Danh mục: Tin tức sự kiện

  • Khóa đào tạo Facebook dành cho DNVVN – Empowering SMBS with digital marketing skills

    Khóa đào tạo Facebook dành cho DNVVN – Empowering SMBS with digital marketing skills

    Ngày 10/09/2019, trong khuôn khổ hợp tác giữa tỉnh Bắc Giang và Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp Bắc Giang (CIPED) đã phối hợp cùng Trung tâm hỗ trợ DNNVV – VCCI tổ chức Khóa đào tạo Facebook dành cho DNVVN – Empowering SMBS with digital marketing skills tại Khách sạn Minh Trung, số 2 đường Ngô Gia Tự, Thành phố Bắc Giang. Khóa đào tạo có sự tham gia của hơn 60 học viên đến từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

           

    Khóa đào tạo này được tổ chức dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Bắc Giang, nhằm giúp các học viên được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết giúp khởi nghiệp và kinh doanh, thành lập và quản lý hiệu quả các trang Facebook và Instagram để thúc đẩy hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình. Khóa đào tạo này được các giảng viên do Facebook đào tạo giảng dạy và chia sẽ những cách thức, bí quyết sáng tạo, bài học kinh nghiệm từ những thực hành tốt nhất cũng như các công cụ hữu ích giúp học viên phát triển kinh doanh qua Facebook. Đây cũng là cơ hội cho các học viên kết nối và tìm đối tác với các học viên trong lớp học.

            

    Phòng PTDN

  • Sản xuất nông nghiệp hữu cơ – Hướng đi tất yếu

    Sản xuất nông nghiệp hữu cơ – Hướng đi tất yếu

    (BGĐT) – Giá bán cao, được thị trường ưa chuộng song ưu điểm hơn cả là sản xuất nông nghiệp hữu cơ cho sản phẩm an toàn, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Đây là xu hướng canh tác tất yếu nhằm đáp ứng đòi hỏi thực tiễn và phát triển nông nghiệp bền vững.

    Sản phẩm an toàn, giá bán cao

    Vụ vải thiều năm nay, người dân trong tỉnh Bắc Giang không khỏi ngỡ ngàng trước giá bán của vải thiều hữu cơ. Chỉ với 12 quả đựng trong hộp giấy, vải hữu cơ được bán với giá 200 nghìn đồng, cao gấp hàng chục lần so với sản phẩm thông thường. Vậy mà loại vải này vẫn tiêu thụ tốt, không đủ cung cấp theo nhu cầu khách hàng. 

    Mô hình trồng chè hữu cơ tại xã Xuân Lương (Yên Thế).

    Mô hình trồng chè hữu cơ tại xã Xuân Lương (Yên Thế).

    Ông Trần Văn Hành, thôn Chão Cũ, xã Giáp Sơn nói: “Vụ vải năm 2019, gia đình tôi sản xuất 1 ha vải hữu cơ. Toàn bộ quy trình chăm sóc đều được giám sát chặt chẽ, khu trồng có hệ thống camera theo dõi nên khách hàng yên tâm khi dùng sản phẩm”.

    Được biết, ông Hành là cá nhân điển hình về sản xuất, kinh doanh giỏi của huyện. Ông có phương pháp độc đáo là điều chỉnh cho vải thiều ra quả từ thân, cành chính. Vì vậy, ông được doanh nghiệp tin tưởng, liên kết sản xuất.

    Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn cho biết: “Hơn chục quả vải có giá 200 nghìn đồng là lần đầu tiên vải thiều của huyện chạm ngưỡng cao chưa từng có, tạo dấu mốc quan trọng cho vải thiều hữu cơ Lục Ngạn. Huyện tiếp tục hỗ trợ, khuyến khích kết nối doanh nghiệp-nhà vườn sản xuất vải hữu cơ để tăng giá trị sản phẩm”.

    Ngoài vải thiều, hơn 9 ha chè tại xã Canh Nậu, Xuân Lương (Yên Thế) sản xuất hữu cơ cũng có sự khác biệt, hiệu quả hơn so với sản xuất đại trà. Các hộ sử dụng phân bón hữu cơ sinh học và thuốc bảo vệ thực vật sinh học để chăm sóc chè. Do áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, năng suất chè trung bình đạt 450 kg chè khô/ha/lứa.

    Trong lĩnh vực chăn nuôi, trên địa bàn tỉnh có duy nhất thịt lợn của Hợp tác xã (HTX) Trường Thành, xã Danh Thắng (Hiệp Hòa) được công nhận sản phẩm hữu cơ. Đang trong thời điểm dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp và gây hại lớn trên đàn vật nuôi thì cơ sở chăn nuôi của HTX vẫn duy trì ổn định, vẫn tái đàn bình thường. 

    Mỗi ngày HTX xuất bán từ 1- 1,5 tấn sản phẩm với giá bán cao và ổn định, không bị giảm giá như lợn nuôi thông thường. Có sản phẩm bán với giá 200 nghìn đồng/kg như thịt nạc vai, sấn mông hay thịt nạc thăn vẫn được khách hàng chấp nhận. Hiện sản phẩm của đơn vị ngoài bán trong tỉnh còn cung cấp cho địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, TP Hà Nội.

    Ưu tiên sản phẩm chủ lực

    Hiệu quả mà sản phẩm hữu cơ mang lại về kinh tế đã rõ nhưng cái được hơn cả là về môi trường, sức khỏe con người. Một số nông dân trồng chè hữu cơ tại xã Xuân Lương chia sẻ, khi áp dụng quy trình chăm sóc hữu cơ, họ không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học nên không phải tiếp xúc với hóa chất độc hại.

    Sản xuất nông nghiệp phổ biến hiện nay là lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác khiến đất bị chai cứng, tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người. Ông Dương Thanh Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT cho biết, những năm qua sản xuất nông nghiệp hàng hóa đã góp phần đưa năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi tăng cao một cách ngoạn mục nhưng đã gây ra những hệ lụy. 

    Vì thế, sản xuất nông nghiệp hữu cơ là xu thế tất yếu. Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, trước đòi hỏi từ thực tiễn, ngành nông nghiệp tỉnh đang xây dựng Đề án sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại Bắc Giang trên cơ sở Nghị định về nông nghiệp hữu cơ của Chính phủ ban hành ngày 29-8-2018.

    Theo đó, sản xuất nông nghiệp hữu cơ của tỉnh sẽ làm theo lộ trình, không thể nóng vội. Trước hết là tập huấn để người dân hiểu hơn về quy trình, không phải đơn thuần như cách làm cũ mà ở trình độ canh tác mới ứng dụng tiến bộ, kỹ thuật; ưu tiên các sản phẩm chủ lực như: Chè, thịt, rau xanh để sản xuất hữu cơ; thu hút, mời gọi doanh nghiệp có tiềm lực, đi đầu về nông nghiệp hữu cơ như: Tập đoàn phân bón hữu cơ Quế Lâm (Vĩnh Phúc); Công ty NHO Oganic (Hà Nội) liên kết sản xuất với người dân tại địa bàn.

    Triển khai nông nghiệp hữu cơ, các huyện, TP cũng đang rốt ráo thực hiện. Huyện Việt Yên xác định trước tiên cần cải tạo đất, hướng tới không dùng phân bón hóa học chăm sóc cây trồng. Để đạt mục tiêu này, huyện khai thác lợi thế sẵn có là xử lý chất thải, nước thải chăn nuôi tại các trang trại lớn thành sản phẩm sinh học bón cho cây trồng. 

    Ông Nguyễn Đại Lượng, Phó Chủ tịch UBND huyện thông tin, năm 2020, toàn huyện phấn đấu có 20% tổng diện tích canh tác của huyện sử dụng phân hữu cơ thay thế phân hóa học chăm sóc cây trồng; đến năm 2025 là 80% tổng diện tích.

    Được biết, đi đôi với biện pháp trên, Việt Yên coi trọng ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp. Từ thử nghiệm thành công máy bay không người lái phun thuốc bảo vệ thực vật tại xã Quảng Minh, tới đây huyện sẽ hỗ trợ HTX, tổ chức trang bị phương tiện này để bón phân hữu cơ, chế phẩm sinh học trên diện tích lớn khi sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

    Tại huyện Yên Thế, Lục Ngạn, các mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ chè, vải thiều được duy trì và tiếp tục mở rộng trong vụ tới.

    Theo: Trường Sơn (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Bắc Giang: Doanh nghiệp phát triển, tăng thu ngân sách

    Bắc Giang: Doanh nghiệp phát triển, tăng thu ngân sách

    (BGĐT) – Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện có hàng nghìn doanh nghiệp (DN) đang hoạt động. Trong số đó có nhiều đơn vị sản xuất, kinh doanh giỏi, thực hiện tốt chính sách thuế đối với Nhà nước, nhiều năm liền được ngành thuế tuyên dương, khen thưởng.

    DN đầu tiên phải kể đến là Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang LGG, xã Nghĩa Hòa (Lạng Giang). Thời điểm này hàng nghìn công nhân tại 4 xưởng sản xuất quần áo Jacket xuất khẩu của DN đang tất bật hoàn thiện hàng triệu sản phẩm để kịp thời xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu (EU). 

    Dây chuyền hoàn thiện sản phẩm tại Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang LGG.

    Dây chuyền hoàn thiện sản phẩm tại Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang LGG.

    Ông Lưu Tiến Chung, Tổng Giám đốc Công ty cho biết: Mỹ, Nhật Bản là hai thị trường “khó tính”, đòi hỏi sản phẩm phải bảo đảm chất lượng, bền, đẹp. Do đó từ năm ngoái đến nay, DN đã đầu tư hơn 160 tỷ đồng xây mới thêm một nhà xưởng, mua sắm thay thế các loại máy cũ bằng máy móc hiện đại như: Máy trần vải tự động, máy may một kim điện tử… đã góp phần tăng năng suất, DN kịp thời giao hàng cho đối tác, sản phẩm bảo đảm chất lượng. Đầu năm nay, DN được Tập đoàn Uniqlo (Nhật Bản) công nhận là 1 trong 6 DN có chất lượng sản phẩm tốt nhất toàn cầu.

    Được biết, năm ngoái DN xuất khẩu hơn 4 triệu sản phẩm quần áo các loại, doanh thu đạt gần 600 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước gần 19 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay, đơn vị xuất khẩu gần 8 triệu sản phẩm, phấn đấu hết năm nâng lên 12 triệu sản phẩm, doanh thu ước đạt 1,2 nghìn tỷ đồng. 

    Hiện Công ty đang tạo việc làm cho 5 nghìn lao động với thu nhập bình quân 7,5 triệu đồng/người/tháng, tăng hơn so với năm trước. Dự kiến, tháng 10 năm nay DN hoàn thiện, đưa thêm hai nhà xưởng mới vào hoạt động, giải quyết việc làm thêm cho khoảng 3 nghìn lao động nông thôn. Ghi nhận thành tích đạt được, năm nay Công ty được ngành thuế biểu dương, khen thưởng.

    Công ty TNHH Petro Bình Minh, thị trấn Bích Động (Việt Yên) chuyên kinh doanh nhiên liệu xăng dầu cũng tích cực đổi mới phương thức kinh doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng cao doanh thu. Ngoài cung ứng hàng hóa bảo đảm chất lượng, Công ty còn hỗ trợ một phần cước vận chuyển cho các đơn vị mua xăng dầu. 

    Chỉ tính năm ngoái, Công ty tiêu thụ 28 triệu lít xăng dầu, doanh thu gần 400 tỷ đồng, nộp ngân sách gần 50 tỷ đồng. 8 tháng năm nay, từ tiêu thụ xăng dầu, doanh thu của đơn vị đạt hơn 500 tỷ đồng, nộp ngân sách khoảng 70 tỷ đồng. Với mức nộp ngân sách đạt cao, DN được Tổng Cục thuế và Cục Thuế tỉnh tuyên dương khen thưởng hai năm liên tiếp. Công ty phấn đấu từ nay đến hết năm nộp thêm 20-30 tỷ đồng tiền thuế.

    Theo ông Phạm Văn Thịnh, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh, qua rà soát, thống kê kết quả nộp ngân sách năm 2018, toàn tỉnh có hơn 170 DN, cá nhân đủ điều kiện được Bộ Tài chính, Tổng Cục Thuế, Cục Thuế tỉnh khen thưởng. Trong đó có hơn nửa số DN được tuyên dương với kết quả nộp thuế cao trong nhiều năm liên tiếp. 

    Điển hình như Công ty TNHH một thành viên Than 45 (Sơn Động); Công ty cổ phần May xuất khẩu Hà Phong (Hiệp Hòa); Công ty TNHH S-Connect BG Vina, KCN Vân Trung (Việt Yên); Công ty cổ phần Đáp Cầu Lục Ngạn… Các DN được biểu dương, khen thưởng đều bảo đảm các tiêu chí như có doanh thu tăng trưởng mạnh; kê khai, nộp thuế điện tử; không nợ thuế, không vi phạm và bị phạt hành chính về thuế, hải quan. Đồng thời, có số thuế nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước từ 10% trở lên.

    Kết quả trên có được là do mấy năm gần đây, ngành thuế luôn quan tâm, thực hiện nhiều giải pháp mới để tạo điều kiện hỗ trợ các DN thực hiện tốt chính sách thuế đối với Nhà nước. Cùng với hướng dẫn kê khai, nộp thuế điện tử Etax thay thế hệ thống cũ để bảo đảm nhanh, chính xác, Cục Thuế còn thường xuyên tổ chức hội nghị phổ biến chính sách thuế cho DN, đối thoại trực tiếp nhằm tháo gỡ khó khăn cho các tổ chức kinh doanh trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Đến nay, toàn tỉnh có hơn 95% số DN thực hiện nộp thuế điện tử.

    Với sự nỗ lực trong sản xuất, kinh doanh, cộng đồng DN trên địa bàn tỉnh đã góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước. Năm 2018, thu ngân sách toàn tỉnh đạt khoảng 8,5 nghìn tỷ đồng. Phát huy kết quả đạt được, năm nay những DN này tiếp tục có đóng góp cao cho ngân sách. Hết tháng 8- 2019, toàn tỉnh thu gần 7 nghìn tỷ đồng tiền thuế, tăng gần 12% so với cùng kỳ năm ngoái và đạt 99% dự toán được giao, phấn đấu hết năm thu hơn 10 tỷ đồng.

    Theo: Minh Linh (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Không sử dụng tiền mặt trong thanh toán tiền điện: Nhiều tiện ích cho khách hàng

    Không sử dụng tiền mặt trong thanh toán tiền điện: Nhiều tiện ích cho khách hàng

    (BGĐT) – Thực hiện đề án của Chính phủ về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, thời gian qua, Công ty Điện lực Bắc Giang đã tích cực phối hợp với các ngân hàng, tổ chức trung gian trong việc thu hộ tiền điện. Việc ứng dụng công nghệ thông tin để thanh toán tiền điện mang đến cho khách hàng nhiều tiện ích, bảo đảm thuận lợi, nhanh chóng và an toàn.

    Lâu nay, người dân, khách hàng sử dụng điện vẫn có thói quen dùng tiền mặt, đến các điểm thu để trả tiền điện hằng tháng. Cách thanh toán này vừa mất thời gian, công sức đi lại, không an toàn, hơn nữa ngành điện phải bố trí một lượng lớn lao động để thực hiện giao dịch, lãng phí nhân công.

    Khách hàng thực hiện các giao dịch, trong đó có thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Giang.

    Khách hàng thực hiện các giao dịch, trong đó có thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Giang.

    Gần đây xuất hiện hình thức thanh toán tiền điện qua ngân hàng và các tổ chức trung gian khiến việc trả tiền điện dễ dàng hơn rất nhiều. Khách hàng có thể kiểm tra được ngay số điện đã sử dụng, giao dịch có thành công hay không mà không cần phải đến tận nơi. 

    Chị Đào Thị Thu Dung ở phường Hoàng Văn Thụ (TP Bắc Giang) từ vài tháng nay đã sử dụng dịch vụ thanh toán hóa đơn tiền điện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Giang (BIDV Bắc Giang), cho hay: “Là khách hàng lâu năm của BIDV Bắc Giang nên khi biết đến dịch vụ này, tôi liền đăng ký sử dụng. Hằng tháng gia đình tôi trả khoảng 2 triệu đồng tiền điện nhưng nhiều khi do bận công việc nên quên mất lịch đóng tiền, thường phải để nhân viên điện lực gọi điện nhắc nhở. Từ khi dùng cách thanh toán qua ngân hàng, tôi thấy rất tiện lợi”.

    Còn anh Nguyễn Văn Hải, chủ một cơ sở cơ khí ở thị trấn Đồi Ngô (Lục Nam) lựa chọn dịch vụ thanh toán tiền điện qua Viettel Bắc Giang. Anh Hải nói: “Hằng tháng, sau khi nhận được tin nhắn của ngành điện thông báo chỉ số công tơ điện đã sử dụng và số tiền phải chi trả bất cứ lúc nào tôi cũng có thể dùng máy tính hoặc điện thoại di động để thanh toán tiền điện. Với những tiện ích thiết thực đó, tôi cho rằng ngành điện đang hướng đến sự chuyên nghiệp, tạo ra sự đổi mới và hình ảnh thân thiện đối với khách hàng”.

    Nhóm khách hàng duy trì việc trả tiền điện bằng tiền mặt thường tập trung ở người lớn tuổi, sinh sống tại khu vực nông thôn, miền núi, chưa quen sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại như điện thoại di động thông minh, máy tính… để truy cập các trang thanh toán điện tử, dịch vụ trực tuyến của các ngân hàng, tổ chức trung gian. Một bộ phận khách hàng khác còn lo ngại về tính bảo mật, có thể gây mất an toàn, thiệt hại tài chính khi sử dụng dịch vụ này.Mặc dù có nhiều lợi ích nhưng nhiều người vẫn e dè, chưa mạnh dạn sử dụng dịch vụ thu hộ tiền điện, thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt. 

    Để đẩy mạnh hình thức thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt và khắc phục những hạn chế nêu trên, Công ty Điện lực Bắc Giang phối hợp chặt chẽ với các ngân hàng và tổ chức liên kết; đẩy mạnh tuyên truyền đến khách hàng về các tiện ích dưới nhiều hình thức nhằm cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, thuyết phục người dân sử dụng phương thức thanh toán mới. 

    Ông Bạch Hồng Quân, Phó Giám đốc Công ty Điện lực Bắc Giang cho biết, đến nay, đơn vị đã ký kết thỏa thuận hợp tác với các ngân hàng: Agribank; BIDV; Vietinbank; Vietcombank; LienVietPostBank… và tổ chức trung gian như VNPost, Viettel, Ecpay; Payoo… để triển khai dịch vụ thu hộ tiền điện. 

    Nhân viên Công ty cổ phần giải pháp thanh toán Điện lực và Viễn thông (ECPay) Hiệp Hòa hướng dẫn khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt.

    Nhân viên Công ty cổ phần giải pháp thanh toán Điện lực và Viễn thông (ECPay) Hiệp Hòa hướng dẫn khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt.

    Theo đó, các đối tác của Công ty đã tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho khách hàng thanh toán bằng nhiều phương thức như: Trích nợ tự động tài khoản, thanh toán qua Internet Banking, Mobile banking, thanh toán tại phòng giao dịch các ngân hàng bằng chuyển khoản, qua ví điện tử hoặc tại phòng giao dịch của điện lực các huyện, TP…

    Thượng tá Nguyễn Đức Tâm, Giám đốc kênh ViettelPay của Viettel Bắc Giang trao đổi, do đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu nên lượng khách hàng lựa chọn thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt tăng khá nhanh, từ đầu năm đến nay có khoảng 8 nghìn giao dịch mới. Đơn vị phấn đấu hết năm 2019 có từ 20-25 nghìn khách hàng sử dụng dịch vụ này.

    Được biết, với mục tiêu tiến tới bàn giao toàn bộ hoạt động thu tiền điện cho các ngân hàng, tổ chức tài chính đối tác, Công ty Điện lực Bắc Giang sẽ tiếp tục phối hợp tuyên truyền và áp dụng những gói hỗ trợ nhằm khuyến khích khách hàng thanh toán tiền điện không sử dụng tiền mặt.

    Theo: Quốc Phương (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Dệt may gặp khó vì đơn hàng bị ‘chia nhỏ’

    Dệt may gặp khó vì đơn hàng bị ‘chia nhỏ’

    (Chinhphu.vn) – Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, các doanh nghiệp dệt may trong nước đứng trước nhiều thách thức trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiện, tình hình đơn hàng của các doanh nghiệp không được khả quan so với năm 2018.

    Ngành dệt may đang đối diện với tình trạng các đơn hàng bị “chia nhỏ”. Ảnh: VITAS.

    Báo cáo của Bộ Công Thương cho biết, do căng thẳng thương mại Mỹ-Trung ảnh hưởng tới tỉ giá giữa các đồng tiền, giá hàng hóa gia công tại Việt Nam cao hơn so với một số nước trong khu vực như Hàn Quốc, Trung Quốc dẫn tới ảnh hưởng đến các đơn hàng xuất khẩu, đặc biệt với nhóm hàng dệt may.

    Theo đó, một số doanh nghiệp số đơn hàng mới chỉ bằng khoảng 70% so với cùng kỳ năm 2018. Đặc biệt, việc tiêu thụ sợi và nguyên phụ liệu gặp rất nhiều khó khăn vì thị trường xuất khẩu chủ lực là Trung Quốc (chiếm 60%) cắt giảm lượng nhập hàng.

    Trong khi đó, mặt hàng may mặc cũng gặp tình trạng sụt giảm đơn hàng. Nếu như trong năm 2018, tới thời điểm giữa năm, nhiều doanh nghiệp lớn trong ngành đã có đơn hàng đến hết năm, thì thời điểm năm 2019 chỉ ký được các đơn hàng có số lượng nhỏ và ký theo tháng. Tâm lý chung của người mua đều lo ngại cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc sẽ leo thang, nên các đơn hàng bị “chia nhỏ” thay vì đặt số lượng lớn như những năm trước.

    Tính đến thời điểm hiện tại, theo báo cáo của Bộ Công Thương, 8 tháng đầu năm 2019, vải dệt từ sợi tự nhiên ước đạt 412,8 triệu m2, tăng 10,5%; sản xuất vải dệt từ sợi tổng hợp và sợi nhân tạo ước đạt 786,8 triệu m2, tăng 9,9%; quần áo mặc thường ước đạt 3.359,5 triệu cái, tăng 8,9% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc 8 tháng ước đạt 21,7 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ.

    “Mặc dù sản xuất và xuất khẩu dệt may đều có sự tăng trưởng so với cùng kỳ, nhưng do các đơn hàng liên tục thay đổi, nên các doanh nghiệp cần phải có nhiều biện pháp nhằm thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh để phù hợp với tình hình”, lãnh đạo Bộ Công Thương nhìn nhận.

    Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), thừa nhận từ quý IV/2018 đến nay, ngành dệt may chịu nhiều tổn thất do ảnh hưởng bởi cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung. Trong đó, xuất khẩu sợi vào Trung Quốc giảm mạnh do sức mua của các nhà sản xuất ở đây giảm. Bên cạnh đó, cuộc chiến thương mại cũng đang tạo sức ép cho nguồn cung của ngành dệt may Việt Nam với việc các doanh nghiệp dệt may đang phải trả chi phí cao hơn để mua vải từ Trung Quốc trong khi vẫn phải chịu áp lực giảm giá từ các đơn hàng xuất khẩu.

    “Mục tiêu năm 2019 xuất khẩu dệt may đạt 39,5-40 tỷ USD, trong đó Mỹ là thị trường chính chiếm hơn 40% kim ngạch. Các DN dệt may chủ động đẩy mạnh xuất khẩu sợi sang Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật và các nước Trung Đông nên dù có khó khăn nhưng tăng trưởng 8 tháng vẫn đạt 10%”, ông Giang cho biết.

    Theo: PT (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • Giải quyết đến cùng nếu phát hiện gian lận xuất xứ

    Giải quyết đến cùng nếu phát hiện gian lận xuất xứ

    (Chinhphu.vn) – Việc gia tăng nhanh các dự án FDI trong ngành lâm nghiệp sẽ gây khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng của các dự án này, cùng với đó là tiềm ẩn nguy cơ gian lận thương mại, giả xuất xứ hàng hoá…

    Toàn cảnh hội nghị – Ảnh: VGP/ Đỗ Hương

    Ngày 11/9, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tổ chức cuộc họp với các Hiệp hội gỗ, lâm sản nhằm đánh giá tình hình chế biến, xuất khẩu gỗ, lâm sản những tháng đầu năm 2019 và các giải pháp thúc đẩy chế biến, xuất gỗ, lâm sản năm 2019 và thời gian tới.

    Theo ông Nguyễn Quốc Trị, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, hiện nay nhu cầu từ thị trường Mỹ với các mặt hàng gỗ từ các quốc gia khác và từ Việt Nam có thể sẽ tăng lên để bù đắp vào phần thiếu hụt hàng hóa do thuế tăng cao từ thị trường Trung Quốc. Mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ chủ yếu là các sản phẩm đồ gỗ có giá trị gia tăng cao nên ngành chế biến gỗ xuất khẩu có cơ hội chuyển đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng xuất khẩu nhóm các mặt hàng có giá trị gia tăng, giảm tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng nguyên liệu gỗ. 

    Hiệp định đối tác tự nguyện giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu về thực thi Luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) đã có hiệu lực từ ngày 1/6/2019. Qua đó, sẽ thúc đẩy các hoạt động thương mại gỗ và sản phẩm gỗ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu lâm sản vào EU cũng như các thị trường khác.

    Triển vọng là vậy, tuy nhiên theo đánh giá của ngành lâm nghiệp, thị trường gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam cũng đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn trong làn sóng FDI dồn dập vào ngành hàng này.

    Đảm bảo nguyên liệu gỗ trong nước cho tốc độ phát triển xuất khẩu của ngành sẽ giúp giá trị tăng cao và bền vững. Ảnh: VGP/Đỗ Hương

    Theo các Hiệp hội gỗ, lâm sản việc gia tăng các dự án FDI sẽ gây khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng của các dự án FDI, nguy cơ về tiếp nhận các dự án có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, không đảm bảo các yêu cầu về môi trường. 

    Cùng với đó là nguy cơ gian lận thương mại, giả xuất xứ hàng hóa để lợi dụng thuế nhập khẩu thấp hơn từ Việt Nam so với từ Trung Quốc sang Mỹ. Việc gian lận này chủ yếu theo hình thức, các doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm hoặc bán sản phẩm từ Trung Quốc sau đó sơ chế để xuất khẩu sang Mỹ bằng xuất xứ hàng hóa Việt Nam. Điều này sẽ rất nguy hiểm, gây tổn hại lớn đến ngành gỗ.

    Đối với mặt hàng ván dán, theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2018, xuất khẩu gỗ dán của Việt Nam vào Mỹ là 189,7 triệu USD, tăng 269,8% so với 2017; 6 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu đạt 108,2 triệu USD, tăng 56,8% so với cùng kỳ năm 2018, tăng cao hơn so với mức tăng bình quân xuất khẩu các mặt hàng gỗ vào Mỹ. Vì vậy, cần quan tâm và có sự kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ đến quá trình sản xuất, chế biến và xuất khẩu mặt hàng ván dán từ Việt Nam và Mỹ.

    Liên quan đến việc đảm bảo thực thi quy định của pháp luật trong lĩnh vực chế biến lâm sản, ông Nguyễn Quốc Trị kiến nghị, cần tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện việc chấp hành hồ sơ, nguồn gốc gỗ theo quy định của Bộ NN&PTNT. 

    Đồng thời, đề nghị các Bộ: Công Thương, Tài chính và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam kiểm soát chặt chẽ việc cấp giấy, sử dụng giấy chứng nhận xuất xứ sản phẩm (C/O) cho một số mặt hàng gỗ có nguy cơ gian lận thương mại. Đề nghị các hiệp hội chế biến gỗ và lâm sản tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định của pháp luật về nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm. Đồng thời, kịp thời phát hiện và thông báo đến các cơ quan quản lý nhà nước để xử lý kịp thời các hành vi gian lận thương mại.

    Theo Thứ trưởng Thường trực Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn, với những diễn biến về thị trường từ đầu năm đến nay, mục tiêu xuất khẩu 11 tỷ USD năm 2019 của gỗ và lâm sản có thể đạt được. Thứ trưởng Hà Công Tuấn đề nghị, Tổng Cục Lâm nghiệp và Viện Chính sách và Chiến lược nông nghiệp nông thôn báo cáo với Bộ trong tháng 9 này về xu hướng chuyển dịch thương mại, ứng xử như thế nào về truy xuất nguồn gốc, đảm bảo chống gian lận xuất xứ, nhất là đối với sản phẩm gỗ dán. Cần đánh giá kỹ, hiện có bao nhiêu nhà máy sản xuất kinh doanh gỗ dán? Công suất như thế nào? Sản xuất thực chất được bao nhiêu? Nhu cầu sử dụng gỗ dán cho ngành sản xuất trong nước là bao nhiêu?

    “Việc Mỹ tăng thuế xuất khẩu đối với gỗ dán Trung Quốc thì đây là cơ hội cho gỗ dán Việt và lượng xuất khẩu tăng lên là bình thường. Tuy nhiên, trước tình trạng mặt hàng hiện đang nghi ngờ có hành vi gian lận thương mại cần xem lại hiện tượng gian lận có hay không và nếu có thì phải giải quyết đến cùng, cần thiết thì cấm xuất ngay”, Thứ trưởng Hà Công Tuấn nhấn mạnh.

    Bộ NN&PTNT cũng đang tiến hành Dự thảo Nghị định về Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp để trình Chính phủ nhằm đảm bảo phù hợp với Luật Lâm nghiệp và Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi Luật Lâm nghiệp, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản VPA/FLEGT.

    Việt Nam sẽ ổn định độ che phủ rừng là 42%, có 4 triệu ha rừng trồng, trong đó có 3,2 triệu ha rừng sản xuất, nếu như chu kỳ 10 năm thâm canh giống tốt, mỗi năm sẽ có 40-50 triệu m3 gỗ nguyên liệu trong nước. Như vậy, sản lượng nguyên liệu gỗ có thể tăng gấp đôi, Thứ trưởng Hà Công Tuấn đề nghị giá trị ngành này cũng phải tăng gấp 2-3 lần, trong đó, giá trị xuất khẩu tăng gấp 2 lần. 

    Theo: Đỗ Hương (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • Không được uống rượu, bia tại công viên, sân vận động

    Không được uống rượu, bia tại công viên, sân vận động

    (Chinhphu.vn) – Đây là đề xuất của Bộ Y tế tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia.

    Ảnh minh họa

    Dự thảo nêu rõ về địa điểm công cộng không được uống rượu, bia. Theo đó, ngoài các địa điểm quy định các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều 10 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia, các địa điểm công cộng khác không được uống rượu, bia bao gồm: 1. Công viên; 2. Trạm dừng nghỉ trên đường cao tốc, nhà chờ xe buýt; 3. Rạp chiếu phim, nhà hát; 4. Sân vận động, nhà thi đấu thể thao.

    Về quản lý việc quảng cáo rượu, bia có độ cồn dưới 5,5 độ, dự thảo quy định, các trường hợp được quảng cáo rượu, bia có độ cồn dưới 5,5 độ trên báo nói, báo hình trong thời gian từ 18 giờ đến 21 giờ hằng ngày bao gồm: Quảng cáo rượu, bia của đơn vị tài trợ tại địa điểm tổ chức chương trình đại hội thể thao, giải thi đấu thể thao quy mô khu vực, châu lục hoặc thế giới tổ chức tại Việt Nam được phát sóng trực tiếp trên báo nói, báo hình;

    Quảng cáo rượu, bia trên phương tiện quảng cáo ngoài trời phải tuân thủ các quy định sau đây: Kích thước biển quảng cáo thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với phương tiện quảng cáo; bảo đảm khoảng cách tối thiểu là 500m tính từ điểm đặt phương tiện quảng cáo đến khuôn viên của cơ sở giáo dục, cơ sở, khu vực chăm sóc, nuôi dưỡng vui chơi, giải trí dành cho người chưa đủ 18 tuổi, trừ trường hợp biển hiệu của cơ sở kinh doanh rượu, bia. Trường hợp đã có quảng cáo rượu, bia trên phương tiện quảng cáo ngoài trời trong phạm vi trên trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì tiếp tục được thực hiện hoạt động quảng cáo đến khi hết hợp đồng quảng cáo trên.

    Quảng cáo rượu, bia phải có cảnh báo để phòng, chống tác hại của rượu, bia bảo đảm các quy định sau đây: Cảnh báo để phòng, chống tác hại của rượu, bia bao gồm một trong các nội dung: “không được lái xe khi đã uống rượu, bia”, “người dưới 18 tuổi không được uống rượu, bia”, “không bán rượu, bia cho người dưới 18 tuổi”, “rượu, bia có hại cho thai nhi”, “phụ nữ mang thai không uống rượu, bia”, “uống rượu, bia có thể gây xơ gan”, “uống rượu, bia có thể gây ung thư”;

    Chi hỗ trợ các hoạt động tư vấn cai nghiện rượu, bia

    Dự thảo đề xuất về chi thù lao người thực hiện tư vấn cai nghiện rượu, bia như sau: Chi cho nhân viên tư vấn cai nghiện rượu, bia theo hợp đồng lao động. Mức tiền công và các khoản phụ cấp của người lao động được trả theo thỏa thuận dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc của người lao động và các quy định của pháp luật về chế độ tiền lương, tiền công. Mức tiền công cho nhân viên tư vấn tối đa là 6.000.000 đồng/tháng (bao gồm tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, phí công đoàn).

    Chi cho cán bộ y tế tham gia công tác tư vấn cai nghiện rượu, bia ngoài giờ thực hiện theo quy định của Bộ Nội Vụ, Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ đối với cán bộ, công chức, viên chức và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có).

    Chi cho các khoản điện, nước, văn phòng phẩm, phô tô tài liệu để duy trì hoạt động. Mức chi theo thực tế nhưng không quá 5.000.000 đồng/tháng/cơ sở.

    Chi sàng lọc, phát hiện sớm yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe của người uống rượu, bia; người mắc bệnh, rối loạn chức năng do uống rượu, bia; người nghiện rượu, bia: Chi thù lao người thực hiện sàng lọc như sau: Chi cho nhân viên theo hợp đồng lao động. Mức tiền công và các khoản phụ cấp của người lao động được trả theo thỏa thuận dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc của người lao động và các quy định của pháp luật về chế độ tiền lương, tiền công. Mức tiền công cho nhân viên tư vấn tối đa là 6.000.000 đồng/tháng.

    Chi thực hiện các kỹ thuật cận lâm sàng theo quy trình chuyên môn của Bộ Y tế đối với người có thẻ bảo hiểm y tế được bảo hiểm y tế thanh toán theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

    Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây.

    Theo: KL (Cổng Thông tin điện tử Chỉnh phủ)

  • Bắc Giang nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): Quyết liệt, rõ việc từng bộ phận

    Bắc Giang nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): Quyết liệt, rõ việc từng bộ phận

    (BGĐT) – Nhằm tăng điểm cho chỉ số PCI của tỉnh Bắc Giang, gần đây, một số ngành, địa phương đã chỉ đạo triển khai biện pháp quyết liệt trong cải cách thủ tục hành chính, minh bạch thông tin liên quan đến thu hút đầu tư, từ đó giúp các doanh nghiệp (DN) sớm bắt tay vào sản xuất, kinh doanh.

    Mở rộng phạm vi phục vụ

    Đầu tháng 7 vừa rồi, anh Dương Văn Điển ở số nhà 398, đường Hoàng Văn Thụ, phường Hoàng Văn Thụ (TP Bắc Giang) đến Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) làm thủ tục đăng ký kinh doanh (ĐKKD) thành lập Công ty cổ phần Lê Hoàng Dương, chuyên kinh doanh bất động sản. 

    Hoạt động sản xuất tại Công ty YOKOI Mould Việt Nam, Khu công nghiệp Đình Trám (Việt Yên). Ảnh: Thành Đạt

    Hoạt động sản xuất tại Công ty YOKOI Mould Việt Nam, Khu công nghiệp Đình Trám (Việt Yên). Ảnh: Thành Đạt

    Trước đây, anh Điển cũng đã thành lập công ty TNHH chuyên kinh doanh đồ gia dụng, nay chuyển sang mô hình mới có quy mô lớn hơn và mở thêm ngành nghề kinh doanh. Anh Điển nói: “Ba năm trước, tôi đi làm thủ tục xin cấp giấy phép ĐKKD cũng có thuận lợi song lần này được thực hiện nhanh gọn, kịp thời hơn. Các cán bộ, nhân viên ở đây nhiệt tình hướng dẫn, không phải đi lại nhiều lần”.

    Theo anh Điển, sau 1,5 ngày, sớm hơn quy định một nửa thời gian, anh đã nhận được giấy chứng nhận ĐKKD, với mức phí chỉ vài trăm nghìn đồng. Điểm mới nữa, DN đã được hỗ trợ làm thủ tục cấp con dấu, mở tài khoản tại ngân hàng và đăng ký chữ ký số, phần mềm kế toán doanh nghiệp…

    Thực tế thời gian gần đây, công tác ĐKKD được thực hiện tại Sở KH&ĐT luôn nhận được sự hài lòng của khách hàng. Trong những ngày này, cán bộ, nhân viên Phòng ĐKKD dường như tất bật hơn khi thực hiện cam kết xây dựng mô hình “ĐKKD thân thiện”. 

    Đây là một trong những nội dung quan trọng của Sở trong việc góp phần nâng cao chỉ số PCI. Ông Nguyễn Vũ Điển, Trưởng phòng ĐKKD cho biết: “Trước hết, chúng tôi quán triệt tư tưởng, nhận thức để tạo sự chuyển biến mạnh trong đội ngũ cán bộ, công chức về thái độ, trách nhiệm, tác phong thực hiện công vụ. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, thái độ phục vụ thân thiện, xây dựng nền hành chính phục vụ”.

    Theo ông Nguyễn Vũ Điển, với phương châm “Tiến độ- Áp lực – Chất lượng”, Phòng ĐKKD đã tăng cường làm thêm cả ngoài giờ để quyết tâm rút ngắn tối đa thời gian cấp giấy chứng nhận ĐKKD, mục tiêu cụ thể là nâng 100% tỷ lệ cấp ĐKKD qua mạng. 

    Trong đó, cấp mới đạt trên 85%; cấp thay đổi đạt trên 60% hồ sơ và tiến tới đạt trên 90%. Đồng thời, triển khai dịch vụ trả kết quả tại nhà/trụ sở DN; triển khai hỗ trợ DN dịch vụ đầu số hotline – tin nhắn thương hiệu, chữ ký số công cộng…

    Các cấp, ngành cùng vào cuộc

    Không chỉ Sở KH&ĐT- ngành có nhiều công việc liên quan đến DN, nhà đầu tư đã có chuyển biến rõ nét trong việc hỗ trợ DN, nhiều địa phương khác của tỉnh cũng vậy. 

    Đại diện doanh nghiệp nêu ý kiến tại “Chương trình Cafe doanh nhân” do Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh tổ chức.

    Ông Mai Sơn, Chủ tịch UBND TP Bắc Giang cho biết, là địa phương tập trung nhiều DN, nhà đầu tư đến tìm kiếm cơ hội làm ăn nên TP Bắc Giang đã phối hợp với Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển DN (Sở KH&ĐT) xây dựng Kế hoạch triển khai hoạt động phối hợp hỗ trợ DN, nhà đầu tư. 

    Trong đó, tập trung vào các hoạt động tư vấn hỗ trợ DN; đào tạo tập huấn về những kiến thức liên quan đến quản trị DN… “Chúng tôi xác định, muốn nâng cao điểm số PCI, trọng tâm là tạo mọi điều kiện để DN, nhà đầu tư tiếp cận đất đai. Vì thế, ưu tiên hỗ trợ DN, nhà đầu tư trong giải phóng mặt bằng; cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn TP”, ông Mai Sơn nói.

    Trong đó, áp dụng cơ chế liên thông điện tử, văn phòng điện tử, luân chuyển hồ sơ điện tử qua môi trường mạng và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng, thuế, tài chính…Năm 2020, tỉnh phấn đấu xếp hạng PCI sẽ nằm trong nhóm 15 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước. Muốn vậy, các cơ quan chức năng cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giúp các DN sớm gia nhập thị trường, bắt tay vào kinh doanh, sản xuất. 

    Hỗ trợ các DN, nhà đầu tư tiếp cận thông tin, bình đẳng tiếp cận nguồn lực và cơ hội đầu tư, kinh doanh cũng có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi DN. Điều này cũng sẽ quyết định nhiều đến việc tăng điểm chỉ số PCI. 

    Vì thế, cổng thông tin điện tử của tỉnh và các website của các sở, ngành, huyện, TP cập nhật kịp thời các thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động kinh doanh của các DN. Trong đó, rất cần công khai minh bạch về quy hoạch, kế hoạch, chủ trương, chính sách, quan điểm của Nhà nước, của tỉnh về thu hút đầu tư; danh mục các dự án kêu gọi đầu tư, cách lựa chọn nhà đầu tư có sử dụng đất…

    Ông Nguyễn Cường, Phó Giám đốc Sở KH&ĐT cho biết, điều quan trọng của các sở, ngành tỉnh và UBND các huyện, TP là tiếp tục cắt giảm thời gian thực hiện và liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính và đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động điều hành, giải quyết công việc, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và kết nối giữa Nhà nước với DN, nhà đầu tư. 

    Ông Nguyễn Cường nói: “Sở KH&ĐT sẽ chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan rà soát tất cả các vấn đề chồng chéo, vướng mắc trong các quy định pháp luật hiện hành về quá trình triển khai đầu tư, hoạt động của DN để tham mưu giải pháp xử lý theo thẩm quyền của tỉnh hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét”.

    Theo: Đỗ Thành Nam (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Chương trình mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn: Tăng diện bao phủ nước sạch

    Chương trình mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn: Tăng diện bao phủ nước sạch

    (BGĐT) – Thực hiện Chương trình “Mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn dựa trên kết quả” (gọi tắt là chương trình mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn) từ nguồn vốn vay Ngân hàng Thế giới (WB), nhiều công trình nước sạch trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã đi vào hoạt động. Qua đây giúp ngày càng có nhiều người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh.

    Bảo đảm chất lượng nước

    Trước kia, do công trình xây dựng lâu năm, cơ sở vật chất bị xuống cấp, ảnh hưởng một phần đến chất lượng nguồn nước, đầu năm 2019, hệ thống cấp nước thị trấn Thắng (Hiệp Hòa) được hỗ trợ 27 tỷ đồng từ nguồn vốn WB thuộc chương trình mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn. 

    Công nhân kiểm tra thiết bị máy móc tại hệ thống cấp nước thị trấn Thắng (Hiệp Hòa).

    Công nhân kiểm tra thiết bị máy móc tại hệ thống cấp nước thị trấn Thắng (Hiệp Hòa).

    Theo đó, toàn bộ các hạng mục được đầu tư sửa chữa, nâng cấp, công suất nâng từ 200 lên 400 m3/ngày đêm. Ông Thân Đức Thành, Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Cấp nước Hiệp Hòa, đơn vị quản lý công trình cho hay: Nhờ hưởng lợi từ chương trình, đơn vị tận dụng công trình có sẵn để nâng cấp giúp bà con trong vùng hạn chế sử dụng nguồn nước giếng khoan không bảo đảm. Đến nay, ngoài thị trấn, toàn bộ người dân 6 xã: Thái Sơn, Ngọc Sơn, Hoàng Vân, Hoàng An, Hùng Sơn và Hòa Sơn có nước sạch sinh hoạt.

    Hiện huyện Hiệp Hòa có các công trình nước sạch được đầu tư từ nguồn vốn WB đang hoạt động hiệu quả như ở thị trấn Thắng, xã Xuân Cẩm; riêng công trình xã Mai Đình đang duy tu. Các công trình này đã góp phần nâng tỷ lệ người dân trong huyện được dùng nước sạch đạt 90%.

    Tương tự, công trình nước sinh hoạt tập trung thuộc Trạm xử lý nước sạch thị trấn Cầu Gồ (Yên Thế) do Công ty cổ phần Phát triển cộng đồng thế giới quản lý đưa vào sử dụng từ năm 2008, công suất 450 m3/ngày đêm, cung cấp nước cho 900 hộ tại thị trấn, một phần các xã Tam Hiệp, Phồn Xương, Đồng Tâm. Tháng 1-2019, đơn vị đưa vào vận hành hệ thống mới được mở rộng và cấp nước cho 3 xã: Tam Hiệp, Đồng Tâm và Phồn Xương với 500 hộ. Các hộ sử dụng nước sạch không mất tiền lắp đồng hồ mới.

    Các huyện còn lại cũng được thụ hưởng nguồn vốn WB xây dựng, cải tạo công trình, đấu nối cấp nước sạch cho bà con. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nước, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân mà còn là cơ sở để các địa phương triển khai hiệu quả tiêu chí trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Tính từ năm 2016 đến nay, chương trình hỗ trợ hơn 7 nghìn hộ dân được sử dụng nước sạch, phục vụ cuộc sống.

    Mở rộng phạm vi chương trình

    Bắc Giang là một trong 21 tỉnh được thụ hưởng từ chương trình mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn. Chương trình thực hiện 3 hợp phần, trong đó Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Sở Nông nghiệp và PTNT) đảm nhận hợp phần 1 về “Cấp nước nông thôn”, triển khai ở 50 xã, thị trấn tại các huyện trong tỉnh. 

    Trạm xử lý nước sạch thị trấn Cầu Gồ (Yên Thế) được đầu tư mở rộng từ nguồn vốn WB.                                 Ảnh: Như Hoa

    Trạm xử lý nước sạch thị trấn Cầu Gồ (Yên Thế) được đầu tư mở rộng từ nguồn vốn WB. Ảnh: Như Hoa

    Để thực hiện hiệu quả chương trình, ngay từ khi mới thực hiện, Trung tâm tổ chức nhiều buổi tuyên truyền, phổ biến kiến thức đến người dân về lợi ích của sử dụng nước sạch với sức khỏe cộng đồng, bảo đảm vệ sinh môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống.

    UBND tỉnh có văn bản yêu cầu các địa phương, doanh nghiệp chủ động phối hợp, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư triển khai các dự án phát triển mạng lưới cấp nước… Đặc biệt, thực hiện Thông tư số 54 ngày 4-5-2013 của Bộ Tài chính về việc quản lý, sử dụng và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung, UBND tỉnh có quyết định bàn giao một số công trình nước sạch cho doanh nghiệp quản lý, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư các nguồn vốn WB. 

    Một số công trình sau khi đi vào hoạt động cung cấp miễn phí nước trong khoảng thời gian đầu cho bà con để giúp các hộ thay đổi nhận thức về sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh trong sinh hoạt.

    Thực hiện chương trình, năm 2019 toàn tỉnh xây mới và sửa chữa, nâng cấp 9 công trình cấp nước tập trung tại 19 xã ở các huyện: Lục Ngạn, Hiệp Hòa, Yên Thế, Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn Động. Tổng kinh phí hơn 125 tỷ đồng; phấn đấu đến năm 2020 đạt hơn 95% người dân nông thôn sử dụng nước sạch. 

    Ông Trần Văn Quý, Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn cho biết: “Thời gian tới, đơn vị tiếp tục chú trọng công tác truyền thông về lợi ích của việc sử dụng nước sạch tới người dân; sát sao trong lựa chọn nhà thầu thi công, công tác giám sát chất lượng nguồn nước của các công trình đã, đang nghiệm thu cũng được làm chặt chẽ, bảo đảm chất lượng nước phục vụ người dân”.

    Theo: Hoàng Phương (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Điện lực Bắc Giang không cắt điện trong những ngày nắng nóng

    Điện lực Bắc Giang không cắt điện trong những ngày nắng nóng

    (BGĐT) – Những ngày gần đây, do thời tiết nắng nóng, oi bức nên lượng điện tiêu thụ liên tục tăng, đỉnh điểm là ngày 13-8 với mức cao nhất từ trước đến nay.

    Công nhân Điện lực Việt Yên sửa chữa lưới điện.

    Công nhân Điện lực Việt Yên sửa chữa lưới điện.

    Cụ thể, trong ngày 10-8, công suất đạt 600 MW, sản lượng 12,7 triệu kWh; công suất ngày 11-8 là 581 MW, sản lượng 12 triệu kWh; ngày 12-8 đạt công suất 657 MW, sản lượng 13,7 triệu kWh; đỉnh điểm là ngày hôm qua (13-8), công suất lên tới 675 MW, sản lượng 14,1 triệu kWh, tăng 19 MW về công suất và 0,1 triệu kWh so với ngày tiêu thụ cao nhất của tháng 7.

    Trước tình hình đó, để hạn chế ảnh hưởng của nắng nóng đến người dân và các doanh nghiệp, Công ty Điện lực Bắc Giang không thực hiện cắt điện, trừ các trường hợp sự cố.

    Trong thời gian tới dự báo còn có một số đợt nắng nóng nhiều ngày, Công ty Điện lực Bắc Giang đề nghị các cơ quan, công sở, doanh nghiệp và người dân sử dụng điện an toàn, tiết kiệm. Hạn chế dùng đồng thời nhiều thiết bị tiêu thụ điện lớn có thể dẫn đến quá tải, cháy nổ. 

    Theo: Quốc Phương (Báo Bắc Giang điện tử)

  • Hội nghị “Xin ý kiến mẫu phiếu khảo sát đánh giá năng lực điều hành cấp sở, ban, ngành và địa phương thuộc tỉnh (DDCI) năm 2019”

    Hội nghị “Xin ý kiến mẫu phiếu khảo sát đánh giá năng lực điều hành cấp sở, ban, ngành và địa phương thuộc tỉnh (DDCI) năm 2019”

    Ngày 31/7, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp – Sở Kế hoạch và Đầu tư tổ chức Hội nghị “Xin ý kiến mẫu phiếu khảo sát đánh giá năng lực điều hành cấp sở, ban, ngành và địa phương thuộc tỉnh (DDCI) năm 2019”.

    Tham dự hội nghị có đại diện các đơn vị như: Ủy ban mặt trận tổ quốc, Ban dân vận, Sở Tài chính, Sở Nội vụ, Đảng ủy khối doanh nghiệp tỉnh, Hội liên hiệp các tổ chức khoa học kỹ thuật và đại diện các tổ chức hội doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh… và đặc biệt là TS. Phạm Hùng Tiến – Quyền Viện trưởng Viện Fredrich Naumann Việt Nam (FNF Việt Nam).

    Đồng chí Nguyễn Cường – Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì hội nghị đã nêu bật ý nghĩa của việc khảo sát DDCI nhằm thúc đẩy cải thiện chất lượng điều hành của các sở, ngành, UBND các huyện, thành phố; tạo động lực cải cách liên tục và đồng bộ giữa các ngành, các cấp nhằm tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, minh bạch. DDCI nhằm hướng đến các mục tiêu như: Xây dựng hình ảnh thân thiện và cầu thị của chính quyền đối với cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời cung cấp cho lãnh đạo tỉnh, một công cụ hiệu quả để giảm sát và chỉ đạo cải thiện chất lượng điều hành đối với các sở, ngành, và UBND các huyện, thành phố và đặc biệt đây còn là kênh thông tin phản hồi rộng rãi, minh bạch và tin cậy để nhà đầu tư, doanh nghiệp tham gia đóng góp ý kiến đối với chính quyền địa phương và các sở, ngành trong việc nâng cao chất lượng điều hành qua đó góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh.

    Hội nghị đã được nghe 09 ý kiến đóng góp và đề nghị làm rõ về mẫu phiếu khảo sát của các đơn vị tham dự; Ông Đồng Anh Quân – Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp đã đứng lên tiếp thu, giải trình và làm rõ các nội dung ý kiến của các đại biểu tham dự.

    Các đại biểu tham dự hội nghị đều đánh giá cao chất lượng công tác xây dựng phiếu khảo sát của Trung tâm, phiếu khảo sát năm 2019 được bố trí một cách khoa học, logic, nội dung phiếu bám sát vào các nội dung giảm điểm trong các chỉ tiêu thành phần của PCI năm 2018 và các vấn đề đang nóng tại địa phương.

    Phát biểu tại Hội nghị, TS. Phạm Hùng Tiến cho biết Viện FNF đã đồng hành cùng Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp đến nay được 4 năm và tính đến nay thì Trung tâm là đối tác duy nhất của FNF mà không phải là cơ quan làm ra chính sách. Ông đánh giá cao công tác triển khai DDCI tại Bắc Giang, và ông cho rằng Trung tâm đang đi đúng hướng; đồng thời, ông cũng chia sẽ những kinh nghiệm của bản thân khi đã từng tham gia các cuộc điều tra xã hội học tại một số nước phát triển như: Mỹ, Đức…

    Tổng kết Hội nghị, đ/c Nguyễn Cường đã cảm ơn các ý kiến tham gia đóng góp của các đại biểu tham dự, đề nghị Trung tâm tiếp thu các ý kiến đóng góp và cùng với Ban pháp chế – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nghiên cứu sớm hoàn thiện mẫu phiếu để triển khai thực hiện các bước tiếp theo.

    Phòng PTDN

  • Thực hiện nghiêm quy định thời gian làm việc và quy định không uống rượu, bia

    Thực hiện nghiêm quy định thời gian làm việc và quy định không uống rượu, bia

    Ngày 29/7/2019, Tỉnh ủy Bắc Giang ban hành Công văn số 1937-CV/TU về việc thực hiện nghiêm quy định thời gian làm việc và quy định không uống rượu, bia.

    Thực hiện nghiêm quy định về giờ giấc làm việc và không uống rượu, bia. Ảnh minh họa: (nguồn internet).

    Theo đó, Thường trực Tỉnh ủy yêu cầu người đứng đầu các cấp, các ngành có trách nhiệm giáo dục, nhắc nhở, yêu cầu cán bộ, đảng viên thuộc quyền quản lý thực hiện nghiêm quy định về thời gian, giờ làm việc hành chính, quy định về không uống rượu, bia trong giờ hành chính, buổi trưa các ngày làm việc, ngày trực và trước khi điều khiển phương tiện cơ giới tham gia giao thông. Nghiêm cấm cán bộ, đảng viên la cà hàng quán trong giờ làm việc. Xử lý nghiêm và ngay lập tức khi phát hiện các trường hợp vi phạm. Nếu người đứng đầu cơ quan, đơn vị không giáo dục, quản lý để cán bộ, đảng viên dưới quyền vi phạm mà không phát hiện thì phải chịu trách nhiệm liên đới; nếu phát hiện vi phạm mà không xử lý, xử lý không nghiêm, không kịp thời thì thủ trưởng bị xem xét xử lý kỷ luật.

    UBND tỉnh chỉ đạo tăng cường hoạt động thanh tra công vụ; yêu cầu Sở Nội vụ thành lập Tổ công tác đi kiểm tra thường xuyên, đột xuất việc thực hiện quy định trên. Nếu phát hiện vi phạm về thời gian, giờ làm việc (đi muộn, về sớm, không có mặt tại vị trí làm việc trong giờ làm việc,…) thì lập biên bản; trường hợp phát hiện cán bộ, đảng viên la cà hàng quán trong giờ hành chính, uống rượu, bia trong giờ hành chính, buổi trưa các ngày làm việc, ngày trực và trước khi điều khiển phương tiện cơ giới tham gia giao thông thì chụp ảnh và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét xử lý ngay.

    Giao Văn phòng Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Công văn này. Công văn này được phổ biến đến các chi bộ, cán bộ, đảng viên để thực hiện

    *Xem chi tiết Công văn tại đây./.

    Theo: Nguyễn An (Cổng thông tin điện tử Bắc Giang)

  • Các địa phương đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh

    Các địa phương đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh

    (Chinhphu.vn) – Thực hiện Nghị quyết 02 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, các địa phương đang tiếp tục triển khai nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển.

    Hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít vướng mắc.

    Chính quyền xin lỗi doanh nghiệp

    Ngày 19/7, tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp lần thứ 1 năm 2019, có sự tham dự của lãnh đạo tỉnh  và 130 doanh nghiệp.

    Tại hội nghị, ngoài các ý kiến đã gửi bằng văn bản và được Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại- Du lịch tỉnh thống kê, đại diện các doanh nghiệp đã đặt ra 14 ý kiến trực tiếp, đối thoại với lãnh đạo UBND tỉnh, các sở ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh.

    Theo đó, một số ý kiến như Công ty Trách nhiệm hữu hạn Apolo Việt Nam (chủ sở hữu người Hàn Quốc) kiến nghị về tình trạng ô nhiễm môi trường tại khu công nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động từ năm 2018; doanh nghiệp Vườn Thương kiến nghị đã 9 năm qua, thành phố Đà Lạt ra quyết định thu hồi đất đã cấp cho doanh nghiệp mà chưa có phương án bồi thường; hay doanh nghiệp tư nhân sản xuất tơ lụa Lâm Đồng đề nghị tỉnh xem xét chính sách thu hút đầu tư đối với các doanh nghiệp nước ngoài trên lĩnh vực sản xuất tơ lụa vào địa bàn…

    Tại hội nghị, đại diện UBND tỉnh, lãnh đạo các sở ngành, địa phương đã tiếp thu và đưa ra phương án giải quyết những vướng mắc của các doanh nghiệp nêu ra.

    Chủ tịch UBND thành phố Đà Lạt Tôn Thiện San đã công khai xin lỗi doanh nghiệp Vườn Thương vì thời gian giải quyết vướng mắc quá lâu. Ông Tôn Thiện San cũng đề nghị doanh nghiệp cùng tìm cách tháo gỡ những khó khăn trong quá trình giải quyết, do các loại cây thuốc quý hiếm mà doanh nghiệp trồng trên diện tích phải giải tỏa không có trong danh mục của nhà nước, nên chưa có biểu giá để tính toán bồi thường…

    Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Đoàn Văn Việt đã chỉ đạo cách thức tháo gỡ khó khăn vướng mắc đối với một số trường hợp cụ thể, kéo dài trong nhiều năm chưa xử lý được. Theo lãnh đạo UBND tỉnh Lâm Đồng, tại hội nghị còn nhiều ý kiến lặp lại các kỳ đối thoại trước, cho thấy việc giải quyết các vấn đề còn chậm, chưa triệt để.

    Tuy nhiên, tại hội nghị lần này, không có ý kiến bức xúc về thủ tục hành chính, nghĩa là tỉnh đã thực hiện tương đối tốt cải cách hành chính, giải quyết thủ tục đầu tư. Nhưng có nhiều ý kiến nêu lên vướng mắc trong quá trình thực hiện, chứng tỏ mức độ hài lòng của các doanh nghiệp tham gia hoạt động tại địa bàn còn thấp. Các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương cần phải tiếp tục cải cách về thủ tục hành chính để các nhà đầu tư thực sự hài lòng và kêu gọi thêm các doanh nghiệp tới đầu tư, góp phần vào sự phát triển của tỉnh.

    Để chuẩn bị cho hội nghị đối thoại, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại – Du lịch tỉnh Lâm Đồng đã phát đi 1.300 phiếu khảo sát và thu được 48 phiếu phản hồi của các doanh nghiệp.

    Giải quyết dứt điểm, đi đến cùng

    Ngày 19/7, UBND tỉnh Đắk Nông tổ chức Hội nghị đối thoại doanh nghiệp lần thứ 2 năm 2019 với sự tham dự của 100 doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.

    Trả lời các ý kiến của doanh nghiệp tại hội nghị, ông Trần Xuân Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông yêu cầu các Sở, ngành trong quá trình giải quyết vướng mắc cho doanh nghiệp cần giải quyết dứt điểm, đi đến điểm cuối cùng chứ không phải giải quyết cho xong việc. UBND tỉnh sẽ có văn bản chỉ đạo các cơ quan có liên quan xử lý vướng mắc nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, những vấn đề vượt quá thẩm quyền của tỉnh sẽ kiến nghị lên Trung ương để điều chỉnh, bổ sung.

    Ông Nguyễn Bốn, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông thừa nhận, hiện nay hành lang pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp còn nhiều bất cập, chính sách tại Đắk Nông còn khó khăn hơn chính sách của Trung ương. Tỉnh vẫn còn nhiều cán bộ, công chức có tiêu cực trong giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp… Tuy nhiên, quan điểm của lãnh đạo tỉnh Đắk Nông là tạo điều kiện thuận lợi nhất để các doanh nghiệp phát triển. Lãnh đạo tỉnh và các ban, ngành sẽ tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp trên tinh thần tích cực, kịp thời và hiệu quả. 

    Từ đầu năm 2019 đến nay, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh đã tiếp nhận, tổng hợp, xử lý và chuyển nhiều ý kiến kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Các kiến nghị tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực liên quan đến các sở, ngành như: tài nguyên và môi trường; nông nghiệp và phát triển nông thôn; kế hoạch đầu tư; tài chính; ngân hàng và thuế.

    Tại hội nghị, các đại biểu đã nêu những khó khăn, vướng mắc liên quan đến thủ tục hành chính trong hoạt động chuyển đổi chủ sở hữu đất; thủ tục giao đất, cho thuê đất; việc giải quyết các tranh chấp đất đai trong vùng dự án đối với việc người dân xâm canh, phá hoại tài sản; tranh chấp đất đai giữa doanh nghiệp với người dân chậm giải quyết triệt để…

    Bạc Liêu thành lập Hiệp hội doanh nghiệp

    Tại Bạc Liêu, Ban Vận động thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh vừa tổ chức Đại hội Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Bạc Liêu lần thứ I, nhiệm kỳ 2019-2024.

    Ông Trần Thanh Tâm, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh cho biết, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Bạc Liêu đã được thành lập theo Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu vào tháng 10/2018, với 3 mục tiêu chính. Đó là, tổ chức tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp trong tỉnh với mục đích đoàn kết hội viên, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của hội viên, hỗ trợ các hoạt động kinh tế góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

    Đây cũng là đầu mối thúc đẩy phát triển quan hệ của các doanh nhân, doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học, công nghệ giữa doanh nghiệp với các tổ chức khác trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi….Từ đó, đóng góp tích cực vào việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động và các vấn đề an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bạc Liêu Lê Minh Chiến cho hay, cộng đồng doanh nghiệp và doanh nhân của tỉnh đã đồng hành luôn với tỉnh đóng góp hiệu quả vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Bạc Liêu. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tỉnh Bạc Liêu luôn đạt được nhiều thành tựu quan trọng và có bước phát triển khá toàn diện trên các lĩnh vực. Có được kết quả trên phải kể đến sự đóng góp quan trọng của hơn 2.300 doanh nghiệp, cùng 29.000 hộ kinh doanh và 150 hợp tác xã trên địa bàn tỉnh.

    Ông Lê Minh Chiến kêu gọi các doanh nghiệp đồng tâm hiệp lực, năng động sáng tạo và nhất là phải “biết khát vọng” tập trung vào thế mạnh của mình, vượt qua khó khăn, phát triển sản xuất kinh doanh, tiếp tục có nhiều đóng góp hơn nữa vào sự nghiệp phát triển của Bạc Liêu.

    Bến Tre tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính

    Ông Cao Văn Trọng, Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre cho biết, từ nay đến cuối năm, tỉnh tiếp tục triển khai những giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia .

    Theo đó, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính về đầu tư kinh doanh; tăng cường hỗ trợ, giải quyết nhanh các thủ tục hành chính có liên quan cho nhà đầu tư, doanh nghiệp từ khâu tìm hiểu, nghiên cứu dự án, thành lập doanh nghiệp, thành lập doanh nghiệp đến sau giấy phép.

    Tỉnh đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp thông qua chương trình đồng khởi khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp; tăng cường các hoạt động giao thương, kết nối và mở rộng thị trường tiêu thụ cho khởi nghiệp; đào tạo nâng cao kiến thức cho đội ngũ doanh nghiệp khởi nghiệp của tỉnh, góp phần nâng cao năng lực cho doanh nghiệp trong thời gian tới.

    Cùng với đó, Bến Tre tăng cường đối thoại với doanh nghiệp thông qua các diễn đàn đối thoại doanh nghiệp, “Cà phê doanh nghiệp” định kỳ hàng tháng; tổ chức “Bàn tròn khởi nghiệp” định kỳ hàng tháng để tạo diễn đàn chia sẻ, giao lưu và định hướng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua các kết nối, tư vấn; kịp thời chia sẻ thông tin các chính sách đến cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

    Ngoài ra, tỉnh Bến Tre cũng xây dựng và ban hành chính sách ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh nhằm tăng cường các hoạt động hỗ trợ cho doanh nghiệp, nhà đầu tư. Tỉnh đẩy nhanh tiến độ khu công nghiệp Phú Thuận để xây dựng khu tái định cư, thi công hạ tầng, tạo quỹ đất cho doanh nghiệp tiếp cận đầu tư thuận lợi.

    Song song đó, tỉnh duy trì và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận các cụm công nghiệp hiện tại như Long Phước, Phong Nẫm, An Đức-thị trấn Ba Tri và Tân Thành Bình.

    Thời gian tới, tỉnh triển khai xây dựng Bộ chỉ số đánh giá năng lực điều hành cấp sở, ngành, địa phương thuộc tỉnh (DDCI) để thúc đẩy, tạo sự thi thua, cải cách và nâng cao chất lượng điều hành, hỗ trợ doanh nghiệp trong toàn tỉnh.

    Cũng theo Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre Cao Văn Trọng, thời gian qua, việc hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư luôn được tỉnh quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi và giới thiệu tiếp cận các chính sách ưu đãi để doanh nghiệp biết và tiếp cận, không phân biệt loại hình, quy mô.

    Hiện tỉnh đang hoàn chỉnh đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến tre đến năm 2025 nhằm tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để khuyến khích, thúc đẩy và phát triển mới các loại hình doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

    Bên cạnh đó, nhằm hỗ trợ rút ngắn thời gian, thủ tục hành chính tỉnh đã đưa vào vận hành chính thức Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Bến Tre tiếp nhận và trả hồ sơ của 16 sở, ban, ngành tỉnh. Đồng thời, tỉnh tiếp tục tăng cường vận động tạo quỹ đất sạch, phối hợp giải phóng mặt bằng, cung cấp thông tin về đất đai để thu hút và mời gọi đầu tư.

    Theo: Thu Hà (Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

  • Kiểm soát chặt các mặt hàng xuất khẩu có nguy cơ bị gian lận xuất xứ

    Kiểm soát chặt các mặt hàng xuất khẩu có nguy cơ bị gian lận xuất xứ

    (Chinhphu.vn) – Bộ Công Thương siết chặt theo dõi các mặt hàng xuất khẩu có nguy cơ bị gian lận xuất xứ, lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại trong thời gian tới. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại bất hợp pháp, gian lận xuất xứ.

    Ảnh minh họa

    Đây là một trong những nội dung quan trọng trong Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương để triển khai Đề án “Tăng cường quản lý nhà nước về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và gian lận xuất xứ” vừa được Bộ Công Thương ban hành.

    Kế hoạch hành động nhằm chi tiết các nhiệm vụ của Bộ Công Thương trong đề án thông qua việc giao công tác cho từng đơn vị cụ thể kèm theo yêu cầu về thời gian và kết quả thực hiện.

    Cụ thể, kế hoạch bao gồm các nhóm công việc cần triển khai chính như hoàn thiện cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan liên quan; phối hợp xây dựng, theo dõi danh sách các mặt hàng xuất khẩu có nguy cơ bị gian lận xuất xứ, lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.

    Đặc biệt, Bộ Công Thương sẽ tăng cường kiểm tra, chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại bất hợp pháp, gian lận xuất xứ; mở rộng hợp tác với các cơ quan có liên quan của nước ngoài trong công tác đấu tránh chống hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại bất hợp pháp, gian lận xuất xứ;

    Mặt khác, trong thời gian tới, bộ này sẽ hoàn thiện các quy định về xuất xứ; tăng cường tuyên truyền phổ biến các quy định pháp luật liên quan đến các vấn đề này, nhất là trong bối cảnh các hiệp định thương mại được thực thi trong thực tế.

    Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, qua kiểm tra, giám sát, quản lý khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và kiểm tra sau thông quan, thanh tra của cơ quan hải quan đã phát hiện các phương thức, thủ đoạn gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa.

    Bên cạnh đó, lực lượng hải quan cũng phát hiện hàng hóa có xuất xứ từ nước ngoài chuyển tải qua Việt Nam để hợp thức hóa hồ sơ hoặc xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ sau đó xuất khẩu sang nước thứ ba.

    Theo: LP (Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

  • Đẩy mạnh truyền thông về HTX kiểu mới để lan tỏa hiệu quả

    Đẩy mạnh truyền thông về HTX kiểu mới để lan tỏa hiệu quả

    (Chinhphu.vn) – Hiện có khoảng 55% HTX nông nghiệp đang hoạt động hiệu quả, điều này đã làm gia tăng thu nhập cho thành viên lên 20%/năm. Còn trong 50 mô hình HTX ứng dụng công nghệ cao đã giúp gia tăng thu nhập cho thành viên lên 35%/năm. Đây chính là hiệu quả của kinh tế tập thể kiểu mới, khác với mô hình kiểu cũ.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. Ảnh: VGP/Thành Chung

    Ngày 20/7 tại Hà Nội, Bộ NN&PTNT tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, hợp tác xã (KTTT, HTX) trong lĩnh vực nông nghiệp.

    Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo đổi mới phát triển KTTT, HTX tham dự, chỉ đạo tại hội nghị.

    Cùng tham dự còn có Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam Nguyễn Ngọc Bảo; lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương, Ủy ban của Quốc hội, lãnh đạo của các tỉnh, thành phố trên cả nước.

    Hiện nay cả nước có khoảng 23.000 HTX, trong đó số lượng HTX nông nghiệp chiếm hơn 60%, do vậy, hội nghị có ý nghĩa quan trọng, hướng tới tổng kết toàn quốc thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW về phát triển KTTT nói chung trong thời gian tới.

    HTX nông nghiệp có bước phát triển mạnh mẽ…

    Ông Nguyễn Văn Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) cho biết sau 15 năm triển khai Nghị quyết của Trung ương, các Chỉ thị của Bộ Chính trị và Thủ tướng Chính phủ, kinh tế hợp tác và HTX có sự phát triển mạnh mẽ, ấn tượng. Tính đến hết ngày 30/6/2019, cả nước đã có 14.502 HTX nông nghiệp, trong đó có tới 55% hoạt động hiệu quả (trước 2015 chỉ có khoảng 15% tổng số HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả).

    Các HTX không chỉ giảm chi phí sản xuất của các hộ gia đình thành viên mà còn làm tăng thêm giá trị thu nhập 14%/năm. Các địa phương cũng đã xử lý dứt điểm những HTX hoạt động yếu kém. Theo đó, đã giải thể được 3.600 đơn vị, chỉ còn khoảng 600 HTX yếu kém đang đợi giải thể hoặc cải tổ trong thời gian tới.

    Điều đáng ghi nhận theo ông Thịnh là tốc độ phát triển HTX tăng mạnh qua từng năm. Nếu từ năm 2002 trở về trước, mỗi năm cả nước chỉ thành lập mới được 200 – 300 HTX thì con số này từ năm 2017 trở lại đây là 2.000 HTX/năm. Nếu như năm 2003, doanh thu bình quân của HTX chỉ đạt 461 triệu đồng/năm thì con số này năm 2018 là 1,61 tỷ đồng.

    Tiềm năng, nội lực của HTX được nâng lên, đặc biệt là trình độ quản lý, khoa học công nghệ, sản xuất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn. Nhiều HTX đã thu hút được cán bộ chuyên môn, cán bộ trẻ đã qua đào tạo về làm việc và đảm nhận được vai trò kết nối giữa hộ thành viên với doanh nghiệp.

    Nhiều mô hình mới, đa dạng, có liên kết với doanh nghiệp để tạo chuỗi giá trị, đáp ứng yêu cầu của thị trường. Đó là những mô hình như HTX chuyên ngành (cây, con) dẫn dắt, hỗ trợ kinh tế hộ thành viên phát triển sản xuất, tham gia chuỗi giá trị đáp ứng yêu cầu thị trường; mô hình HTX đảm nhiệm nhiều khâu trong chuỗi giá trị; mô hình tích tụ, tập trung đất đai thông qua HTX để ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho thu nhập cao; mô hình doanh nghiệp trong cùng chuỗi là thành viên HTX…

    Các cá nhân, tập thể được biểu dương tại hội nghị. Ảnh: VGP/Thành Chung

    … nhưng vẫn chưa xứng với tiềm năng

    Đánh giá cao các kết quả đạt được, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng cho rằng, KTTT, HTX trong lĩnh vực nông nghiệp mặc dù đã có sự cải thiện về lượng và chất nhưng chưa đồng đều giữa các lĩnh vực, vùng miền, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hàng hóa lớn và thị trường. Chính sách hỗ trợ HTX ban hành nhiều nhưng thiếu nguồn lực để thực hiện. Rất ít các HTX tiếp cận được các chính sách về hỗ trợ tín dụng, đất đai, hạ tầng sản xuất. Năng lực nội tại của nhiều HTX còn yếu kém, thiếu nguồn lực cho đầu tư sản xuất kinh doanh….

    Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Thành Thống đánh giá KTTT trong nông nghiệp, HTX phát triển chưa tương xứng tiềm năng. Phần lớn HTX nông nghiệp quy mô sản xuất nhỏ, chưa tiếp cận thị trường, khó vay vốn trung hạn và dài hạn. Nhiều HTX vẫn trong tình trạng “bình mới, rượu cũ”; mô hình HTX cũ còn nặng nề trong khi HTX kiểu mới chưa đáp ứng yêu cầu….

    Nguyên nhân do nhận thức về vai trò, giá trị và bản chất của mô hình HTX kiểu mới một số nơi còn chưa thống nhất, dẫn đến công tác quản lý, ban hành cơ chế, chính sách, tư vấn, hỗ trợ… chưa trọng tâm, chưa đúng, chưa đi vào cuộc sống của các HTX và người dân. Ngoài ra, do tâm lý mặc cảm về mô hình HTX thời bao cấp còn nặng nề, trong khi số lượng HTX, liên hiệp HTX hoạt động hiệu quả, mang lại lợi ích cho thành viên, cộng đồng chưa nhiều.

    Chính sách hỗ trợ rất nhiều, nhưng chưa đi vào cuộc sống

    Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ nhấn mạnh kết quả triển khai Nghị quyết 13-NQ/TW trong ngành nông nghiệp là khá rõ và toàn diện từ việc chuyển đổi nhận thức về vai trò, vị trí và tính cấp thiết phát triển HTX trong nông nghiệp đến những vấn đề đặc thù của KTTT, HTX trong nông nghiệp. 

    “Ở nhiều địa phương, HTX đóng vai trò quan trọng trong việc giúp nông dân phát triển vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn phục vụ chế biến, xuất khẩu, có dịch vụ hỗ trợ nông dân thích ứng với điều kiện canh tác, nuôi trồng. Kết quả thể hiện ra là hiệu quả của HTX không chỉ gia tăng số liệu về thành viên, doanh thu, lợi nhuận mà nhiều HTX đã giúp gia tăng thu nhập cho các thành viên. 55% HTX hoạt động hiệu quả đã gia tăng thu nhập cho thành viên lên 20%. Còn trong 50 mô hình HTX ứng dụng công nghệ cao đã giúp gia tăng thu nhập cho thành viên lên 35%/năm. Đó chính là hiệu quả cuối cùng của KTTT kiểu mới, khác với mô hình kiểu cũ”, theo Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ.

    Phó Thủ tướng nêu rõ bên cạnh những kết quả đạt được, trên thực tế, KTTT, HTX vẫn phát triển chưa tương xứng tiềm năng nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. 

    Theo đó, quá trình tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết còn chậm, ở nhiều thời gian, thời điểm chưa quyết liệt. Công tác quản lý nhà nước còn chồng chéo. Số cán bộ quản lý HTX nông nghiệp đã qua đào tạo trình độ trung cấp trở lên chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 46%). Số lượng HTX đã phát triển về lượng và chất nhưng chưa đồng đều và mới tập trung chủ yếu là cung cấp dịch vụ đầu vào. 

    Bên cạnh đó, năng lực nội tại của nhiều HTX còn yếu, thiếu nguồn lực cho đầu tư sản xuất kinh doanh; ở nhiều địa phương, công tác quản lý nhà nước đối với HTX NN còn chồng chéo; thiếu nguồn lực, chính sách hỗ trợ HTX…

    Trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh vai trò quan trọng của các HTX nông nghiệp kiểu mới trong tổ chức, hỗ trợ nông dân và thành viên gia tăng giá trị sản xuất, kinh doanh và kết nối các chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp an toàn, chất lượng cao.

    Cho rằng chính sách hỗ trợ cho phát triển HTX rất nhiều (Nghị quyết 13 nêu 6 loại chính sách) nhưng chưa đi vào cuộc sống, Phó Thủ tướng  chỉ ra nguyên nhân chính là do “cuộc sống không đi vào chính sách”, cho nên chính sách không thể đi vào cuộc sống; làm chính sách cho nông nghiệp mà không gắn sát với đời sống người dân, còn có tình trạng duy ý chí, áp đặt, không thực tiễn.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ thăm mô hình trồng rau, củ của HTX Tân Tiến ở Lâm Đồng tháng 6/2017. Ảnh: VGP

    Triển khai quyết liệt, nâng cao hiệu quả KTTT, HTX

    Để khắc phục hạn chế của mô hình HTX kiểu cũ và phát huy lợi ích từ mô hình mới, Trưởng Ban Chỉ đạo yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam nâng cao nhận thức hơn nữa về vai trò quan trọng của KTTT, HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng; tổ chức triển khai quyết liệt, có hiệu quả các chủ trương, cơ chế, chính sách đã ban hành nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả KTTT, HTX trong thời kỳ mới.

    Đẩy mạnh truyền thông cho các cấp ủy đảng, chính quyền và toàn xã hội hiểu rõ tầm quan trọng, vai trò tất yếu của KTTT mà nòng cốt là các HTX đối với sản xuất nông nghiệp, bản chất HTX kiểu mới; các mô hình HTX hiệu quả gắn với chuỗi tiêu thụ nông sản, HTX nông nghiệp do thanh niên khởi nghiệp thành công, HTX nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tạo điều kiện để các HTX tham gia các chương trình mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

    Cùng với đó, Phó Thủ tướng giao các bộ, ngành, địa phương tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng toàn diện cán bộ và thành viên HTX gắn với đề án đào tạo nghề cho khu vực nông thôn theo hướng tạo nguồn cán bộ quản lý chuyên nghiệp cho HTX.

    Tiếp tục nhân rộng các mô hình kinh tế hợp tác hiệu quả, giúp cho kinh tế hộ phát triển; tạo điều kiện hình thành những mô hình liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp – HTX- nông dân. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những điển hình tiên tiến, cách làm sáng tạo; phổ biến, triển khai nhân rộng các mô hình HTX kiểu mới có hiệu quả và sức lan tỏa cao, đồng thời chuẩn bị tổng kết Đề án phát triển 15.000 HTX, Liên hiệp HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả vào năm 2020.

    Phó Thủ tướng yêu cầu cần đẩy mạnh phát triển KTTT trong lĩnh vực nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu, gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Phát triển các HTX sản xuất sản phẩm chất lượng cao, có thương hiệu, phục vụ xuất khẩu.

    Để nhận diện rõ hơn về thực trạng và hiệu quả của KTTT, HTX, Phó Thủ tướng yêu cầu Tổng cục Thống kê (Bộ KH&ĐT) và Liên minh HTX Việt Nam tiến hành xây dựng Sách Trắng về HTX trong thời gian tới.

    Tại hội nghị, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cũng đưa ra các yêu cầu cụ thể về ban hành các chính sách mới phù hợp với thực tế, khuyến khích hỗ trợ phát triển HTX và với các bộ ngành, địa phương  để tiếp tục củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX./.

    Theo: Thành Chung – Đỗ Hương (Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

  • Hải quan nêu nhiều thủ đoạn gian lận xuất xứ hàng hoá

    Hải quan nêu nhiều thủ đoạn gian lận xuất xứ hàng hoá

    (Chinhphu.vn) – Chiều 19/7, Tổng cục Hải quan tổ chức Họp báo chuyên đề về công tác đấu tranh chống gian lận xuất xứ của ngành hải quan.

     

    Buổi họp báo. Ảnh: VGP/Huy Thắng.

    Ông Âu Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan – Tổng cục Hải quan cho biết, qua công tác kiểm tra, giám sát, quản lý khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và kiểm tra sau thông quan, thanh tra của cơ quan hải quan đã phát hiện các phương thức, thủ đoạn gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa.

    Đối với ghi nhãn hàng hóa, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa được sản xuất tại nước ngoài khi nhập khẩu về Việt Nam đã ghi sẵn dòng chữ “Made in Vietnam”, “sản xuất tại Việt Nam”, “xuất xứ Việt Nam”… hoặc trên sản phẩm và/hoặc bao bì sản phẩm, phiếu bảo hành thể hiện bằng tiếng Việt các thông tin về nhãn hiệu, địa chỉ trụ sở doanh nghiệp, trang web, trung tâm bảo hành tại Việt Nam để tiêu thụ nội địa hoặc xuất khẩu; hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, dán nhãn hàng hóa hoặc ghi xuất xứ hàng hóa được sản xuất tại nước ngoài hoặc không thể hiện nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa nhưng khi đưa ra lưu thông, tiêu thụ nội địa thì doanh nghiệp thay nhãn mới ghi “Made in Vietnam” hoặc “sản xuất tại Việt Nam” hoặc “xuất xứ Việt Nam”…

    Đáng lo ngại, các doanh nghiệp còn lợi dụng văn bản quy phạm pháp luật chưa bắt buộc dán nhãn phụ ngay tại khâu thông quan để nhập khẩu các mặt hàng có thương hiệu nổi tiếng sau đó không dán nhãn phụ theo quy định mà thay đổi nhãn mác, bao bì, tên thương hiệu để tiêu thụ nội địa; nhập khẩu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đã được đăng ký bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; lợi dụng loại hình quá cảnh để vận chuyển hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, giả mạo xuất xứ Việt Nam.

    Đối với xuất xứ hàng hóa, thủ đoạn thường gặp là doanh nghiệp Việt Nam (bao gồm cả doanh nghiệp FDI) nhập khẩu nguyên vật liệu, bán thành phẩm, linh kiện, cụm linh kiện, phụ tùng để sản xuất, gia công, lắp ráp nhưng hàng hóa không trải qua công đoạn gia công, sản xuất hoặc chỉ trải qua công đoạn gia công, sản xuất, lắp ráp đơn giản không đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo quy định nhưng khi xuất khẩu khai xuất xứ Việt Nam trên nhãn hàng hóa hoặc hợp thức hóa bộ hồ sơ để xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ của Việt Nam.

    Thủ đoạn nữa là thành lập nhiều công ty, mỗi công ty nhập khẩu một số cụm linh kiện, phụ tùng hoặc bộ phận tháo rời để lắp ráp hoặc bán cho công ty khác thực hiện gia công, lắp ráp công đoạn đơn giản không đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo quy định nhưng ghi sản xuất tại Việt Nam hoặc xuất xứ Việt Nam để tiêu thụ tại thị trường trong nước nhằm đánh lừa người tiêu dùng hoặc xuất khẩu.

    Các đối tượng vi phạm cũng lợi dụng hàng hóa có xuất xứ từ nước ngoài chuyển tải qua Việt Nam để hợp thức hóa hồ sơ hoặc xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ sau đó xuất khẩu sang nước thứ ba; sử dụng C/O giả hoặc C/O không hợp lệ, khai sai xuất xứ hàng hóa để được áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt theo các Hiệp định thương mại tự do khi làm thủ tục hải quan.

    Ông Âu Anh Tuấn cho hay, trước diễn biến khó lường của cuộc chiến tranh thương mại giữa các nước lớn, để phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước ngoài trung chuyển qua Việt Nam gian lận, giả mạo xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu hoặc tiêu thụ tại thị trường nội địa gây thiệt hại cho người tiêu dùng, Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Hải xây dựng văn bản chỉ đạo chung cho các Cục Hải quan tỉnh, thành phố và các đơn vị có liên quan trong Tổng cục nhằm tăng cường chống gian lận, giả mạo xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp, ghi nhãn hàng hóa.

    Trong đó quy định cụ thể trách nhiệm, sự phối hợp của các đơn vị nghiệp vụ thuộc Tổng cục Hải quan trong việc thu thập, phân tích thông tin, xác định mặt hàng, doanh nghiệp có rủi ro cao nghi vấn gian lận, giả mạo xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp để áp dụng các biện pháp kiểm soát phù hợp; trách nhiệm của Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trong việc kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

    Hải quan sẽ tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra xuất xứ đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc nhưng trên nhãn hàng hóa thể hiện “Made in Vietnam” tại công văn số 3083/TCHQ-GSQL ngày 20/5/2019; tăng cường kiểm tra hoạt động tạm nhập, tái xuất tại công văn số 4307/TCHQ-GSQL ngày 28/6/2019. Đồng thời xem xét chuyển luồng kiểm tra thực tế hàng hóa đối với nhóm mặt hàng này để kiểm soát chặt chẽ xuất xứ hàng hóa.

    Đại diện ngành hải quan cho hay, hiện nay các nước trong khu vực và trên thế giới đã có những chính sách thay đổi lớn như tăng thuế, áp dụng hàng rào kỹ thuật để bảo hộ sản xuất trong nước, trong hoạt động thương mại, đặc biệt các cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc…. có tác động rất lớn đến nền kinh tế của Việt Nam. Mặt khác Việt Nam đã và đang chịu tác động bởi các Hiệp định thương mai tự do FTA, do đó hàng hóa từ các nước bị áp thuế suất cao có khả năng sẽ tìm cách chuyển tải bất hợp pháp vào Việt Nam, giả mạo hợp thức hóa xuất xứ Việt Nam sau đó xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản,… để lẩn tránh mức thuế suất cao do các nước này áp dụng. Hành vi này dẫn đến nguy cơ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bị các nước điều tra, áp thuế chống bán phá giá, thuế tự vệ, thuế trợ cấp ở mức rất cao, gây thiệt hại cho các nhà sản xuất Việt Nam, mất uy tín trên thị trường quốc tế hoặc bị hạn chế xuất khẩu vào các thị trường này nếu bị nước nhập khẩu phát hiện và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.

    Về phương hướng, giải pháp, đại diện cơ quan Hải quan nhấn mạnh, toàn ngành đã xây dựng, ban hành và chỉ đạo thực hiện quy trình kiểm tra, giám sát, kiểm soát hàng hóa có nguy cơ gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp trong đó quy định cụ thể trách nhiệm, sự phối hợp của các đơn vị nghiệp vụ thuộc Tổng cục trong việc thu thập, phân tích thông tin, xác định mặt hàng, doanh nghiệp có rủi ro cao nghi vấn gian lận, giả mạo xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp để áp dụng các biện pháp kiểm soát phù hợp; trách nhiệm của Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trong việc kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

    Các Cục Hải quan các tỉnh, thành phố tăng cường công tác kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu khi làm thủ tục hải quan nhằm ngăn chặn tình trạng gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp.

    Cơ quan Hải quan cũng mở rộng điều tra các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu mặt hàng gỗ ván ép, gỗ dán có số lượng tăng đột biến, bên cạnh đó tiếp tục điều tra xác minh làm rõ hành vi vi phạm đối với các công ty trên để xử lý theo theo quy định pháp luật; tiếp tục đẩy mạnh thu thập thông tin, kiểm tra đối với các lô hàng có dấu hiệu nghi vấn giả mạo C/O, đối với một số mặt hàng trọng điểm có kim ngạch xuất, nhập khẩu lớn…

    Cơ quan Hải quan cũng đề nghị Bộ Công Thương, VCCI siết chặt công tác quản lý cấp giấy chứng nhận xuất xứ theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP đối với trường hợp qua kết quả kiểm tra, thanh tra xác định hành vi gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp. Chỉ đạo các đơn vị chức năng tăng cường công tác kiểm tra sản xuất hàng hoá xuất khẩu nhất là đối với các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá, nguyên liệu, bán thành phẩm về sản xuất thành phẩm để xuất khẩu.

    Theo: Huy Thắng (Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

  • 100.000 doanh nghiệp và mục tiêu hàng đầu thế giới về nông sản

    100.000 doanh nghiệp và mục tiêu hàng đầu thế giới về nông sản

    (Chinhphu.vn) – Xác định doanh nghiệp nông nghiệp có vai trò là “trụ cột” trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp nước ta theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam, Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 có 80.000 đến 100.000 doanh nghiệp có hoạt động đầu tư kinh doanh hiệu quả trong lĩnh vực này.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm một mô hình phát triển nông nghiệp tại Bình Phước. – Ảnh: VGP

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký ban hành Nghị quyết của Chính phủ về giải pháp khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp hiệu quả, an toàn và bền vững. Nghị quyết khẳng định, nông nghiệp Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng và cơ hội cần khai thác, đặc biệt là quỹ đất, nguồn nhân lực và tận dụng cơ hội trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0.

    Thời gian qua, tốc độ tăng trưởng khu vực nông nghiệp đạt khá, năng suất, chất lượng và hiệu quả không ngừng được nâng cao. Trong đó, phải kể đến những thành tựu nổi bật như Việt Nam đã đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và trở thành nước xuất khẩu nông sản đứng thứ hai Đông Nam Á, thứ 15 trên thế giới với 10 nhóm mặt hàng nông, lâm, thủy sản có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ đô la Mỹ, trong đó có 6 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỷ đô la Mỹ.

    Những thành tựu quan trọng nói trên có được là nhờ việc ban hành các chính sách đúng đắn, hiệu quả của Đảng và Nhà nước; quyết tâm, nỗ lực của Chính phủ, các thiết chế thuộc khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn; việc áp dụng các loại hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp như: doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, mô hình kinh tế hộ.

    Trong đó, các doanh nghiệp đang là “trụ cột”, đầu tàu trong việc thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh và phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam.

    Thực tiễn cho thấy, Nhà nước cần có chính sách để doanh nghiệp hợp tác với các thiết chế khu vực nông nghiệp thúc đẩy việc tích tụ, tập trung đất đai tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao trong nông nghiệp, sản xuất các mặt hàng nông sản có chất lượng cao, giá trị gia tăng lớn hơn, có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; tạo vị thế xây dựng thương hiệu quốc gia Nông nghiệp Việt Nam, đồng thời, huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp, tạo ra một môi trường cạnh tranh sôi động trong nông nghiệp.

    Hiện nay, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn đã quan tâm và triển khai dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có những doanh nghiệp hàng đầu thế giới về tôm, cá tra, lúa gạo, cà phê… Hệ thống doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã hình thành với trên 50 nghìn doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm cả sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, kinh doanh vật tư nông nghiệp, nông sản, các dịch vụ phục vụ phát triển nông nghiệp, trong đó có khoảng 10.200 doanh nghiệp trực tiếp đầu tư phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản.

    Tuy nhiên, sự phát triển của các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp còn rất khiêm tốn so với tiềm năng, lợi thế phát triển. Số doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp hiện chỉ chiếm 8% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, trong đó số doanh nghiệp nông lâm, thủy sản chiếm 1%. Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu hiện nay vẫn ở dạng hộ sản xuất với hơn 9,2 triệu hộ quy mô rất nhỏ. Năng suất lao động ngành nông nghiệp còn hạn chế, chỉ bằng khoảng 38% năng suất lao động bình quân chung cả nước và thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực.

    Trình độ khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp còn thấp. Ứng dụng khoa học công nghệ và các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, quốc tế còn hạn chế, chỉ có gần 5% số doanh nghiệp nông lâm thủy sản được cấp chứng nhận VietGAP và tương đương. Thị trường tiêu thụ không bền vững; kênh tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi với các nhà phân phối bán lẻ lớn còn hạn chế; số doanh nghiệp tham gia sản xuất theo chuỗi giá trị còn ít; rào cản về kỹ thuật, chất lượng của thị trường quốc tế ngày càng khắt khe.

    Tình trạng vi phạm về an toàn thực phẩm vẫn diễn ra, đây là việc cạnh tranh sản xuất nông sản thiếu lành mạnh. Vấn đề truyền thông chưa hiệu quả khi phản ánh một số trường hợp vi phạm đã vô tình tạo ra hiệu ứng tẩy chay hàng nông sản Việt vì vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.

    Trao quyền cho thị trường, doanh nghiệp là trụ cột

    Trước tình hình như trên, Nghị quyết của Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 3,0%/năm; tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 6%-8%/năm.

    Đến năm 2030 có 80.000 đến 100.000 doanh nghiệp có hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp hiệu quả, trong đó khoảng 3.000 đến 4.000 doanh nghiệp có quy mô lớn và 6.000 đến 8.000 doanh nghiệp quy mô vừa.

    Nghị quyết đưa ra nhiều nhóm giải pháp, nhiệm vụ cụ thể, mà tinh thần bao trùm là tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm mạnh các rào cản về điều kiện kinh doanh trong nông nghiệp, tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước theo tinh thần Chính phủ kiến tạo, trao quyền cho thị trường quyết định…

    Trên thực tế, ngay từ đầu nhiệm kỳ này, Chính phủ và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dành sự quan tâm đặc biệt cho nông nghiệp, với trọng tâm là phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ. Theo Thủ tướng, nông nghiệp là một trong ba lợi thế cạnh tranh, ba mũi nhọn đột phá mà Việt Nam cần tập trung phát triển, cùng với ngành công nghệ thông tin và du lịch.

    Người đứng đầu Chính phủ đã tới dự nhiều sự kiện về phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao, nhiều lần tới thăm các mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở Bình Phước, Hải Phòng, Hà Nam… Năm 2017, ông đã dành ngày làm việc đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán để về Hà Nam nhấn nút khởi động sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, như một “lễ tịch điền” trong thời kỳ 4.0

    Tới tháng 7 năm 2018, Thủ tướng chủ trì Hội nghị toàn quốc về các giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, tại đây, ông đề nghị, Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp cần chung sức để đưa Việt Nam vươn lên vị trí hàng đầu thế giới về nông sản.

    “Tôi đặt hàng cho ngành nông nghiệp trong 10 năm tới phải đứng vào tốp 15 các nước phát triển nhất thế giới, trong đó lĩnh vực chế biến nông sản đứng vào tốp 10 thế giới. Nông nghiệp Việt Nam là một trung tâm chế biến sâu của nông nghiệp thế giới, là một trung tâm logistics của thương mại nông sản toàn cầu”, Thủ tướng nêu tầm nhìn với ngành nông nghiệp.

    Để hiện thực hóa tầm nhìn trên, Thủ tướng cho rằng ngành nông nghiệp cần có khát vọng phát triển, cốt lõi là sự phát triển của các doanh nghiệp đầu tư trong ngành nông nghiệp và việc đầu tiên là phải có thể chế pháp luật tốt, xóa bỏ những quy định lạc hậu.

    Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường, mặc dù ngành nông nghiệp đã đạt được những thành tựu lớn trong thời gian qua, nhưng không thể bằng lòng với những gì đã đạt được, vì sắp tới ngành nông nghiệp phải đối mặt với ba thách thức lớn.

    Đó là, năng suất của nền kinh tế Việt Nam vẫn kém vì chủ yếu là nông nghiệp hộ nhỏ lẻ manh mún, để tiến lên nền nông nghiệp hiện đại còn rất nhiều khó khăn; thứ hai, Việt Nam chịu tổn thất lớn nhất từ biến đổi khí hậu; và cuối cùng, vì đã chấp nhận cuộc chơi toàn cầu, ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ đối mặt với sự cạnh tranh vô cùng khố liệt.

    Bộ trưởng khẳng định, Bộ sẽ tiếp tục đồng hành cùng bà con để hoàn thiện thể chế, tập trung cải cách hành chính…, cùng các doanh nghiệp tư nhân tiếp tục tạo nên một bức tranh nông nghiệp Việt Nam mới trên thế giới.

    Theo Bộ trưởng, ngành sẽ tiếp tục triển khai mạnh mẽ cơ cấu lại ngành nông nghiệp; phát triển cơ cấu sản xuất theo 3 trục sản phẩm chủ lực: nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia, nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh, nhóm sản phẩm đặc sản địa phương theo mô hình “mỗi xã phường một sản phẩm”. Các sản phẩm chủ lực cần xây dựng các chuỗi giá trị để mở cửa và phát triển thị trường cho phù hợp, ưu tiên sản xuất tốt các mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu như lâm sản, thủy sản, gạo và trái cây.

    “Chúng ta phải chuyển từ sản xuất để ăn thành sản xuất để bán. Nhưng để bán cho thế giới với lượng dân số càng ngày càng tăng và thu nhập càng cao là khó. Khó nhưng chúng ta vẫn làm được. Do đó, cần có sự vào cuộc đồng bộ, cùng đồng hành quyết liệt ở cả 3 trục: Chính phủ, doanh nghiệp và người dân”, Bộ trưởng cho hay.

    Chính phủ hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ kịp thời khó khăn cho doanh nghiệp, nông dân. Hàng triệu hộ nông dân liên kết được với hàng nghìn hợp tác xã, doanh nghiệp. Như vậy, chúng ta mới hình thành được sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến với thị trường, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nêu rõ.

    Theo: Hà Chính (Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

  • Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA): Không chỉ là cơ hội

    Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA): Không chỉ là cơ hội

    (BGĐT) – Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) vừa được ký kết tại Hà Nội. Qua đây, tạo điều kiện cho doanh nghiệp (DN) trong nước nói chung và Bắc Giang nói riêng tận dụng nhiều cơ hội phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, Hiệp định cũng tạo ra nhiều thách thức mà bản thân các DN phải chủ động nâng cao năng lực để hội nhập thành công.

    Đòn bẩy tăng trưởng

    Theo các nhà chuyên môn, Hiệp định EVFTA sẽ giúp việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước thuộc liên minh châu Âu (EU) được xóa bỏ thuế sau một lộ trình ngắn; thuế nhập khẩu cũng giảm lên tới hơn 99%. Các ngành xuất khẩu chủ lực của tỉnh dự kiến được hưởng lợi nhiều nhất là nông sản, dệt may, điện tử…

    Dây chuyền sản xuất tại Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang BGG (TP Bắc Giang).

    Dây chuyền sản xuất tại Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang BGG (TP Bắc Giang).

    Để khai thác lợi thế sau khi ký kết Hiệp định, các DN trong tỉnh đã và đang chủ động vào cuộc, đón lấy những cơ hội mới. Đơn cử như, Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang BGG đã tuyển thêm nhân công lao động, mở rộng sản xuất. 

    Ông Nguyễn Văn Thắng, Tổng Giám đốc Công ty cho biết, hiện đơn vị mới có một xưởng phục vụ sản xuất sản phẩm xuất khẩu sang thị trường các nước khối EU. Để mở rộng thị trường này, ngoài tuyển thêm lao động, đơn vị còn mua sắm thêm thiết bị như máy nhồi lông, trần bông tự động, máy bổ túi, trạm đỉa tự động. Đồng thời, điều chỉnh chiến lược kinh doanh, trong đó tăng cường tìm kiếm, sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước và nhập tại các nước EU.

    Với mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh, các DN xuất khẩu nông sản cũng đang tập trung thực hiện chiến lược kinh doanh mới để mở rộng và tiếp cận thị trường tiềm năng lớn. 

    Công ty vừa đầu tư hàng tỷ đồng để giúp hoàn thiện các thủ tục về hàng rào kỹ thuật, bảo đảm chất lượng nông sản đáp ứng yêu cầu xuất khẩu sang EU.Khảo sát tại Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu G.O.C Bắc Giang cho thấy, ngay sau khi Hiệp định được thông qua, đơn vị đã chủ động tìm hiểu, nắm bắt các nội dung liên quan nhằm đáp ứng các yêu cầu đề ra. 

    “Để xuất, nhập hàng từ thị trường EU, DN trong tỉnh phải đáp ứng các thủ tục, tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của hàng hóa, quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật quốc tế”. Ông Trần Quang Tấn, Giám đốc Sở Công Thương.

    Nhiều rào cản

    Thông tin từ Sở Công Thương, hiện toàn tỉnh có gần 400 DN hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Bên cạnh những thuận lợi, Hiệp định EVFTA cũng đặt ra nhiều thách thức. 

    Để xuất nhập hàng hóa từ thị trường EU, DN trong tỉnh phải đáp ứng các thủ tục, tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của hàng hóa, quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật quốc tế. Các quy định về lao động, môi trường, vấn đề liên quan đến phát triển bền vững cũng phải được cơ quan chức năng của EU xem xét chặt chẽ.

    Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu G.O.C Bắc Giang (Lạng Giang) đầu tư thiết bị sản xuất, bảo đảm chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường EU.

    Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu G.O.C Bắc Giang (Lạng Giang) đầu tư thiết bị sản xuất, bảo đảm chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường EU.

    Đặc biệt, hàng hóa muốn được hưởng ưu đãi thuế quan thì nguyên liệu phải đáp ứng được một tỷ lệ về hàm lượng nội khối nhất định (nguyên liệu có xuất xứ tại EU hoặc Việt Nam). Đây là thách thức lớn đối với các DN trong tỉnh nói riêng, cả nước nói chung. Bởi hiện nay phần lớn nguyên liệu của ngành xuất khẩu chủ lực là may mặc được nhập khẩu từ Trung Quốc. 

    Cùng đó, nguy cơ về các biện pháp phòng vệ thương mại chống bán phá giá, chống trợ cấp hay tự vệ để bảo vệ ngành sản xuất nội địa của các nước EU đối với DN Việt Nam khi xuất khẩu sang cũng được làm ngặt. Ông Trần Quang Tấn, Giám đốc Sở Công Thương cho biết, khi mở cửa thị trường, Việt Nam cho nhập hàng hóa, dịch vụ từ EU cũng đồng nghĩa với DN trong nước phải cạnh tranh khó khăn hơn ngay tại thị trường nội địa. 

    Trong khi đó, phần lớn DN của tỉnh quy mô vừa và nhỏ nên năng lực cạnh tranh chưa cao. Đây chính là thách thức rất lớn, bởi DN EU có lợi thế hơn hẳn về năng lực cạnh tranh, kinh nghiệm thị trường cũng như khả năng tận dụng các điều khoản trong Hiệp định.

    Trước những thách thức trên, thời gian tới các cơ quan quản lý nhà nước, DN cần chung tay giải quyết các vấn đề. Trước tiên, Sở Công Thương cùng cơ quan chức năng, chính quyền địa phương tích cực tuyên truyền, dự báo về tình hình thị trường xuất nhập khẩu, thị trường trong nước, nội dung Hiệp định để kịp thời nắm bắt yêu cầu về kỹ thuật, quy định về xuất nhập khẩu hàng hóa sang các nước EU.

    Bản thân các DN cũng phải chủ động thay đổi phương thức kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Kinh nghiệm từ xuất khẩu vải thiều sang Mỹ, EU… cho thấy, để nông sản xuất khẩu nhiều qua đường chính ngạch, các DN và nông dân cần có sự liên kết chặt chẽ từ khâu sản xuất đến tiêu thụ; sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP; gắn sản xuất với thị trường; xây dựng và bảo vệ thương hiệu, bao bì, tem nhãn và hoàn thiện chuỗi liên kết.  

    Ngoài ra, các DN chủ động tìm kiếm khách hàng lớn, tin cậy; xây dựng vùng nguyên liệu bảo đảm nội dung Hiệp định; chuẩn bị nguồn lực về vốn để đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất… 

    “Chúng tôi đã đề nghị Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) tiếp tục hỗ trợ kết nối cung cầu tiêu thụ sản phẩm; kết nối với các DN có năng lực xuất khẩu nông sản (nhất là vải thiều) vào các thị trường mới của EU; hỗ trợ tỉnh quảng bá, giới thiệu sản phẩm thông qua các chương trình xúc tiến thương mại tại các quốc gia trên thế giới”, ông Trần Quang Tấn cho biết thêm.

    Theo: Thành Nam – Hoàng Phương (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Nhiều điểm mới trong Nghị định số 40/2019/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường

    Nhiều điểm mới trong Nghị định số 40/2019/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường

    Nghị định số 40/2019/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường vừa chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019. Nghị định có nhiều điểm mới, đột phá trong công tác quản lý bảo vệ môi trường.

     

    Siết chặt quản lý nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất là một trong những nội dung quan trọng của Nghị định số 40/2019/NĐ-CP của Chính phủ


    Nghị định 40/2019/NĐ-CP đã được xây dựng, hoàn thiện trên tinh thần quán triệt, bám sát ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2016 về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường và các văn bản liên quan, đặc biệt là nhấn mạnh quan điểm “không phát triển kinh tế bằng mọi giá; không đánh đổi môi trường lấy kinh tế”, đổi mới phương thức quản lý môi trường “từ bị động giải quyết sang chủ động phòng ngừa” với nhiều quy định mới, đột phá nhằm từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững.

    Nghị định đã cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính (TTHC), cắt giảm điều kiện kinh doanh (ĐKKD), chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” như: (i) bãi bỏ và cắt giảm trên 25 TTHC và ĐKKD, đặc biệt là xóa bỏ cơ chế “xin – cho”, công khai minh bạch, phân cấp mạnh mẽ cho địa phương và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho người dân và doanh nghiệp; (ii) lồng ghép một số TTHC trong các lĩnh vực bảo vệ môi trường, tài nguyên nước, khoáng sản, biển và hải đảo; (iii) giảm thời gian thực hiện TTHC từ 15-25 ngày; (iv) thay đổi phương thức kiểm tra nhà nước về chất lượng phế liệu nhập khẩu theo Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 03/02/2019 và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

    Nghị định gồm 07 điều, sửa đổi, bổ sung các Nghị định sau:

    Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và kế hoạch bảo vệ môi trường: sửa đổi các quy định liên quan đến Đánh giá môi trường chiến lược; lập, thẩm định đánh giá tác động môi trường; vận hành thử nghiệm; Kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường; kế hoạch bảo vệ môi trường; Phương án (PA) cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản; Sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các điều về quản lý chất lượng môi trường (đất, nước, không khí, quan trắc môi trường,…) để phù hợp với Luật Bảo vệ môi trường (BVMT); Sửa đổi, bổ sung các quy định, điều kiện về BVMT trong phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng

    Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường: sửa đổi, bổ sung về: xác nhận hệ thống quản lý môi trường; Cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (ONMTNT) là cơ sở có hành vi vi phạm về xả nước thải, thải bụi, khí thải, gây ô nhiễm tiếng ồn, độ rung vượt QCVN hoặc chôn, lấp, đổ, thải chất thải rắn, chất thải nguy hại trái quy định về BVMT, đến mức bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung đình chỉ hoạt động; quy định liên quan đến Quỹ bảo vệ môi trường, ưu đãi bảo vệ môi trường;

    Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu: sửa đổi, bổ sung: Bỏ các quy định hồi tố được sử dụng bản kê khai, cam kết, kế hoạch, đề án BVMT,… để lập hồ sơ xin cấp Giấy phép xử lý, đồng xử lý chất thải nguy hại; sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp thông thường; Cụ thể hóa một số quy định của Nghị quyết số 09/NQ-CP về việc giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, thống nhất quản lý nhà nước về chất thải; Tăng cường tái chế, tái sử dụng chất thải công nghiệp thông thường làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, san lấp mặt bằng và sử dụng trong các công trình xây dựng nếu phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn hoặc hướng dẫn kỹ thuật; Cơ sở xử lý chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp thông thường phải áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo TCVN ISO 14001; sửa đổi quy định về quản lý nước thải; Công trình phòng ngừa ứng phó sự cố môi trường phải được quy định trong ĐTM hoặc được chấp thuận bổ sung nếu trong báo cáo ĐTM chưa có công trình này; sửa đổi bổ sung quy định về quan trắc, cấp phép xả nước thải, khí thải; về quản lý chất thải đặc thù, quản lý phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất.

    Nghị định số 127/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường: sửa đổi bổ sung về: điều kiện để cấp Giấy chứng nhận: “Có Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm phù hợp với lĩnh vực môi trường được cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định tại Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp;”; Thay đổi nội dung liên quan đến điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường cho phù hợp với thực tiễn và lĩnh vực quản lý về môi trường; Bãi bỏ một số ĐKKD không cần thiết và không thuộc phạm vi quản lý của ngành tài nguyên và môi trường.

    Nguồn: http://www.monre.gov.vn/Pages/nhieu-diem-moi-trong-nghi-dinh-so-402019nd-cp-ve-huong-dan-thi-hanh-luat-bao-ve-moi-truong.aspx

  • Thay đổi cách tính lương, phụ cấp cho cán bộ, công chức từ 1/7/2019

    Thay đổi cách tính lương, phụ cấp cho cán bộ, công chức từ 1/7/2019

    VOV.VN – Từ 1/7/2019, lương cơ sở sẽ tăng lên 1,49 triệu đồng/tháng. Theo đó sẽ có những điều chỉnh về cách tính lương, phụ cấp cho cán bộ, công chức.

    Theo Nghị quyết 70/2018, Quốc hội giao Chính phủ thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở từ 1,39 triệu đồng/tháng lên 1,49 triệu đồng/tháng; điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng theo quy định (đối tượng do ngân sách nhà nước bảo đảm) và trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng tăng bằng mức tăng lương cơ sở.

    Lương cơ sở được áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khu vực nhà nước và các đối tượng chính sách.

    Mức lương mới áp dụng từ ngày 1/7/2019.

    thay doi cach tinh luong, phu cap cho can bo, cong chuc tu 1/7/2019 hinh 1
    Mức lương cơ sở sẽ được tăng từ 1/7/2019. 

    Theo Dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội và hội, mức lương, phụ cấp và hoạt động phí đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp theo mức lương cơ sở từ ngày 1/7/2019 được tính như sau:

     Công thức tính mức lương

    (Mức lương thực hiện từ ngày 1/7/2019) = (Mức lương cơ sở 1.490.000 đồng/tháng ) x ( Hệ số phụ cấp hiện hưởng).

    Công thức tính mức phụ cấp

    Đối với các khoản phụ cấp tính theo mức lương cơ sở:

    (Mức phụ cấp thực hiện từ 1/7/2019) = (Mức lương cơ sở 1.490.000 đồng/tháng) x (Hệ số phụ cấp hiện hưởng)

    Đối với các khoản phụ cấp tính theo % mức lương hiện hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thêm niên vượt khung (nếu có)

    (Mức phụ cấp thực hiện từ 1/7/2019) = (Mức lương thực hiện từ 1/7/2019 + Mức phụ cấp chức vụ lãnh đạo thực hiện từ 1/7/2019+ Mức phụ cấp thâm niên vượt khung thực hiện từ 1/7/2019) x (Tỷ lệ % phụ cấp được hưởng theo quy định).

    Đối với các khoản phụ cấp quy định bằng mức tiền cụ thể thì giữ nguyên theo quy định hiện hành.

    Công chức tính mức tiền của hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có)

    (Mức tiền của hệ số chênh lệch bảo lưu thực hiện từ 1/7/2019) = (Mức lương cơ sở 1.490.000 đồng/tháng) x (Hệ số chênh lệch bảo lưu hiện hưởng nếu có).

    Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp quy định tại Khoảng 5 điều 1 thông tư này

    Căn cứ vào hệ số hoạt động phí đối với đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của pháp luật hiện hành để tính mức hoạt động phí theo công thức sau:

    (Mức hoạt động phí thực hiện từ 1/7/2019) = (Mức lương cơ sở 1.490.000 đồng/tháng) x (Hệ số hoạt động phí theo quy định)

    Đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố quy định tại Khoản 4 Điều 1 Thông tư này:

    Từ ngày 1/7/2019, quỹ phụ cấp được ngân sách Trung ương đối khoán với mỗi cấp xã, thôn, tổ dân phố quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 1 Nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày 8/4/2013 của Chính phủ được tính theo mức lương cơ sở 1.490.000 đồng/tháng. Việc quy định cụ thể mức phụ cấp đối với các đối tượng này thực hiện theo quy định tại Khoản 5 Điều 1 Nghị định số 29/2013/NĐ-CP.

    Dự kiến Thông tư nêu trên sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2019./.

    Theo: Nguyễn Trang (Báo Điện tử VOV)