ tín dụng qua máy POS: Phạm pháp và nhiều rủi ro

    Rút tiền mặt từ thẻ tín dụng qua máy POS: Phạm pháp và nhiều rủi ro

    VOV.VN – Ngân hàng cần tuyên truyền để khách hàng biết rằng, không thể dùng thẻ tín dụng để rút tiền qua những giao dịch khống, vì điều đó là phạm pháp.​

    Hiện nay, dịch vụ rút tiền mặt từ thẻ tín dụng đang rất phổ biến. Theo đó, có một số công ty có hợp đồng hợp tác với ngân hàng để áp dụng kênh thanh toán thẻ Visa vào việc chấp nhận thanh toán các giao dịch mua bán hàng hóa. Những công ty này có thể giúp chủ thẻ rút toàn bộ hạn mức tín dụng được cấp bằng tiền mặt để dùng vào mục đích khác thay vì mua sắm hàng hóa qua thẻ.

    Cách phổ biến nhất là khách hàng có thể rút tiền từ thẻ tín dụng tại các cây ATM của ngân hàng. Ngoài cách này, thì hiện có dịch vụ rút tiền từ thẻ tín dụng qua máy POS,  khách hàng có thể rút được 100% hạn mức tín dụng được cấp. 

    Điều đáng nói, phí ứng tiền mặt khi rút qua cây ATM của các ngân hàng thường khá cao, dao  động trên dưới 4%, còn phí rút tiền mặt qua POS dao động từ 1,2% – 1,6%. Do vậy, rút tiền từ thẻ tín dụng qua máy POS đang là phương pháp được nhiều khách hàng ưa chuộng…  

                                         rut tien mat tu the tin dung qua may pos: pham phap va nhieu rui ro hinh 1                                  

                                       Rút tiền từ thẻ tín dụng qua máy POS đang rất phổ biến hiện nay. (Ảnh minh họa: KT)

    Theo ông Nghiêm Sỹ Thắng, Giám đốc Khối Công nghệ ngân hàng, Ngân hàng Việt Á, về bản chất thì đây là hình thức giao dịch khống vì máy POS chỉ có chức năng thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ. Cách thức rút tiền cũng khá đơn giản, sau khi thỏa thuận với dịch vụ rút tiền, khách hàng mang thẻ tín dụng đến dịch vụ quẹt thẻ và nhận ngay 100% tiền mặt có trong thẻ. Nội dung được in trên hóa đơn rút tiền là mua sắm tiêu dùng hoặc mua một mặt hàng có giá trị của một công ty “ảo” nào đó.   

    Do lãi suất rút tiền mặt trên thẻ tín dụng thấp hơn vay ngân hàng nên nhiều người đã sử dụng cách này để rút tiền mặt. Thay vì đến tháng phải trả lãi, người vay chỉ phải trả một khoản phí đáo hạn cho dịch vụ rút tiền. 

    Ông Thắng cho rằng, việc rút tiền từ thẻ tín dụng qua máy POS mang lại thuận lợi cho người sử dụng nhưng lại tiềm ẩn rủi ro rất cao, vì đây chưa phải là hình thức giao dịch được pháp luật thừa nhận. 

    Rủi ro thứ nhất là khi khách hàng rút hết tiền mặt, sử dụng hết hạn mức đó thì họ có thể rơi vào tình trạng nợ nần. Do đó, khi dùng thẻ tín dụng phải cân nhắc về kế hoạch tài chính để đảm bảo có thể thanh toán được số tiền đã ứng khi tới hạn. Bởi lẽ nếu không thanh toán đúng kỳ hạn sao kê thì sẽ bị ngân hàng phạt do chậm thanh toán. 

    Mặc dù đi đôi với dịch vụ rút tiền trên thị trường cũng có các dịch vụ đáo hạn thẻ tín dụng sẽ giúp khách hàng chuyển nợ sang kỳ tiếp theo, nhưng nếu sử dụng lâu dài những dịch vụ này thì số phí phải chi cho các dịch vụ rút tiền sẽ không hề nhỏ.  

    Một rủi ro nữa mà ông Thắng chỉ ra là rút tiền từ thẻ tín dụng sẽ gây vỡ nợ và rủi ro cho ngân hàng do phát sinh nợ xấu. 

    Trước thực trạng trên, chuyên gia tài chính – ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, các ngân hàng phải rà soát lại hệ thống của mình, rà soát lại các dữ liệu về khách hàng. Nếu thấy khách hàng rút tiền, mua giao dịch thường xuyên lên mức tối đa của hạn mức của thẻ tín dụng thì phải có sự cảnh báo. Còn nếu ngân hàng phát hiện ra khách hàng đã dùng những giao dịch khống như vậy để rút tiền mặt thì lập tức phải chấm dứt hợp đồng tín dụng hay khóa thẻ tín dụng của khách hàng đó. 

    TS. Hiếu cũng cho biết thêm, các ngân hàng cần có dữ liệu, danh sách điểm giao dịch của những công ty, doanh nghiệp mà họ đã từng sử dụng giao dịch khống để rút tiền cho khách hàng, để hễ phát hiện ra thì có biện pháp xử lý kịp thời. 

    “Với khách hàng, ngân hàng cần tuyên truyền để khách hàng biết một cách rõ ràng là không thể dùng thẻ tín dụng để rút tiền qua những giao dịch khống như vậy, vì điều đó là phạm pháp.”, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho hay.

     

                                                                                                                                             Theo: Chung Thủy (Báo Điện Tử VOV)

  • Sửa đổi mức hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại

    Sửa đổi mức hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại

    (Chinhphu.vn) – Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 12/2019/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia ban hành kèm theo Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg  ngày 15/11/2010.

    Ảnh minh họa

    Cụ thể, Quyết định 12/2019/QĐ-TTg sửa đổi mức hỗ trợ đối với các hoạt động xúc tiến thương mại.

    Theo đó, mức hỗ trợ tối đa 100% áp dụng đối với các hoạt động xúc tiến thương mại phát triển ngoại thương được hỗ trợ từ Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại.

    Mức hỗ trợ 100% cũng áp dụng đối với các nội dung Chương trình xúc tiến thương mại miền núi, biên giới, hải đảo và một số nội dung Chương trình xúc tiến thương mại thị trường trong nước (gồm: Điều tra, khảo sát, nghiên cứu thị trường trong nước; xây dựng cơ sở dữ liệu các mặt hàng quan trọng, thiết yếu; nghiên cứu phát triển hệ thống phân phối, cơ sở hạ tầng thương mại; các ấn phẩm để phổ biến kết quả điều tra, khảo sát, phổ biến pháp luật, tập quán, thói quen mua sắm; tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về hàng hóa và dịch vụ Việt Nam đến người tiêu dùng trong nước qua các hoạt động truyền thông trên báo giấy, báo điện tử, truyền thanh, truyền hình, ấn phẩm và các hình thức phổ biến thông tin khác; đào tạo, tập huấn ngắn hạn về kỹ năng kinh doanh, tổ chức mạng lưới bán lẻ; hỗ trợ tham gia các khóa đào tạo chuyên ngành ngắn hạn cho các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành đặc thù; đào tạo kỹ năng phát triển thị trường trong nước cho các đơn vị chủ trì; hợp tác với các tổ chức, cá nhân nghiên cứu xây dựng chương trình phát triển thị trường trong nước).

    Mức hỗ trợ 70% áp dụng cho tổ chức các hoạt động bán hàng: thực hiện các chương trình đưa hàng Việt về nông thôn, các khu công nghiệp, khu đô thị thông qua các doanh nghiệp kinh doanh theo ngành hàng, hợp tác xã, tổ hợp tác xã cung ứng dịch vụ trên địa bàn theo các đề án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    Mức hỗ trợ 50% áp dụng cho các nội dung: Tổ chức các hội chợ, triển lãm hàng tiêu dùng tổng hợp hoặc vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, giới thiệu các sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam đến người tiêu dùng theo quy mô thích hợp cho từng địa phương; Hỗ trợ công tác quy hoạch, quản lý, vận hành cơ sở hạ tầng thương mại; Tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại thị trường trong nước tổng hợp: tháng khuyến mại, tuần “hàng Việt Nam”, chương trình “hàng Việt” chương trình giới thiệu sản phẩm mới, bình chọn sản phẩm Việt Nam được yêu thích nhất theo tháng, quý, năm theo các đề án được Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt.

    Bên cạnh đó, hỗ trợ kinh phí cho người của đơn vị chủ trì đi theo đoàn thực hiện công tác tổ chức đối với hoạt động tổ chức, tổ chức tham gia hội trợ triển lãm thương mại tại nước ngoài và tổ chức đoàn khảo sát thị trường, giao dịch với tổ chức, doanh nghiệp ở nước ngoài: Hỗ trợ công tác phí cho 1 người của đơn vị chủ trì đo theo đoàn thực hiện công tác tổ chức đối với đoàn có dưới 8 doanh nghiệp, hỗ trợ 2 người cho đoàn có từ 8-15 doanh nghiệp, hỗ trợ 3 người cho đoàn có từ 16-30 doanh nghiệp, và 4 người cho đoàn có từ 31-50 doanh nghiệp và 5 người cho đoàn từ 51 doanh nghiệp trở lên.

     

                                                                                                                      Theo: Minh Hiển (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • Tăng hơn 900 đồng, giá xăng E5 RON92 vượt 17.200 đồng mỗi lít

    Tăng hơn 900 đồng, giá xăng E5 RON92 vượt 17.200 đồng mỗi lít

    Từ 15 giờ ngày 2-3, xăng E5 RON92 có giá mới là 17.211 đồng/lít và xăng RON95-III là 18.549 đồng/lít. Trong khi đó, dầu diesel 0.05S có giá trần là 15.868 đồng/lít, dầu hỏa là 14.885 đồng/lít.

    Xăng và các mặt hàng dầu trong nước đồng loạt tăng mạnh sau khi áp dụng Quỹ bình ổn (BOG). Đây là quyết định của liên bộ Công Thương-Tài chính trong kỳ công bố giá cơ sở hôm nay (2-3)

    Theo đó, xăng E5 RON92 tăng 939 đồng/lít, xăng RON95-III tăng 946 đồng/lít, dầu diesel 0.05S tăng 959 đồng/lít, dầu hỏa tăng 700 đồng/lít và dầu mazút 3.5S tăng 808 đồng/kg.

    Nhân viên Petrolimex đang bán xăng cho khách hàng. 

                                                      Nhân viên Petrolimex đang bán xăng cho khách hàng. 

    Liên quan đến Quỹ bình ổn, trong lần điều chỉnh này, mức trích lập vẫn như kỳ công bố trước. Trong khi đó, chi sử dụng Quỹ bình ổn có sự thay đổi.

    Cụ thể, với xăng E5 RON92 có mức chi mới là 2.000 đồng/lít; xăng RON95 là 1.250 đồng/lít; dầu diesel là 1.354 đồng/lít; dầu hỏa là 1.078 đồng/lít và dầu mazút là 1.400 đồng/kg.

    “Việc trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn đối với các mặt hàng xăng dầu áp dụng từ 15 giờ ngày 2-3, trong khi việc điều chỉnh giá bán do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu quy định nhưng không sớm hơn thời gian trên,” công văn của liên bộ nêu rõ.

    Sau khi trích lập BOG, xăng E5 RON92 có giá trần là 17.211 đồng/lít và xăng RON95-III là 18.549 đồng/lít. Trong khi đó, dầu diesel 0.05S có giá trần là 15.868 đồng/lít, dầu hỏa là 14.885 đồng/lít và dầu mazút 3.5S là 14.083 đồng/kg.

    Trước đó, giá xăng đi ngang 3 lần liên tiếp. Lần gần đây nhất, ngày 15-2, để giữ ổn định giá, mặt hàng xăng E5 RON92 đã phải chi sử dụng Quỹ bình ổn là 1.932 đồng/lít; xăng RON95 là 1.171 đồng/lít; dầu diesel là 1.354 đồng/lít; dầu hỏa là 1.078 đồng/lít và dầu mazút là 1.699 đồng/kg.

    Trong khi mức trích lập quỹ bình ổn xăng E5 RON92 là 0 đồng/lít; xăng RON95 là 300 đồng/lít; dầu diesel là 300 đồng/lít; dầu hỏa là 300 đồng/lít và dầu mazút là 300 đồng/kg.

    Theo Nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Biểu thuế bảo vệ môi trường, từ 1-1-2019, thuế bảo vệ môi trường đối với xăng (trừ etanol) là 4.000 đồng/lít, dầu diesel là 2.000 đồng/lít, dầu hỏa là 1.000 đồng/lít, dầu mazút là 2.000 đồng/lít.

     

     

  • Việt Yên: Tháo gỡ vướng mắc trong giao đất dịch vụ

    Việt Yên: Tháo gỡ vướng mắc trong giao đất dịch vụ

    (BGĐT) – Nhằm giúp người dân sớm ổn định cuộc sống sau thu hồi đất phát triển công nghiệp, UBND huyện Việt Yên (Bắc Giang) và các đơn vị liên quan đã tích cực vào cuộc giải quyết vướng mắc, sớm giao đất dịch vụ (ĐDV) cho các hộ. Nhờ đó, nhiều khu kinh doanh dịch vụ đã hình thành, góp phần phát triển đô thị, nâng cao chất lượng đời sống người dân trên địa bàn.  

    Diện mạo mới

    Những ngày này về xã Quang Châu, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi các khu ĐDV vốn trước đây chỉ là đồng cỏ chưa có hạ tầng đường, điện, nước sinh hoạt thì nay đã trở thành điểm kinh doanh sầm uất phục vụ nhu cầu người lao động tại các khu công nghiệp (KCN). Theo UBND xã Quang Châu, đến nay, toàn xã đã ghép lô, giao 1.768/1.805 lô ĐDV cho người dân, số còn lại chủ yếu là của các hộ có diện tích được hưởng nhỏ, chưa thể ghép tên theo quy định. Ông Nguyễn Tài Hải, Chủ tịch UBND xã Quang Châu cho biết, theo quy định, kinh phí san lấp mặt bằng, đầu tư hạ tầng kỹ thuật… do các hộ tự đóng góp nên không đủ để xây dựng hạ tầng cho người dân sử dụng. Từ thực tế này, UBND tỉnh đã hỗ trợ xã 10,5 tỷ đồng, UBND xã đầu tư thêm 29,5 tỷ đồng xây dựng hơn 10 km đường bê tông tại các khu, tạo điều kiện cho người dân phát huy hiệu quả dự án.

    Người dân thôn Đạo Ngạn, xã Quang Châu xây dựng hạ tầng kỹ thuật tại khu đất dịch vụ.

                           Người dân thôn Đạo Ngạn, xã Quang Châu xây dựng hạ tầng kỹ thuật tại khu đất dịch vụ.

    Tương tự, UBND xã Tăng Tiến cũng đã hoàn thành thu hồi đất, đầu tư hạ tầng khu ĐDV rộng 6,7 ha, tổng giá trị hơn 40 tỷ đồng, cấp 169 lô đất cho 496 hộ dân. Đến nay, người dân đã xây dựng nhà trọ, điểm kinh doanh lấp kín diện tích. Ông Nguyễn Văn Thành, thôn Phúc Long chia sẻ, ngay khi được cấp ĐDV, gia đình ông đầu tư hơn 10 tỷ đồng xây dựng 60 phòng trọ, mở cửa hàng tạp hóa phục vụ công nhân. Những năm gần đây, lượng khách luôn kín phòng, gia đình ông thu nhập bình quân hơn 50 triệu đồng/tháng. Việc cấp ĐDV tại các xã Vân Trung, Hồng Thái và thị trấn Nếnh cũng cơ bản hoàn thành, giúp hình thành các điểm kinh doanh cafe, dịch vụ ăn uống, giải trí khang trang. Nhìn chung, các khu ĐDV đã trở thành điểm nhấn phát triển thương mại, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người lao động, giúp các hộ dân địa phương chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống sau thu hồi đất.

    Hoàn thành trong năm nay

    Chủ trương cấp ĐDV sau thu hồi đất nông nghiệp là đúng, đáp ứng nhu cầu, điều kiện thực tế trên địa bàn huyện. Huyện ủy và các cơ quan liên quan của huyện Việt Yên luôn coi đây là nhiệm vụ trọng tâm phải hoàn thành. Tuy vậy, trong quá trình triển khai vẫn gặp không ít khó khăn từ người dân. Theo UBND huyện, toàn huyện đã ban hành quyết định thu hồi đất, thực hiện 10 khu ĐDV tại các xã Quang Châu, Vân Trung, thị trấn Nếnh, Hoàng Ninh, Hồng Thái và Tăng Tiến, tổng diện tích hơn 88,6 ha, tương đương hơn 4,5 nghìn lô ĐDV.

    Đến nay, đã có 9/10 khu cơ bản hoàn thành việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng (GPMB), đầu tư hạ tầng, tổng diện tích đã giao cho người dân sử dụng hơn 3,8 nghìn lô, đạt tỷ lệ 94,8%. Hiện chỉ còn khu ĐDV tại các thôn Hoàng Mai 1,2,3, xã Hoàng Ninh rộng 8,31 ha, tương đương 372 lô đất chưa thể triển khai vì vướng mặt bằng. Lý do người dân đưa ra là giá bồi thường thấp, yêu cầu áp dụng chính sách ĐDV đối với diện tích đang thu hồi. Thậm chí nhiều hộ còn lợi dụng chủ trương trên để gây áp lực không cho triển khai các dự án xây dựng nhà ở công nhân trên địa bàn vì sợ phòng trọ của gia đình ế khách…

    Trước thực tế trên, Huyện ủy, UBND huyện Việt Yên đã thành lập các tổ công tác liên ngành gồm lãnh đạo các phòng, ban, hội, đoàn thể, tổ chức chính trị, xã hội tại đia phương vào cuộc cùng cấp ủy Đảng, chính quyền xã, thôn đến từng hộ tuyên truyền, vận động. Tháng 12-2018, lãnh đạo Huyện ủy Việt Yên hai lần trực tiếp đối thoại với các hộ dân. Những thắc mắc liên quan cũng đã nhiều lần được cơ quan chức năng giải đáp thỏa đáng, vị trí xây dựng khu ĐDV cũng được lựa chọn thực hiện trong Khu đô thị Đình Trám – Sen Hồ (hiện đã đồng bộ hạ tầng kỹ thuật như đường giao thông, điện chiếu sáng, hệ thông cấp, thoát nước kết nối với khu đô thị hiện đại). 

    Ông Lương Ngọc Đức, Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện khẳng định: “Các chính sách bồi thường, GPMB, phương án xây dựng ĐDV đã được áp dụng tối đa, có lợi nhất cho các hộ. Tổ công tác của huyện, xã cũng tích cực tuyên truyền, thể hiện rõ quyết tâm hoàn thành xây dựng, cấp ĐDV cho người dân trong năm 2019. Để hoàn thành mục tiêu trên, các hộ cần hợp tác cùng cơ quan chức năng giải quyết dứt điểm vướng mắc liên quan. Trường hợp cố tình không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thực hiện theo quy định”.

     

                                                                                                                                                                       Theo: Báo Bắc Giang

  • Tăng phí trước bạ với ôtô bán tải, pick-up từ tháng 4

    Tăng phí trước bạ với ôtô bán tải, pick-up từ tháng 4

    Thuế trước bạ với ôtô tải van, xe pick-up chở hàng sẽ tăng so với hiện hành và bằng 60% mức thu phí lần đầu với xe con.

    Nghị định 20/2019 sửa đổi, bổ sung quy định về tính lệ phí trước bạ vừa được Chính phủ ban hành đã thay đổi cách tính loại lệ phí này với xe tải van, xe pick-up.

    Theo đó, những loại xe 5 chỗ ngồi trở xuống và có khối lượng chuyên chở cho phép dưới 1.500 kg, mức thu lệ phí trước bạ lần đầu sẽ bằng 60% ôtô con. Ở lần nộp lệ phí trước bạ lần thứ 2 trở đi, mức thu là 2% và áp dụng thống nhất trên toàn quốc. Mức đóng này cao hơn so với hiện hành. 

    Cụ thể, mức lệ phí trước bạ xe bán tải đang phải chịu là 2% và tới đây mức đóng này có thể cao hơn 3-4 lần. Chẳng hạn, phí trước bạ ôtô con là 10% thì mức phí với xe tải van sẽ là 6%, tăng gấp 3 so với hiện tại. Đồng nghĩa, số tiền nộp thêm tăng vài chục triệu đồng, tuỳ từng mẫu xe.

    Một mẫu xe bán tải của hãng Ford. 

    Một mẫu xe bán tải của hãng Ford. 

    Cũng theo Nghị định này, xe con vẫn có mức phí trước bạ lần đầu là 10%. Trường hợp cần áp dụng mức thu cao hơn cho phù hợp với điều kiện thực tế tại từng địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định điều chỉnh tăng nhưng tối đa không quá 50% quy định chung. Như vậy mức thu tối đa các tỉnh, thành phố có thể áp dụng là 15%. 

    Ngoài ra trong lần thay đổi này mức phí trước bạ với ôtô rơ moóc, sơ mi rơ moóc kéo… vẫn được giữ như hiện hành, 2%. 

    Về giá tính lệ phí trước bạ của ôtô, xe máy, Nghị định 20 quy định chi tiết trên nguyên tắc phù hợp với giá chuyển nhượng tài sản trên thị trường tại thời điểm xây dựng bảng giá tính lệ phí của cơ quan quản lý.

    Trường hợp phát sinh loại ôtô, xe máy mới mà tại thời điểm nộp tờ khai lệ phí trước bạ chưa có trong bảng giá tính thì cơ quan thuế quyết định giá tính lệ phí trước bạ của từng loại mới phát sinh.

    Còn trường hợp loại ôtô, xe máy chưa có trong bảng giá và giá chuyển nhượng trên thị trường tăng hoặc giảm từ 5% trở lên (thay vì mức 20% như quy định cũ), Cục thuế tổng hợp, báo cáo Bộ Tài chính trước ngày 5 của tháng cuối quý.

    Ở lần thay đổi này, cơ quan quản lý cũng quy định giá tính lệ phí trước bạ với tài sản mua theo phương thức trả góp là giá trả một lần (không gồm lãi trả góp). Và mức phí với tài sản mua theo phương thức xử lý tài sản xác lập sở hữu toàn dân (tài sản tịch thu) là giá trúng đấu giá của tài sản hoặc do cơ quan có thẩm quyền quyết định với tài sản mua theo hình thức chỉ định hoặc niêm yết giá và gồm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, giá trị gia tăng (nếu có).

     

                                                                                                                                                             Theo: Anh Minh (VnExpress)

  • 4 xu hướng bán lẻ dự báo tăng nhiệt tại Việt Nam

    4 xu hướng bán lẻ dự báo tăng nhiệt tại Việt Nam

    Bán lẻ theo chuỗi được dự báo là mảnh đất màu mỡ, đầy tiềm năng tại Việt Nam với mức tăng trưởng 20 – 30% mỗi năm.

    Tại hội thảo Tương lai của bán lẻ Việt Nam do Tập đoàn Vingroup tổ chức ngày 28/2 nhiều chuyên gia đã chỉ ra hàng loạt những xu hướng bán lẻ đã và đang dẫn dắt thị trường.

    Bán lẻ theo chuỗi

    Chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam, Đinh Thị Mỹ Loan cho biết, mở rộng chuỗi là xu thế tất yếu của các đơn vị kinh doanh bán lẻ. Hiện dư địa tăng trưởng của mô hình này vẫn còn lớn tại thị trường Việt Nam. Bà Loan cho hay, kinh doanh theo chuỗi tại nhiều tỉnh thành phát triển trong nước đang có mức tăng trưởng  20 – 30% mỗi năm.

    Theo chuyên gia này, Việt Nam vẫn còn nhiều không gian để bán lẻ theo chuỗi bứt phá mạnh mẽ. Hậu phương vững chắc của mô hình bán lẻ theo chuỗi là quy mô dân số hơn 90 triệu dân. Tuy nhiên, vấn đề sống còn đối với việc bán lẻ theo chuỗi chính là lựa chọn mặt bằng hiệu quả.

    Bên trong một khu mua sắm phía Nam TP HCM. Ảnh: Vũ Lê

    Bên trong một khu mua sắm phía Nam TP HCM. Ảnh: Vũ Lê

    Bán lẻ trực tuyến kết hợp với cửa hàng offline

    Theo bà Rebecca Pearson, Phó giám đốc Công ty CBRE châu Á, 90% những người mua sắm ở khu vực châu Á Thái Bình Dương (trong đó có Việt Nam) sẽ mua nhiều hơn nếu họ đến cửa hàng thực thể (cửa hàng offline) nhận những mặt hàng đã đặt trực tuyến. Các cửa hàng thực thể này nên được đầu tư có vị trí thuận tiện để kết nối với người mua.

    Khách hàng hiện đại thích đặt hàng online nhưng mong muốn được đến tận cửa hàng để chạm, sờ, cảm nhận sản phẩm… trước khi nhận hàng. Các thương hiệu lớn và cả các nhà kinh doanh trực tuyến lớn như Everlane, Amazon, Habitat… đều mở cửa hàng thực thể. Ví dụ Uniqlo đã tăng doanh thu 40% nhờ các cửa hàng thực thể này.

    Xu hướng hiệu nay các nhà bán lẻ trực tuyến mở các cửa hàng thực thể (cửa hàng offline) để trưng bày, cho khách hàng trải nghiệm sản phẩm và tăng hiệu quả kinh doanh. Các doanh nghiệp hãy nắm bắt và áp dụng công nghệ tại cửa hàng, đừng quan tâm quá nhiều đến cái nhập chuột.

    Bán lẻ bổ sung trải nghiệm thực tế

    Tại hội thảo, ông Geoffrey Morrison, sáng lập, kiêm Giám đốc điều hành Concept I cho rằng trải nghiệm thực tế là cánh cửa dẫn đến thị trường bán lẻ sôi động. Xu hướng tăng đầu tư để gia tăng tương tác kỹ thuật số trong hệ thống bán lẻ đang là bài toán sống còn. Thế nhưng các trải nghiệm mua sắm mới chính là con át chủ bài. Vì vậy, cần có sự phân biệt khách hàng thường xuyên và vãng lai để mở rộng các trải nghiệm mới mẻ, tạo điều kiện kích cầu.

    Bán lẻ 4.0 song hành với truyền miệng

    Ông Chris Dobson, Phó Chủ tịch Viện thiết kế Bán lẻ nhận định, dù nền tảng công nghệ đã phát triển và được ứng dụng ngày càng đa dạng vào thị trường bán lẻ nhưng truyền miệng vẫn là kênh phân phối nặng ký. Thị trường đang diễn biến theo chiều hướng 50% mua sắm đựa trên trải nghiệm và 80% mua sắm bằng cách truyền miệng. Các trao đổi của chính khách hàng với nhau sau khi trải nghiệm tại cửa hàng sẽ được kể lại cho bạn bè, người thân… và điều đó giúp việc mua sắm sôi động hơn.

     

                                                                                                                                                                  Theo: Vũ Lê (VnExpress)

  • Điện mặt trời áp mái: Nhiều tiềm năng phát triển

    Điện mặt trời áp mái: Nhiều tiềm năng phát triển

    VOV.VN – Phát triển các dự án năng lượng mặt trời trong đó có điện mặt trời áp mái được xem là một trong những giải pháp góp phần giảm áp lực cho ngành điện.

    Ngày 27/2, tại Hà Nội, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã tổ chức Hội thảo “Thúc đẩy phát triển điện mặt trời áp mái tại Việt Nam” với sự tham dự của đại diện lãnh đạo Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) và đại diện lãnh đạo các ngân hàng, nhà đầu tư, cơ quan tổ chức, đơn vị cung cấp dịch vụ tiện ích từ năng lượng sạch hàng đầu tại Việt Nam.

    Trong bối cảnh hệ thống điện đang chịu nhiều áp lực về bảo đảm cung ứng điện, đặc biệt sau năm 2020 khi cả nước không có nguồn khai thác mới, việc phát triển các dự án năng lượng mặt trời trong đó có điện mặt trời áp mái được xem là một trong những giải pháp góp phần giảm áp lực cho ngành điện.

                                         som hoan thien co che cho phat trien dien mat troi hinh 1                                 

                                                         Hội thảo “Thúc đẩy phát triển điện mặt trời áp mái tại Việt Nam”

    Với mục tiêu phát triển điện mặt trời đạt 1GWp vào năm 2020, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25/11/2015 phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam (Quyết định 11).

    Bộ Công Thương cũng đã ban hành Thông tư 16/2017/TT-BCT ngày 12/9/2017 quy định về phát triển dự án và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời (Thông tư 16).

    Để gỡ vướng cho điện mặt trời áp mái về các vấn đề liên quan thuế, bù trừ điện năng, cách thức thanh toán…, ngày 8/1, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 02/2019/QĐ-TTg sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định 11. Hiện tại, Bộ Công Thương cũng đã gửi dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 16 xin ý kiến các bộ, ngành. Các chính sách này đã mở ra nhiều cơ chế khuyến khích cho thị trường điện mặt trời tại Việt Nam.

    Hội thảo “Thúc đẩy phát triển điện mặt trời áp mái tại Việt Nam” là một trong những hoạt động quan trọng của EVN trong lĩnh vực kinh doanh, nhằm phổ biến, triển khai tiếp cận các cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng, phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam nói chung và điện mặt trời áp mái nói riêng; trao đổi, chia sẻ, cập nhật công nghệ, kỹ thuật, giải pháp phát triển điện mặt trời áp mái dành cho mọi đối tượng khách hàng từ cơ quan, công sở của nhà nước tới các khách hàng doanh nghiệp và hộ gia đình.

    Thông qua Hội thảo, EVN đề xuất một số kiến nghị để phát triển các dự án điện mặt trời áp mái tại các tỉnh, thành phố có tiềm năng về bức xạ mặt trời. Đó là kiến nghị Chính phủ xem xét cơ chế hỗ trợ các hộ gia đình một phần kinh phí đầu tư ban đầu lắp đặt điện mặt trời áp mái; có cơ chế cho các nhà đầu tư (bên thứ 3) tham gia vào đầu tư.

    Kiến nghị Bộ Công Thương sớm ban hành Thông tư sửa đổi Thông tư 16 để EVN và các đơn vị điện lực chính thức ký kết hợp đồng và thanh toán tiền điện cho khách hàng; xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật điện mặt trời áp mái đảm bảo chất lượng, an toàn và hiệu quả cho khách hàng cũng như hệ thống lưới điện; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời nói chung và điện mặt trời áp mái nói riêng sau ngày 30/6/2019.

    Kiến nghị các nhà tài trợ, ngân hàng, nhà đầu tư, sản xuất, các tổ chức quốc tế và trong nước tham gia sâu rộng vào thị trường điện mặt trời tại Việt Nam, cung cấp các giải pháp, gói dịch vụ hấp dẫn khuyến khích khách hàng đầu tư và sử dụng điện mặt trời áp mái…

    Thực hiện chỉ đạo của EVN về việc tiên phong triển khai lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái, tính đến cuối năm 2018, các đơn vị trực thuộc đã lắp đặt được 54 công trình với tổng công suất 3,2 MWp. Đối với khách hàng (công sở, doanh nghiệp, hộ gia đình…), các Tổng Công ty Điện lực và Công ty điện lực đã ký kết thực hiện đấu nối, lắp đặt công tơ hai chiều, xác nhận chỉ số công tơ và sản lượng điện năng giao nhận với 1800 khách hàng đăng ký bán điện mặt trời áp mái với tổng công suất 30,12 MWp, sản lượng điện năng phát lên lưới lũy kế là 3,97. triệu kWh.

     

                                                                                                                                                  Theo: Thu Hiền (Báo Điện Tử VOV)

  • “Trải thảm” cho doanh nghiệp khoa học công nghệ: Muộn còn hơn không

    “Trải thảm” cho doanh nghiệp khoa học công nghệ: Muộn còn hơn không

    VOV.VN – Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, ưu đãi tín dụng… được coi là những nỗ lực của Chính phủ quyết không lỡ chuyến tàu 4.0.

    Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 13/2019 ưu tiên các doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN), theo đó doanh nghiệp sản xuất, ứng dụng sản phẩm khoa học và công nghệ sẽ được miễn nhiều loại thuế, cho vay vốn và nhiều biệt đãi về thuê đất đai…

    "trai tham" cho doanh nghiep khoa hoc cong nghe: muon con hon khong hinh 1

    Nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp KH&CN theo Quyết định số 13/2019.

    Nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp

    Cụ thể, Chính phủ sẽ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập của doanh nghiệp KH&CN từ hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hình thành từ kết quả KH&CN được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

    Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này sẽ được miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.

    Doanh nghiệp KH&CN được miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định của pháp luật về đất đai.

    Về ưu đãi tín dụng cho doanh nghiệp KH&CN, các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hình thành từ kết quả KH&CN của doanh nghiệp khoa học và công nghệ được vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành.

    Các doanh nghiệp sẽ được Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tài trợ, cho vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay và bảo lãnh để vay vốn.

    Doanh nghiệp KH&CN có dự án khả thi được Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc bảo lãnh để vay vốn tại các ngân hàng thương mại.

    Ngoài ra, doanh nghiệp KH&CN được hưởng ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

    Doanh nghiệp được ưu tiên, không thu phí dịch vụ khi sử dụng máy móc, trang thiết bị tại các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp KH&CN sẽ được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật về lệ phí trước bạ…

    "trai tham" cho doanh nghiep khoa hoc cong nghe: muon con hon khong hinh 2

    Ông Nguyễn Thịnh, Trưởng Ban thị trường, Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam.

    Theo giới chuyên gia, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về vai trò của KH&CN trong phát triển kinh tế là rõ ràng nhưng đi vào cuộc sống đang còn khoảng cách. Một số nơi còn tầm thường hóa KH&CN.

    Ông Nguyễn Thịnh, Trưởng Ban thị trường, Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam cho biết, trước khi quyết định 13/2019 ra đời, mặc dù cũng có chủ trương ưu tiên phát triển KH&CN nhưng thiếu cụ thể nên rất khó để tới được doanh nghiệp. Chẳng hạn như trong lĩnh vực cơ khí chế tạo và công nghiệp hỗ trợ. Đây có thể coi là thị trường lớn nhất của Việt Nam khi ngay nhu cầu nội địa cũng khoảng 40 tỷ USD nhưng thị phần doanh nghiệp Việt chiếm lĩnh mới đạt khoảng 30-40%.

    “Các chủ đầu tư các dự án có vốn trong nước chưa tạo điều kiện cho các nhà thầu trong nước tham gia các gói thầu. Có dự án, Việt Nam hoàn toàn làm chủ về công nghệ để triển khai thì lại để đối tác nước ngoài, thậm chí công nghệ còn lạc hậu hơn”, ông Thịnh cho hay.

    Ông Đoàn Quốc Long, Giám đốc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Ngân hàng PNB Paribas đánh giá, Việt Nam là một trong số những quốc gia có sự tiếp cận khá nhanh và cởi mở đối với công nghệ mới.

    “Trong bối cảnh hiện nay, bất cứ quốc gia nào, doanh nghiệp nào không muốn đổi mới sáng tạo, cập nhật công nghệ mới là tự đào thải mình. Những người đứng đầu của Việt Nam đều có chủ trương và quyết tâm bắt nhịp với cách mạng công nghiệp 4.0. Điều cần nhất hiện nay là đường lối thực hiện rõ ràng và kèm với đó là quyết tâm thực hiện đến cùng không chỉ đối với cơ quan quản lý, mà còn cả với giới khoa học và doanh nghiệp”, ông Long phân tích.

    Theo TS Hồ Ngọc Luật, chuyên gia tư vấn Ban quản lý Tiểu dự án FIRST-NASATI, Bộ KH&CN, “trải thảm” cho các doanh nghiệp KH&CN hiện giờ tuy là chậm, nhưng cũng vô cùng cần thiết và là món quà đáng quý cho doanh nghiệp.

     “Trong năm qua, một loạt động thái từ các doanh nghiệp, tập đoàn lớn của Việt Nam trong việc đầu tư, phát triển KH&CN cũng như nhiều hoạt động ứng dụng vào nông nghiệp, logistics, tài chính… đã cho thấy việc nhận thức của các đơn vị, tổ chức với KH&CN đã có bước tiến lớn đáng ghi nhận. Với những hỗ trợ cụ thể mới, thị trường KH&CN cũng như hoạt động của doanh nghiệp KH&CN trong thời gian tới sẽ sôi động hơn”, ông Luật cho biết.

     

                                                                                                                                                   Theo: Vân Anh (Báo Điện Tử VOV)

  • FDI cũng có nhiều doanh nghiệp ‘vốn mỏng’

    FDI cũng có nhiều doanh nghiệp ‘vốn mỏng’

    (Chinhphu.vn) – Chiều 28/2, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cùng lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương và Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đã làm việc tại Bộ Tài chính về thực trạng tài chính của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI), chính sách ưu đãi thuế, tài chính với khối doanh nghiệp này hiện nay.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu tại cuộc họp – Ảnh: VGP/Thành Chung

    Đây là cuộc họp cuối cùng trong chuỗi hoạt động dài một tháng qua của Phó Thủ tướng với các địa phương nhằm định hướng chính sách thu hút, sử dụng FDI trong giai đoạn 10 năm tới của đất nước.

    Bên cạnh những vấn đề liên quan tới phát huy vai trò của FDI đối với nền kinh tế trong nước, khắc phục những bất cập trong giải quyết các tồn tại của đô thị, xã hội và chuyển giao công nghệ, các thủ tục, quy trình mở rộng đầu tư dự án…, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu Bộ Tài chính và các bộ, ngành làm rõ các cơ chế tài chính mà chủ yếu là thuế để cơ cấu lại việc thu hút FDI theo ngành, lĩnh vực; xử lý tình trạng doanh nghiệp FDI “vốn mỏng nhưng tay không bắt giặc”, đầu tư núp bóng…

    Thứ trưởng Bộ Tài chính Huỳnh Quang Hải cho biết có 21.400 doanh nghiệp FDI hoạt động trên cả nước (chiếm khoảng 3% tổng số doanh nghiệp). Tổng hợp báo cáo tài chính của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài từ năm 2011- 2017 cho thấy quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh duy trì mức tăng trưởng cao về doanh thu và lợi nhuận. Riêng năm 2017, doanh thu tăng 28% so với năm 2016, cao hơn tốc độ tăng tài sản (22%) và tốc độ tăng vốn chủ sở hữu (14%) cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI rất thuận lợi.

    Đánh giá về vai trò của doanh nghiệp FDI đối với nền kinh tế, Bộ Tài chính nhận định khối này đã đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất nhập khẩu (chiếm trên 70%), thu ngân sách nhà nước (chiếm 15%).

    Bên cạnh đó, hạn chế là cơ cấu ngành/vùng của FDI chưa phù hợp, mới tập trung vào ngành sử dụng nhiều lao động, giá trị gia tăng không cao, ở các vùng có điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi chưa vào các vùng khó khăn. Tỷ lệ doanh nghiệp báo lỗ và lỗ mất vốn qua các năm tăng cao và chưa có dấu hiệu giảm. Trong 3 năm gần đây, tỷ lệ doanh nghiệp FDI báo lỗ là trên 50%, tình trạng chuyển giá ngày càng phức tạp.

    Ngay cả tốc độ tăng 7% về số nộp ngân sách của khối FDI thấp hơn tốc độ tăng về lợi nhuận trước thuế (19,2%) và lợi nhuận sau thuế (22%). Bộ Tài chính lý giải nguyên nhân là doanh nghiệp FDI được hưởng nhiều ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp khi đầu tư lớn về các ngành, lĩnh vực ưu đãi và đặc biệt ưu đãi đầu tư.

    Hiện nay, ưu đãi tài chính của Việt Nam tập trung vào 3 lĩnh vực: Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu và ưu đãi tài chính đất đai. Bên cạnh các tác dụng theo bản chất chính sách thuế, Bộ Tài chính cũng cho rằng vẫn còn tồn tại, hạn chế. Đó là mức ưu đãi cao, diện ưu đãi rộng đã làm suy giảm nguồn thu ngân sách ví dụ các ưu đãi thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số phải nộp trong 9 năm tiếp theo và một số trường hợp được áp dụng mức thuế 10% trong suốt thời gian thực hiện dự án (trong khi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp phổ thông là 20%).

    Mặc dù áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế nhưng khu vực FDI đang được hưởng ưu đãi nhiều hơn các thành phần doanh nghiệp khác: Tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp FDI được miễn, giảm trên tổng số thuế được miễn giảm là 76%. Tỷ lệ về thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn, giảm của doanh nghiệp FDI trên tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tính theo thuế suất phổ thông là 48%, trong khi tỷ lệ này của doanh nghiệp nhà nước là 4,8%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 14%.

    Ảnh: VGP/Thành Chung

    Bên cạnh đó, chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam không ổn định nên doanh nghiệp không dự tính được hiệu quả kinh doanh trong dài hạn, làm khó thu hút FDI; một số ngành thực hiện ưu đãi thuế chưa đạt được mục tiêu phát triển nội địa hoá và công nghệ cao…

    Bộ Trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đặt vấn đề: “Tại sao 52% doanh nghiệp FDI báo lỗ mà vẫn mở rộng hoạt động và tốc độ mở rộng cao hơn. Cái này rất quan trọng, chúng tôi sẽ báo cáo cả Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hiện vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp FDI là 1,5 triệu tỷ đồng và tổng tài sản 5 triệu tỷ đồng là con số rất lớn thì người ta bỏ vốn thực không, tổng tài sản thực không? Samsung họ nói đã đầu tư 15 tỷ USD thì ta tính thế nào cho đúng 15 tỷ USD, trong khi đó họ cứ khấu hao tài sản thôi”.

    Ông Dũng cũng chỉ ra hiện nay ở miền Trung có khu kinh tế được đầu tư hạ tầng đồng bộ sân bay, cảng biển, đường cao tốc giúp vùng này không còn khó khăn nữa nhưng doanh nghiệp đầu tư vào vẫn được hưởng khung chính sách cũ, ưu đãi hơn cả đầu tư ở Hà Nội. Do đó, Bộ trưởng Tài chính đặt vấn đề khó có thể thu hút được doanh nghiệp FDI đầu tư vào các vùng khó khăn khác như Tây Nguyên, phía bắc,…

    “Ngoài ra, chính sách ưu đãi thuế hiện nay quá phức tạp, vừa ưu đãi ngành nghề, vừa ưu đãi theo lĩnh vực hoạt động, dự án đầu tư, khu công nghiệp, sản phẩm, quy mô dự án, số lượng lao động nữ… cũng phải đánh giá lại nghiêm túc hơn”, vẫn theo ông Đinh Tiến Dũng.

    Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cũng dẫn số liệu đáng chú ý về tình trạng doanh nghiệp FDI vốn mỏng “tay không bắt giặc”. Qua kiểm soát 140 doanh nghiệp có vốn vay gấp trên 4 lần vốn chủ sở hữu, bà Hồng cho biết 100% số doanh nghiệp này đều là FDI, cá biệt có doanh nghiệp có tỷ lệ gấp hàng trăm lần như Samsung Display, Capitalland Tower,…

    Trong khi đó, xem xét các hạng mục khác của cán cân thanh toán, bà Nguyễn Thị Hồng cho biết cổ tức chi cho các FDI ở Việt Nam rất lớn, khoảng 10 tỷ USD. Ngân hàng Nhà nước làm việc với Tổng cục thống kê để làm rõ hơn các số liệu liên quan.

    Đánh giá cao các ý kiến phát biểu của các bộ, ngành, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhận định chính sách ưu đãi thuế, ưu đãi sử dụng đất cần xác định qua các thời kỳ khác nhau, không thể áp dụng như cũ. Tính toán thu hút FDI trong bối cảnh công nghệ phát triển mạnh mẽ và tính toán áp dụng các giải pháp chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước.

    Việt Nam cần có cơ chế ưu đãi linh hoạt hơn, kể cả biện pháp phi tài chính để thu hút các dự án lớn quan trọng từ các tập đoàn đa quốc gia, nhất là các tập đoàn đa quốc gia đặt trụ sở chính, trung tâm đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Chú trọng hoàn thiện chính sách về sử dụng đất trong và ngoài khu công nghiệp, nâng cao hiệu suất đầu tư trên 1 ha đất sử dụng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng đầu tư và bảo đảm nhu cầu phát triển đô thị, xã hội.

    Phó Thủ tướng cho rằng Việt Nam cần có cơ chế kiểm soát doanh nghiệp FDI nâng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn đầu tư, khuyến khích họ tăng vốn chủ, giảm vốn vay khắc phục tình trạng vốn mỏng, cũng như cơ chế kiểm soát tài sản hình thành sau đầu tư để khắc phục tình trạng chuyển giá. Xây dựng hệ thống chuyên biệt trong Thanh tra thuế để xử lý tình trạng chuyển giá hiệu quả hơn; xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin quốc gia chia sẻ thông tin FDI từ đăng ký, đầu tư mở rộng, doanh thu, lợi nhuận, chi phí.

    Sau buổi làm việc này, Ban soạn thảo sẽ xây dựng dự thảo Đề án định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài đến năm 2030 để Ban cán sự Đảng Chính phủ cho ý kiến, trước khi trình Bộ Chính trị vào tháng 4/2019.

     

                                                                                                                 Theo: Thành Chung (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • Xuất khẩu từ Việt Nam sang Mỹ liên tục tăng mạnh

    Xuất khẩu từ Việt Nam sang Mỹ liên tục tăng mạnh

    VOV.VN -Hai tháng đầu năm 2019, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 8,1 tỷ USD, tăng 34,4% so với cùng kỳ năm trước.

    Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam

    Số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê cho thấy, 2 tháng đầu năm 2019, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 8,1 tỷ USD, tăng 34,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 127,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 42,5%; hàng dệt may tăng 21%.

    Trước đó, trong tháng 01/2019, kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường Mỹ đạt hơn 5 tỉ USD, tăng hơn 42% so với cùng kỳ năm trước

    Theo Tổng cục Hải quan, trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2018, thương mại hàng hóa Việt Nam – Mỹ đã tăng gấp 3 lần, từ mức tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 18,01 tỷ USD ghi nhận trong năm 2010 lên mức 60,28 tỷ USD trong năm 2018.

    Tốc độ tăng xuất nhập khẩu giữa hai nước bình quân trong giai đoạn này đạt 16,3%/năm. Đáng chú ý: trong năm 2011 tăng 19,2% so với năm trước, trong năm 2014 tăng 20,2%, trong năm 2015 tăng 18,1%, và trong năm 2018 tăng 18,3%.

    xuat khau tu viet nam sang my lien tuc tang manh  hinh 1

    Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam – Mỹ giai đoạn 2010-2018

    Tốc độ tăng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Mỹ trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2018 bình quân đạt 16,3%/năm, từ mức 14,24 tỷ USD trong năm 2010 thì đến 2018 đạt 47,53 tỷ USD. Nổi bật: trong năm 2011 tăng 18,9%, năm 2013 tăng 21,3%; năm 2014 tăng 20,1%.

    Ở chiều ngược lại, tốc độ tăng của hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ Mỹ vào Việt Nam cũng có mức tăng bình quân 16,5%/năm, từ mức 3,77 tỷ USD trong năm 2010 lên mức 12,75 tỷ USD trong năm 2018. 

    Việt Nam luôn có thặng dư cán cân thương mại với Mỹ

    Cán cân thương mại hàng hóa Việt Nam với Mỹ trong năm 2018 đạt thặng dư gần 34,8 tỷ USD, bằng 73,2% trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ.

     xuat khau tu viet nam sang my lien tuc tang manh  hinh 2

    Cán cân thương mại giữa Việt Nam với Mỹ và đối tác thương mại lớn khác trong giai đoạn 2012-2018

    Theo số liệu thống kê trong Cơ sở Thống kê dữ liệu Thương mại của Cơ quan Thống kê Liên Hợp quốc, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của Mỹ trong năm 2017 đạt 1.784 tỷ USD ra thị trường thế giới, trong đó Việt Nam là nước nhập khẩu hàng hóa lớn thứ 31 của Mỹ, chỉ chiếm 0,5% trong tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của Mỹ.

    Cũng theo nguồn số liệu này, trong năm 2017, Mỹ nhập khẩu hàng hóa trị giá lên đến 2.407 tỷ USD từ tất cả đối tác thương mại, trong đó hàng hóa từ Việt Nam xếp vị trí thứ 12, chiếm tỷ trọng 2% trong tổng trị giá nhập khẩu của Mỹ.

     

                                                                                                                                                                   Theo: Báo Điện Tử VOV

  • Thượng đỉnh Mỹ – Triều: Cơ hội lịch sử của Việt Nam

    Thượng đỉnh Mỹ – Triều: Cơ hội lịch sử của Việt Nam

    (Chinhphu.vn) – Trong một bài viết đăng trên trang Diễn đàn Đông Tây (Eastwest Forum) hồi tháng 3/2018, PGS.TS Vũ Minh Khương, Trường Lý Quang Diệu (Đại học Quốc gia Singapore) cho rằng, Hà Nội là một địa điểm lý tưởng để tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ – Triều Tiên.

    PGS.TS Vũ Minh Khương.

    Ba lý do chính PGS.TS Vũ Minh Khương đưa ra là: Thứ nhất, nó là thông điệp chiến lược chứng tỏ lãnh đạo hai bên thực sự cam kết tạo ra bước ngoặt trong cải thiện quan hệ Mỹ – Triều; thứ hai, đó cho thấy, Việt Nam là một mô hình tốt để cả Triều tiên và Mỹ tham khảo trong nỗ lực biến thù cũ thành đồng minh chiến lược; và cuối cùng, nó mở ra khả năng Triều Tiên có thể tham khảo kinh nghiệm của Việt Nam cho quá trình hòa nhập vào cộng đồng quốc tế và cải cách kinh tế.

    Những nhận định của PGS.TS Vũ Minh Khương lúc đó từng gây ra nhiều phản ứng trái chiều, và Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ – Triều lần thứ nhất cũng đã diễn ra tại Singapore vào tháng 6/2018. Tuy nhiên, tám tháng sau, Hà Nội, Việt Nam giờ đây đứng trước cơ hội làm nên lịch sử khi được chọn làm địa điểm tổ chức Thượng đỉnh Mỹ – Triều lần thứ hai.

    Trả lời phỏng vấn báo điện tử Tổ quốc, PGS.TS Vũ Minh Khương nêu ý kiến của ông về những cơ hội của Việt Nam khi được chọn làm nước chủ nhà cho Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ – Triều lần này.

    Ông có thể cho biết những thay đổi về vị thế và kinh tế mà Việt Nam có thể kỳ vọng đạt được với việc trở thành nước chủ nhà của Thượng đỉnh Mỹ – Triều lần thứ hai?

    PGS.TS Vũ Minh Khương: Với việc được chọn là nước chủ nhà cho Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ – Triều lần thứ hai, Việt Nam đứng trước khả năng tạo nên bước tiến vượt bậc trên ba phương diện.

    Thứ nhất, vị thế và hình ảnh Việt Nam được nâng cao rõ rệt trên trường quốc tế. Nó thể hiện không chỉ ở năng lực tổ chức các sự kiện ở đẳng cấp cao nhất mà cả ở giá trị chiến lược mà Việt Nam, bằng lịch sử bi hùng của mình, có thể đóng góp làm thế giới tốt đẹp hơn.

    Thứ hai, với thương hiệu Việt Nam nổi lên qua sự kiện lịch sử và đầy nhân văn này, Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành một nơi lựa chọn đặc sắc mà khách du lịch và nhà đầu tư quốc tế quan tâm.

    Thứ ba, tổ chức thành công hội nghị thượng đỉnh này sẽ thôi thúc Việt Nam cải cách mạnh mẽ hơn nữa để thực sự là tấm gương không chỉ ở vượt lên quá khứ mà cả ở kiến tạo tương lai.

    Với một loạt sự kiện mang tầm cỡ thế giới đã diễn ra tại Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt là năm 2018, theo ông Việt Nam có thể hướng tới xây dựng thương hiệu như một điểm đến thích hợp cho việc tổ chức các hoạt động chính trị, kinh tế và xã hội mang tầm cỡ quốc tế, hay không? Và đâu sẽ là cơ hội và lợi thế của Việt Nam nếu làm vậy?

    PGS.TS Vũ Minh Khương: Đúng vậy. Việt Nam có tiềm năng vô cùng lớn để việc tổ chức các sự kiện mang tầm cỡ quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan đến đổi thay và phát triển. Để thành công trong khai thác tiềm năng này, Việt Nam cần lưu ý mấy vấn đề lớn sau.

    Thứ nhất, phải coi đây là một nỗ lực phát triển, nâng tầm vóc và vị thế đất nước, chứ không chỉ là nhằm thu hút du lịch. Làm sao để mọi người dân đều thấy cảm kích và có trách nhiệm với từng bước đi lên của đất nước mình.

    Thứ hai, cần có chiến lược rõ ràng: xác định rõ mục tiêu, biết rõ hiện giờ mình đang ở đâu và đâu là trở ngại chính mình cần phải vượt qua để đi đến đích mong muốn.

    Thứ ba, cần tạo ra một nền tương tác đề mọi cá nhân và tổ chức đều có thể tham gia đóng góp và không ngừng học hỏi vươn lên trong nỗ lực này.

    Cảm ơn PGS.TS Vũ Minh Khương!

     

                                                                                                                                         Theo: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ

  • Ngoạn mục giao thương Việt – Mỹ

    Ngoạn mục giao thương Việt – Mỹ

    (Chinhphu.vn) – Vài ngày trước khi Tổng thống Donald Trump tới Việt Nam, quả xoài của Việt Nam chính thức được phép xuất khẩu sang Hoa Kỳ sau gần 10 năm chờ đợi. Và sau 1/4 thế kỷ bình thường hóa quan hệ, kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng gần 120 lần, đạt hơn 60 tỷ USD trong năm 2018.

    • Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp Tổng thống Donald Trump. Hai nhà lãnh đạo đã chứng kiến lễ ký các văn bản hợp tác trị giá nhiều tỷ USD giữa các doanh nghiệp. Ảnh VGP/Nhật Bắc

    Chuyến công du Việt Nam kéo dài tới ngày 28/2 của Tổng thống Donald Trump được coi là một cơ hội để thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa hai nước. Như nhất trí giữa Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo chiều 26/2, hai bên sẽ tiếp tục coi hợp tác thương mại và đầu tư là động lực cho quan hệ song phương.

    Và sau buổi hội đàm sáng 27/2 giữa Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tại Phủ Chủ tịch, hai nhà lãnh đạo đã chứng kiến lễ ký kết các văn kiện hợp tác trị giá hàng chục tỷ USD giữa các doanh nghiệp hai bên.

    Trên thực tế, hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam – Hoa Kỳ đã liên tục có những tiến triển, không chỉ từ những hợp đồng lớn trị giá hàng tỷ USD mà còn với những thỏa thuận rất cụ thể, như sự kiện xoài Việt Nam nhận “visa” vào Mỹ vừa qua.

    Theo ông Hoàng Trung, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, Việt Nam chính thức gửi hồ sơ đăng ký xuất khẩu quả xoài tươi sang thị trường Hoa Kỳ từ năm 2009. Đến nay, sau gần 10 năm, xoài của Việt Nam đã hoàn thành tất cả các thủ tục để được phép xuất khẩu sang Mỹ. Đây là loại trái cây thứ 6 của Việt Nam (sau thanh long, chôm chôm, nhãn, vải thiều và vú sữa) được phép xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ.

    Không chỉ có quả xoài, nhiều loại nông sản khác của Việt Nam cũng đang rộng đường sang thị trường lớn nhất thế giới. Chẳng hạn, chỉ tính riêng ở Tiền Giang, tỉnh này đặt mục tiêu từ nay đến cuối vụ sẽ thu mua và xuất khẩu sang Mỹ 300 tấn trái vú sữa đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng sản lượng vú sữa xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ niên vụ 2018 – 2019 lên 400 tấn quả, cao gấp 3 lần so năm trước.

    Hiện các doanh nghiệp thu mua vú sữa xuất khẩu tại vườn với giá từ 30.000 – 35.000 đồng/kg, cao hơn giá thu mua thị trường từ 7.000 – 10.000 đồng/kg và đây rõ ràng là tin rất đáng mừng với nông dân.

    Tổng thể, thống kê cho thấy, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ tháng 1/2019 đạt hơn 5,151 tỷ USD, tăng tới 42,1%, tương đương con số tuyệt đối 1,527 tỷ USD so với cùng kỳ 2018. Với con số này, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ đã gấp tới 4,7 lần tốc độ bình quân chung cả nước.

    Đáng lưu ý, dệt may là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất sang Hoa Kỳ, đạt 1,591 tỷ USD tăng 34,1%. Ngoài dệt may, các nhóm hàng chủ lực khác là giày dép 620 triệu USD, tăng hơn 100 triệu USD; gỗ và sản phẩm gần 475 triệu USD, tăng 156 triệu USD; điện thoại sang Hoa Kỳ đạt gần 473 triệu USD, tăng tới 121%, tương đương con số tăng thêm 259 triệu USD…

    Theo Vụ Thị trường châu Âu, châu Mỹ (Bộ Công Thương), mặc dù mới tháng 1 nhưng  Hoa Kỳ đã chiếm 23,3% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và tiếp tục giữ vững vị thế là thị trường trọng điểm của Việt Nam. Cũng trong tháng 1, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của cả nước từ thị trường Hoa Kỳ đạt 1,076 tỷ USD đã đưa con số xuất siêu của Việt Nam chạm ngưỡng hơn 4 tỷ USD đối với đối tác hàng đầu này.

    Nhìn xa hơn, 25 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã tăng gần 120 lần, từ mức 450 triệu USD năm 1994 lên hơn 60 tỷ USD vào năm 2018. Hiện Việt Nam đứng thứ 16 trong số các đối tác thương mại hàng đầu của Hoa Kỳ và tăng trưởng thương mại giữa hai nước hàng năm đạt 20%.

    Ông Bùi Huy Sơn – Tham tán Công sứ, Phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cho biết, năm 2018 có thể coi là “năm của những biến động” với những diễn biến khó lường và đa chiều nhất từ trước tới nay trong chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kỳ.

    Trước tình hình đó, Bộ Công Thương và các bộ, ngành liên quan đã luôn theo sát tình hình, chủ động, phối hợp với Hoa Kỳ tiếp tục duy trì quan hệ đối thoại về chính sách kinh tế, thương mại, tạo cơ hội cho hai bên giải tỏa quan ngại, tìm giải pháp xử lý vướng mắc, xây dựng bầu không khí thuận lợi cho các bước hợp tác mới.

    “Với tổng giá trị nhập khẩu lớn nhất thế giới, đạt trên 2.400 tỷ USD năm 2018, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam những năm tới, nhưng đây cũng là thị trường cạnh tranh khốc liệt”, ông Bùi Huy Sơn bày tỏ.

    Theo nhận định từ các chuyên gia, quan hệ thương mại Việt – Hoa Kỳ trong năm 2019 nhiều khả năng sẽ có những thay đổi quan trọng, thậm chí về chất lượng. Bởi Hoa Kỳ có khả năng công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam sau thời điểm 1/7/2019 và quan hệ thương mại hai nước sẽ được đặt trên những nền tảng pháp lý quan trọng là hàng loạt cam kết quốc tế.

    Nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh khẳng định: Bên cạnh các chương trình và định hướng chung về tăng cường hỗ trợ xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua việc xây dựng thương hiệu, dỡ bỏ thuế, tháo gỡ hàng rào kĩ thuật, Bộ Công Thương còn có các đề án lớn nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu, nhất là sản phẩm của các ngành công nghiệp, công nghiệp chế biến.

    Tuy nhiên, ngoài các chính sách hỗ trợ, theo Bộ trưởng, các doanh nghiệp phải chủ động phát triển thị trường để nâng cao năng lực sản xuất trong nước; đồng thời gắn kết sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

    Ngoài ra, các doanh nghiệp cần xây dựng và triển khai các chiến lược kinh doanh hiệu quả để thâm nhập sâu hơn vào thị trường này và góp phần thắt chặt hơn nữa quan hệ thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ trong thời gian tới.

     

                                                                                                                   Theo: Thanh Hằng (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • CPI tháng 2 tăng 0,8% do nhu cầu cao trong dịp Tết

    CPI tháng 2 tăng 0,8% do nhu cầu cao trong dịp Tết

    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2-2019 tăng 0,8% so với tháng trước, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng trong dịp Tết Nguyên đán.

    Tổng cục Thống kê cho biết, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2-2019 tăng 0,8% so với tháng trước, trong đó CPI của 9-11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tháng 2 tăng so với tháng trước, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng trong dịp Tết Nguyên đán.

    CPI nhóm giao thông chỉ tăng nhẹ 0,16% do giá xăng dầu được giữ ổn định nhằm bình ổn giá trong dịp Tết. Ảnh: Hoạt động tại cửa hàng xăng dầu Công ty cổ phần Vận tải Thủy bộ Bắc Giang ở ngã tư Đình Trám, huyện Việt Yên (Bắc Giang). 

    CPI nhóm giao thông chỉ tăng nhẹ 0,16% do giá xăng dầu được giữ ổn định nhằm bình ổn giá trong dịp Tết. Ảnh: Hoạt động tại cửa hàng xăng dầu Công ty cổ phần Vận tải Thủy bộ Bắc Giang ở ngã tư Đình Trám, huyện Việt Yên (Bắc Giang). 

    Cụ thể, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với 1,73%, trong đó lương thực tăng 0,53%; thực phẩm tăng 2,13% làm CPI chung tăng 0,48%.

    Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,69%, chủ yếu do giá gas tăng 3,51% (làm CPI chung tăng 0,04%) và giá điện sinh hoạt tăng 0,69%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,66%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,35%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,26%.

    Mặc dù giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 4,4% (giá vé ô tô khách tăng 7,39%; giá vé tàu hỏa tăng 15,84%) nhưng nhóm giao thông chỉ tăng nhẹ 0,16% do giá xăng dầu được giữ ổn định nhằm bình ổn giá trong dịp Tết.

    Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,14%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,47%.

    Riêng nhóm giáo dục giảm 0,47% (dịch vụ giáo dục giảm 0,55%) do TP Hồ Chí Minh giảm học phí theo Nghị quyết số 25/2018/NQ-HĐND làm CPI chung giảm 0,03%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,03%.

    CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2019 tăng 2,6% so với bình quân cùng kỳ năm 2018; CPI tháng 2-2019 tăng 0,9% so với tháng 12-2018 và tăng 2,64% so với cùng kỳ năm trước.

    Lạm phát cơ bản tháng 2-2019 tăng 0,48% so với tháng trước và tăng 1,82% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 2 tháng đầu năm nay tăng 1,82% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

     

                                                                                                                                                          Theo: Báo Bắc Giang Điện Tử

  • Đánh giá thái độ phục vụ của một số cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh: Góc nhìn từ các nhà đầu tư, doanh nghiệp

    Đánh giá thái độ phục vụ của một số cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh: Góc nhìn từ các nhà đầu tư, doanh nghiệp

    (BGĐT)- Sau gần một  năm tiến hành lấy phiếu khảo sát và phân tích đánh giá, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp (Sở Kế hoạch và Đầu tư) phối hợp với Ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã đưa ra những thông tin khá toàn diện về ý kiến của các nhà đầu tư, doanh nghiệp (DN) trong việc thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) và trách nhiệm phục vụ của một số cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

     

    Vẫn còn tiêu cực

    Việc khảo sát ý kiến đánh giá của nhà đầu tư, DN gồm 8 nội dung chính; trong đó, chia làm 2 nhóm. Nhóm thứ nhất có 5 nội dung: Tính minh bạch thông tin; thái độ phục vụ DN, nhà đầu tư; năng lực chuyên môn của cán bộ tiếp nhận và giải quyết TTHC; thời gian giải quyết TTHC và chi phí không chính thức. Nhóm thứ 2, bao gồm 3 nội dung: Đánh giá về mức độ hài lòng đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương; số lần DN, nhà đầu tư phải tiếp các đoàn thanh tra trong năm; DN, nhà đầu tư có dự kiến mở rộng sản xuất, kinh doanh trong 2 năm tới.

    Tổ chức, cá nhân đến giải quyết TTHC tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh Bắc Giang.

    Tổ chức, cá nhân đến giải quyết TTHC tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh Bắc Giang.

    Theo ông Đồng Anh Quân, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển DN, qua phân tích, tính minh bạch thông tin là chỉ số được DN, nhà đầu tư đánh giá cao, với 70,9% cho rằng, các thông tin về giải quyết TTHC được công khai đầy đủ, kịp thời; chỉ có 3,7% đánh giá thông tin chưa được công khai. “Nhìn chung, DN và nhà đầu tư khá hài lòng về thái độ phục vụ trong giao tiếp, hướng dẫn, giải thích về TTHC của cán bộ, công chức (đạt 90%) và 88,9 % DN, nhà đầu tư được hỏi đánh giá năng lực chuyên môn của cán bộ tiếp nhận và giải quyết TTHC đạt khá và tốt”, ông Quân nói.

    Kết quả so sánh xếp hạng DCI các sở, ngành năm 2018 so với năm 2017.

    Kết quả so sánh xếp hạng DCI các sở, ngành năm 2018 so với năm 2017.

    Bên cạnh những đánh giá tích cực trên, 20% nhà đầu tư, DN cho rằng, còn biểu hiện nhũng nhiễu, tiêu cực trong giải quyết TTHC; 10% ý kiến đánh giá thái độ phục vụ DN, nhà đầu tư của một số công chức, viên chức còn chưa thân thiện, nhiệt tình; 7,7% ý kiến đánh giá vẫn còn hồ sơ giải quyết TTHC chậm so với quy định…

    Điều đáng quan tâm, số lần phải tiếp các đoàn thanh tra, kiểm tra trong năm vẫn còn khá cao. Cụ thể, chỉ có 22,36% DN, nhà đầu tư được hỏi phải tiếp một đoàn; 31,68% phải tiếp hai đoàn; 18,63% phải tiếp ba lần và có tới 26,33% DN , nhà đầu tư được hỏi phải tiếp trên ba lần đoàn kiểm tra.

    Nhìn một cách tổng thể về xếp hạng đánh giá của DN, nhà đầu tư đối với việc thực hiện TTHC và trách nhiệm phục vụ của một số cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh (DCI) trong năm 2018 có sự thay đổi lớn. Cụ thể, Sở LĐ-TB&XH đã vươn lên đứng đầu bảng (năm 2017 đứng thứ 4). Ban Quản lý các khu công nghiệp có sự thăng hạng vượt bậc, nếu như năm 2017 đứng thứ 12/15 thì năm 2018 vươn lên thứ 2/15. Sở KH&ĐT năm 2017 đứng thứ 5/15, năm 2018 quay trở lại top 3 đơn vị dẫn đầu trong bảng xếp hạng. Trong khi đó, Sở NN&PTNT năm 2017 đứng thứ 2/15 thì năm 2018 xuống vị trí cuối bảng. Thanh tra tỉnh năm 2017 đứng thứ 1/15 thì năm 2018 tụt xuống đứng thứ 14/15. Sở GT-VT năm 2017 đứng thứ 7/15 thì năm 2018 tiếp tục tụt xuống vị trí thứ 13/15 trên bảng xếp hạng.

    Kết quả xếp hạng DCI của các huyện, TP năm 2018 cũng có nhiều vấn đề đáng lưu tâm. Đơn cử như, huyện Yên Thế đã thăng hạng vượt bậc, nếu như năm 2017 đứng thứ 9/10 thì sang năm 2018 vươn lên đứng thứ 1/10 trên bảng xếp hạng; huyện Hiệp Hòa cũng đã có bước tiến lớn, nếu như năm 2017 đứng thứ 8/10 thì năm 2018 đã vươn lên đứng thứ 2/10; huyện Việt Yên năm 2017 đứng thứ 5/10 thì năm 2018 cũng đã quay trở lại top 3 đơn vị dẫn đầu. Trong khi đó, huyện Lục Nam năm 2017 đứng thứ 3/10 thì năm 2018 tụt xuống vị trí cuối bảng; huyện Lục Ngạn năm 2017 đứng thứ 7/10 thì năm 2018 tiếp tục tụt xuống đứng thứ 9/10; huyện Yên Dũng năm 2017 đứng thứ 2/10 thì năm 2018 tụt xuống vị trí thứ 7/10 bảng xếp hạng.Nhìn một cách tổng thể về xếp hạng đánh giá của DN, nhà đầu tư đối với việc thực hiện TTHC và trách nhiệm phục vụ của một số cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh (DCI) trong năm 2018 có sự thay đổi lớn. Cụ thể, Sở LĐ-TB&XH đã vươn lên đứng đầu bảng (năm 2017 đứng thứ 4). Ban Quản lý các khu công nghiệp có sự thăng hạng vượt bậc, nếu như năm 2017 đứng thứ 12/15 thì năm 2018 vươn lên thứ 2/15. Sở KH&ĐT năm 2017 đứng thứ 5/15, năm 2018 quay trở lại top 3 đơn vị dẫn đầu trong bảng xếp hạng. Trong khi đó, Sở NN&PTNT năm 2017 đứng thứ 2/15 thì năm 2018 xuống vị trí cuối bảng. Thanh tra tỉnh năm 2017 đứng thứ 1/15 thì năm 2018 tụt xuống đứng thứ 14/15. Sở GT-VT năm 2017 đứng thứ 7/15 thì năm 2018 tiếp tục tụt xuống vị trí thứ 13/15 trên bảng xếp hạng.

     

    Hướng đến chuyên nghiệp hơn

    Có thể nói, TTHC liên thông, tinh gọn được thực hiện bởi đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, trách nhiệm và năng động sẽ hình thành cơ chế đầu tư – kinh doanh thông thoáng, bình đẳng, minh bạch; tạo lập hình ảnh thân thiện, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của chính quyền và xây dựng niềm tin, sự đồng thuận từ phía các DN, nhà đầu tư. Bởi vậy, những dữ liệu khảo sát, đánh giá trên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thu hút các dự án đầu tư của tỉnh.

    Kết quả so sánh xếp hạng DCI các huyện, TP năm 2018 so với năm 2017.

    Kết quả so sánh xếp hạng DCI các huyện, TP năm 2018 so với năm 2017.

    Theo ông Nguyễn Cường, Phó Giám đốc Sở KH&ĐT, để tiếp tục tạo thuận lợi cho các DN, nhà đầu tư sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh, thời gian tới, Sở KH&ĐT sẽ tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo các Sở, ngành, UBND các huyện, TP đẩy nhanh tiến độ xây dựng chính quyền điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, trình độ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức. Xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ.

    Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách các TTHC liên quan trực tiếp đến đầu tư, kinh doanh của DN, nhà đầu tư. Thực hiện nghiêm túc việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh để tạo thuận lợi cho các DN trong thực hiện các TTHC. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết TTHC; xây dựng và triển khai thực hiện phần mềm một cửa liên thông áp dụng chung cho tất cả các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh và kết nối liên thông giữa các cơ quan cần giải quyết TTHC, kể cả Văn phòng UBND tỉnh.

    72% các DN, nhà đầu tư được khảo sát cho ý kiến, họ có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh trong 2 năm tới. Điều này thể hiện, nhiều DN, nhà đầu tư cảm thấy yên tâm và mong muốn được mở rộng, phát triển tại tỉnh Bắc Giang.

    “Chúng tôi sẽ tham mưu xây dựng cuốn sổ tay về đầu tư từ khi nhà đầu tư bắt đầu tìm hiểu các thông tin về đầu tư cho đến các thủ tục liên quan như: Quy trình thủ tục cấp quyết định chủ trương đầu tư, đăng ký đầu tư; quy trình thủ tục giải phóng mặt bằng; lĩnh vực môi trường; cấp phép xây dựng, phòng cháy chữa cháy, đấu nối giao thông, điện, nước… đến khi thi công, kiểm tra nghiệm thu, bàn giao công trình đưa vào hoạt động”, ông Cường nói.

     

                                                                                                                                                          Theo: Báo Bắc Giang Điện Tử

  • Hiểu đúng về những lợi ích đạt được khi CPTPP có hiệu lực

    Hiểu đúng về những lợi ích đạt được khi CPTPP có hiệu lực

    (Chinhphu.vn) – Hiệp định CPTPP (hay còn gọi là TPP11) đã chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 14/1, tuy nhiên, cần phải hiểu đúng về những lợi ích mà hiệp định thương mại liên quan đến 500 triệu người tiêu dùng này mang lại.

    Thêm 3 thị trường mới

    Bộ Công Thương cho biết, với 11 nước tham gia, CPTPP là một trong những hiệp định thương mại lớn nhất thế giới và khi được thực thi đầy đủ, sẽ bao gồm một thị trường gần 500 triệu người tiêu dùng, chiếm khoảng 13,5% GDP toàn cầu.

    11 nền kinh tế CPTPP bao gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Việt Nam. Các mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của Việt Nam như nông, thủy sản, điện, điện tử đều được xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng thêm 4,04% và nhập khẩu tăng thêm 3,8% vào năm 2035; tổng số việc làm tăng thêm hàng năm từ 20.000 đến 26.000 lao động.

    Tuy nhiên, CPTPP chỉ mang đến cho Việt Nam 3 thị trường mới bởi trong 10 nước đối tác của CPTPP thì ta đã có hiệp định thương mại tự do (FTA) với 7 nước theo hình thức song phương hoặc đa phương hoặc cả hai.

    Cụ thể, với Australia và New Zealand ta có FTA đa phương Khu vực thương mại tự do ASEAN-Australia-New Zealand(AANZFTA); với Brunei, Malaysia, Singapore, ta có FTA đa phương Khu vực mậu dịch tự do Asean; với Chile ta có FTA song phương Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Chile; với Nhật Bản, ta vừa có FTA song phương Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA), vừa có FTA đa phương Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Asean – Nhật Bản (AJCEP).

    Với câu hỏi 3 thị trường mới này sẽ mang lại những cơ hội gì cho Việt Nam, đại diện Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cho biết, đây là lần đầu tiên Việt Nam có quan hệ FTA với Canada, Mexico và Peru.

    “Tuy nhiên, như mọi FTA khác, TPP11 không phải là mỏ vàng lộ thiên. Đường đã thông nhưng xe có chạy được không và đi được bao xa còn tùy thuộc vào chất lượng xe và lượng xăng nhiều ít. Thị trường đã mở nhưng nếu không chủ động tìm hiểu, thâm nhập thì cũng không chiếm lĩnh được”, đại diện Vụ Chính sách thương mại đa biên cho biết.

    Trên thực tế, cả 3 thị trường mới này Việt Nam đều đã đạt được thặng dư thương mại trong những năm qua. Năm 2017, Việt Nam xuất khẩu sang Mexico 2,34 tỷ USD, nhập về 567 triệu USD; xuất sang Canada 2,7 tỷ  USD, nhập về 774 triệu USD; xuất sang Peru 331 triệu USD, nhập về 117 triệu USD.

    Giá ô tô nhập khẩu liệu có giảm?

    Lộ trình thuế quan trong TPP11 được cho là một trong những điểm được trông chờ nhất, tuy nhiên, với câu hỏi về việc liệu người tiêu dùng Việt Nam có được mua ô tô giá rẻ hay không là việc rất được kỳ vọng khi CPTPP có hiệu lực.

    Trả lời vấn đề trên, đại diện Bộ Công Thương cho biết, với mặt hàng ô tô, ngoài thuế nhập khẩu còn có thuế tiêu thụ đặc biệt và các loại phí. Nếu giảm thuế nhập khẩu nhưng lại tăng thuế tiêu thụ đặc biệt và các loại phí thì giá ô tô cũng sẽ không giảm như mong đợi.

    “Đây là bài toán cân đối giữa cơ sở hạ tầng và số lượng phương tiện, không còn là bài toán bảo hộ nữa. Bên cạnh đó, cơ cấu chủ thể tham gia sản xuất và nhập khẩu ô tô cũng sẽ có tác động lớn tới giá ô tô. Như vậy để thấy thuế nhập khẩu đã, đang và sẽ không bao giờ là yếu tố duy nhất xác định giá ô tô”, đại diện Bộ Công Thương cho biết.

    Liên quan đến việc khi tham gia CPTPP, Việt Nam sẽ cho phép nhập khẩu mặt hàng tân trang, liệu rằng Việt Nam có quản lý được nhóm hàng này để không nhập về “rác thải công nghệ” hay không, đại diện Bộ Công Thương cho biết: Cam kết về hàng tân trang là một trong các nội dung mới mà Việt Nam chưa từng cam kết trong các FTA đã ký kết. Tuy nhiên, khi đàm phán và thống nhất nội dung này, Việt Nam cũng đã bảo lưu được một khoảng không chính sách nhất định để Chính phủ có thể quản lý và kiểm soát mặt hàng này một cách chủ động và hiệu quả khi Hiệp định có hiệu lực.

    Cụ thể, hàng hóa phải là hàng hóa thu được toàn bộ hoặc một phần từ các nguyên vật liệu được thu hồi, có tuổi thọ và chức năng giống hệt hoặc tương tự hàng mới và có chứng nhận bảo hành như hàng mới mới được coi là hàng tân trang và được phép nhập khẩu vào thị trường CPTPP theo mức thuế suất như đối với hàng mới.

    Đặc biệt, ta cam kết sẽ chỉ cho phép nhập khẩu loại hàng hóa này sau 3 năm kể từ khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực.

    Ngoài ra, Việt Nam cũng bảo lưu một danh mục loại trừ các mặt hàng được cho là hàng tân trang bao gồm: xe máy, xe đạp và một số máy móc điện-điện tử gia dụng như quạt điện, máy điều hòa không khí, máy sấy, máy rửa bát, máy giặt, máy hút bụi, v.v… Các mặt hàng này không được phép nhập khẩu vào Việt Nam theo cam kết về hàng tân trang.

     

                                                                                                                    Theo: Phan Trang (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • EVNNPC nỗ lực giảm tổn thất điện năng xuống còn 4,75%

    EVNNPC nỗ lực giảm tổn thất điện năng xuống còn 4,75%

    (Chinhphu.vn) – Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) phấn đấu trong năm 2019 sẽ giảm tổn thất điện năng (TTĐN) xuống còn 4,75%, giảm 0,36% so với kết quả thực hiện năm 2018.

    Để đạt được mục tiêu này, Ban chỉ đạo giảm tổn thất điện năng của EVNNPC đã đề ra nhiều giải pháp cụ thể trong công tác quản lý kỹ thuật vận hành trên hệ thông lưới điện. Trong đó tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án xuất tuyến 110 kV để giảm tổn thất lưới điện 110 kV, rà soát các đường dây 110 kV, các máy biến áp mang tải cao để bổ sung danh mục và giao quản lý, đôn đốc các dự án lắp đặt tụ bù lưới điện theo kế hoạch năm 2019.

    Tăng cường kiểm tra, xử lý , phấn đấu giảm TTĐN trên lưới điện phân phối. Ảnh VGP/ Toàn Thắng

     

    Cùng với đó, EVNNPC sẽ tăng cường thực hiện việc giám sát đặc biệt đối với các đơn vị có tỷ lệ tổn thất điện năng lưới điện cao tại một số đơn vị trực thuộc như: Công ty Điện lực Nam Định, Thái Bình, Điện Biên và Hòa Bình. Tiến hành rà soát các đường dây 110 kV hiện đang vận hành khoảng từ 80% dòng điện định mức trở lên và kiểm tra lại các dự án chống quá tải còn tồn đọng lại từ năm 2018. Đồng thời đôn đốc tiến độ để các trạm biến áp 110 kV chống quá tải khẩn trương đóng điện trước ngày 15/4/2019.

    EVNNPC cho biết trong năm 2019 cũng sẽ  triển khai thực hiện các dự án xây dựng mạch vòng và lắp đặt các thiết bị Recloser cho lưới điện trung áp. Xem xét việc lắp đặt các trạm biến áp trung gian 35/22 kV, 35/10 kV để chống quá tải và giảm tổn thất điện năng lưới điện 110 kV tại các khu vực chưa có trạm 110 kV thuộc các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa.

    Đồng thời thực hiện việc điều chuyển các máy biến áp phân phối cũ tại các đơn vị không còn phù hợp cho các đơn vị có nhu cầu để cấy thêm các trạm biến áp giảm bán kính cấp điện trên lưới điện hạ áp.

    Cùng với việc khẩn trương giao danh mục các dự án xây dựng mạch vòng trung áp, các thiết bị nâng cao độ tin cậy cung cấp điện năm 2019 bao gồm Recloser, chỉ báo sự cố, cầu dao phân đoạn có điểu khiển, tụ bù, EVNNPC sẽ tập trung đôn đốc các đơn vị trực thuộc xem xét lắp đặt thêm tụ bù cho lưới điện hạ áp từ nguồn thu công suất phản kháng đồng thời thành lập nhiều đoàn công tác đặc biệt để kiểm tra đôn đốc và rà soát những đơn vị còn dư địa tổn thất điện năng còn cao.

     

                                                                                                                   Theo: Toàn Thắng (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • Việt Nam sẽ là nước công nghiệp phát triển hay là quốc gia phát triển?

    Việt Nam sẽ là nước công nghiệp phát triển hay là quốc gia phát triển?

    (Chinhphu.vn) – Chiến lược phát triển của Việt Nam tầm nhìn tới năm 2045 sẽ xác định hướng đi của Việt Nam là một nước công nghiệp phát triển, hay trở thành một quốc gia phát triển với các tiêu chí cụ thể.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu tại tọa đàm. Ảnh: VGP/Thành Chung

     

    Sáng 26/2, Bộ Ngoại giao phối hợp với Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) tổ chức tọa đàm Khởi động báo cáo đánh giá đa chiều, góp phần tư vấn cho Việt Nam trong việc xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ dự và có bài phát biểu gợi mở nhiều vấn đề quan trọng. Cùng dự có lãnh đạo các Bộ Ngoại giao, Bộ KH&ĐT, Giám đốc Chương trình đánh giá đa chiều (MDCR) của OECD, Đại sứ-Trưởng Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam và nhiều chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học trong và ngoài nước.

    OECD: ‘Tiền’ không phải là điều quan trọng nhất

    Khai mạc tọa đàm, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đánh giá cao sự hỗ trợ của OECD hướng tới khởi động Báo cáo đánh giá quan trọng này. Theo Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn, hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có bước tiến dài trên con đường phát triển, được Liên Hợp Quốc đánh giá là một trong những quốc gia phát triển ấn tượng, không chỉ về y tế mà cả giáo dục, y tế.

    Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn cho rằng, trong một thế giới đang dịch chuyển nhanh và sâu sắc, Việt Nam đứng trước những vận hội mới để phát triển nhanh, bền vững hơn, song cũng phải xử lý nhiều vấn đề mới và phức tạp về kinh tế-xã hội, môi trường, văn hóa. Đó là yêu cầu cấp thiết về nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất và sức cạnh tranh, năng lực tự chủ và khả năng chống chịu, bảo vệ môi trường và bản sắc văn hóa trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi những quốc gia như Việt Nam muốn vươn lên cần đổi mới mạnh mẽ về tư duy, phương thức phát triển.

    Đưa ra một góc nhìn từ bên ngoài về quá trình đổi mới và phát triển của Việt Nam, Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam Ousmane Dione đánh giá, Việt Nam là nước có bước phát triển đáng khích lệ nhất trên thế giới kể từ khi đổi mới diễn ra đến nay, không ngừng đi lên và tăng trưởng, chuyển mình, thay đổi cơ cấu và cất cánh.

    Tuy nhiên, ông Dione cho rằng, dù đạt tốc độ tăng trưởng cao, nhưng chất lượng tăng trưởng là vấn đề còn phải bàn để củng cố cơ sở nền tảng trở thành nước phát triển trung bình và thu nhập cao đến năm 2035.

    Ông Jan Rielaender, Giám đốc Chương trình đánh giá đa chiều (MDCR) của OECD cho biết, thông qua hỗ trợ Việt Nam xây dựng báo cáo, OECD muốn đưa quan hệ đối tác giữa hai bên lên tầm cao mới. Nội dung quan trọng của báo cáo này là thể hiện tinh thần học hỏi lẫn nhau giữa các quốc gia trên con đường phát triển để giúp Việt Nam phát triển.

    Thông qua Báo cáo MDCR, Việt Nam sẽ có cơ hội tận dụng kinh nghiệm và những kiến thức về cải cách của các quốc gia khác, đồng thời 53 quốc gia thành viên của OECD cũng có cơ hội hiểu Việt Nam hơn, học hỏi từ thành công và thách thức Việt Nam.

    Ông Jan Rielaender nhìn nhận: “Đã lâu có sự đồng thuận lớn cho rằng GDP là mục tiêu quan trọng nhất đối với phát triển. Tuy nhiên, ngày nay có nhiều thứ phải quan tâm hơn thay vì chỉ quan tâm đến tiền. Đó là sự tăng trưởng bao trùm, trong đó mọi người dân trong một quốc gia được phát triển hết tiềm năng và sống một cuộc sống xứng đáng. Đó là phát triển phải hài hòa với tự nhiên, tôn trọng những giới hạn. Cần coi các mục tiêu phát triển bền vững là một trong các mục tiêu quan trọng và phải đạt được vào năm 2030”.

    Nhìn về bước phát triển của Việt Nam từ năm 1986 đến nay, ông cho biết, nhiều nước muốn học tập Việt Nam. “Nhiều thành viên ở OECD biết rằng Việt Nam có những thành tích vượt trội hơn hầu hết các nước về PISA (cách đo lường chất lượng giáo dục căn bản của một quốc gia) của chúng tôi. Chúng tôi rất muốn tìm hiểu xem làm sao các bạn làm được điều đó”, ông nói.

    Ảnh: VGP/Thành Chung

     

    Người dân phải tham gia vào đổi mới và được thụ hưởng thành quả đổi mới

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đánh giá cao việc OECD tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và Chính phủ Việt Nam để sớm khởi động quá trình xây dựng Báo cáo đánh giá quốc gia đa chiều của Việt Nam. Đây là báo cáo quan trọng được xây dựng với phương pháp đánh giá khách quan, độc lập, đa chiều, liên ngành, liên lĩnh vực về các chính sách phát triển của Việt Nam, từ đó đưa ra các tư vấn, khuyến nghị cho Chính phủ Việt Nam để xây dựng Chiến lược phát triển của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

    Phó Thủ tướng dẫn lại một số nhận định về Việt Nam của các tổ chức quốc tế và đề nghị OECD, các cơ quan quốc tế và các bộ, ngành cần làm rõ bằng các số liệu cụ thể. Trong đó, dữ liệu đáng chú ý là theo báo cáo của Tập đoàn McKinsey (tháng 9/2018), Việt Nam là một trong 18 nền kinh tế đang nổi có thành tích phát triển “vượt trội” trong 50 năm qua. Việt Nam luôn nằm trong nhóm nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao ở châu Á-Thái Bình Dương và trên thế giới trong nhiều năm liền. Quy mô kinh tế Việt Nam (240,5 tỷ USD) hiện đứng thứ 44 thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 theo sức mua tương đương. Việt Nam từng bước trở thành một trong những công xưởng của thế giới về cung ứng hàng điện tử, dệt may, da giầy, điện thoại di động.

    Ngoài phát triển kinh tế, Phó Thủ tướng khẳng định Chính phủ luôn có quan điểm nhất quán rằng sự nghiệp đổi mới của Việt Nam sẽ không bao giờ đạt được thành công nếu không có sự đồng tình hưởng ứng và tham gia của đông đảo người dân và bản thân sự nghiệp đổi mới cũng không có ý nghĩa nếu như những thành quả của đổi mới không đến được với mọi tầng lớp nhân dân.

    Chính vì vậy, theo Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, bên cạnh thúc đẩy tăng trưởng về kinh tế, Việt Nam đặc biệt coi trọng phát triển các lĩnh vực xã hội khác, tạo điều kiện cho người dân tham gia phát triển kinh tế-xã hội và thụ hưởng các thành quả của phát triển. Trong suốt thời gian dài, thu ngân sách chỉ tăng 10-12% thì tổng chi ngân sách nhà nước cho an sinh xã hội vẫn luôn đạt 23-25%. Theo Báo cáo của UNDP năm 2018, Việt Nam đạt nhiều tiến bộ về phát triển con người và giảm nghèo đa chiều; chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã tăng liên tục trong 27 năm qua với điểm số tiệm cận nhóm nước có chỉ số phát triển con người cao.

    Trên tinh thần phát triển bao trùm, Phó Thủ tướng đề nghị các đại biểu thảo luận về sự phát triển của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 theo hai cách tiếp cận: Hướng đến một nước có nền công nghiệp phát triển hoặc mục tiêu hướng đến là một nước phát triển. Phó Thủ tướng mong muốn OECD nghiên cứu Việt Nam nên tiếp cận theo hướng nào và Việt Nam nằm ở trình độ nào trong nhóm nước công nghiệp hay nước phát triển, các tiêu chí và quan điểm phát triển trong thời gian tới cần cụ thể như thế nào?

    Theo Phó Thủ tướng, Việt Nam có ý chí và khát vọng vươn lên, nhưng phải làm sao khơi thông và giải phóng nguồn năng lượng to lớn này để Việt Nam phát triển bứt phá. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào các chiến lược, chính sách sẽ triển khai trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2021-2030 mà Chính phủ đang chỉ đạo các bộ, ngành nghiên cứu xây dựng, có sự đóng góp của OECD và các tổ chức quốc tế.

     

                                                                                                                 Theo: Thành Chung (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)