Danh mục: Tư vấn hỗ trợ Doanh nghiệp

  • Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển Doanh nghiệp Số 1 tổ chức Khóa đào tạo “Chính sách Hải quan, Thuế Xuất nhập khẩu  và các quy định mới có liên quan” năm 2025

    Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển Doanh nghiệp Số 1 tổ chức Khóa đào tạo “Chính sách Hải quan, Thuế Xuất nhập khẩu và các quy định mới có liên quan” năm 2025

    Sáng ngày 20/9/2025, tại Hội trường Trung tâm Hội nghị tỉnh Bắc Ninh, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển Doanh nghiệp Số 1 – Sở Tài chính Bắc Ninh đã khai mạc Khóa đào tạo “Chính sách Hải quan, Thuế Xuất nhập khẩu và các quy định mới có liên quan” năm 2025.

    Khóa đào tạo diễn ra trong bối cảnh Quốc hội đã thông qua Luật số 90/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, sửa đổi và bổ sung nhiều nội dung quan trọng của Luật Thuế Giá trị gia tăng, Luật Thuế Xuất khẩu – Nhập khẩu và Luật Hải quan. Mục tiêu của khóa đào tạo là nhằm giúp cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nắm bắt kịp thời, chính xác những thay đổi về chính sách, từ đó vận dụng hiệu quả vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

    Chương trình đào tạo tập trung vào bốn chuyên đề trọng tâm, bao gồm:

    (1) Chuyên đề 1: Chính sách mới về thủ tục hải quan và thuế xuất nhập khẩu trong năm 2025;

    (2) Chuyên đề 2: Thuế xuất khẩu, nhập khẩu đối với hàng hóa kinh doanh, gia công, sản xuất xuất khẩu, doanh nghiệp chế xuất, xuất nhập khẩu tại chỗ, dự án đầu tư.

    (3) Chuyên đề 3: Quy định mới liên quan đến Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, xuất xứ hàng hóa, trị giá hải quan, phân loại hàng hóa.

    (4) Chuyên đề 4: Phân tích và xử lý kịp thời các vướng mắc thực tiễn, tránh rủi ro bị xử phạt, giải đáp thắc mắc từ giảng viên và học viên.

    Khóa đào tạo có sự tham gia giảng dạy của các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực hải quan và thuế đến từ Học viện Tài chính, gồm TS. Nguyễn Thị Kim Oanh – Phó Trưởng khoa Thuế & Hải quan, TS. Nguyễn Hoàng Tuấn – Trưởng Bộ môn Nghiệp vụ Hải quan, và TS. Thái Bùi Hải An – Giảng viên chính Bộ môn Nghiệp vụ Hải quan. Với kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm thực tiễn, các giảng viên đã phân tích, chia sẻ những điểm mới quan trọng, đồng thời trực tiếp giải đáp những vướng mắc mà doanh nghiệp thường gặp phải trong quá trình hoạt động.

    Với sự tham gia của hơn 120 học viên là lãnh đạo, cán bộ phụ trách công tác kế toán và xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn, khóa đào tạo đã nhận được đánh giá cao về tính cập nhật và chất lượng chuyên môn. Học viên cho biết chương trình đã giúp họ hiểu rõ hơn về các quy định mới, từ đó tháo gỡ khó khăn và chủ động phòng tránh rủi ro pháp lý. Đặc biệt, việc Sở Tài chính Bắc Ninh hỗ trợ, tổ chức khóa đào tạo thiết thực đã thể hiện rõ vai trò đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp, góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

    Trong thời gian tới, Trung tâm sẽ tiếp tục triển khai các chương trình bồi dưỡng, cập nhật chính sách mới cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của doanh nghiệp và kinh tế địa phương.

  • Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh tiếp và làm việc với Đoàn doanh nghiệp Hàn Quốc tìm hiểu môi trường đầu tư tại tỉnh

    Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh tiếp và làm việc với Đoàn doanh nghiệp Hàn Quốc tìm hiểu môi trường đầu tư tại tỉnh

    Thực hiện chương xúc tiến đầu tư phát triển Công Thương năm 2025, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) phối hợp với Thương vụ Việt Nam tại Hàn Quốc và Cơ quan Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc (KOTRA) thông qua Ban Korea Desk tổ chức chương trình đón Đoàn doanh nghiệp Hàn Quốc sang khảo sát môi trường đầu tư và tìm hiểu cơ hội hợp tác tại một số tỉnh tại Việt Nam. Trong khuôn khổ chương trình, được sự cho phép của Văn phòng UBND tỉnh Bắc Ninh, sáng ngày 09/9/2025, Sở Tài chính đã tổ chức tiếp và làm việc với Đoàn doanh nghiệp Hàn Quốc đến tìm hiểu môi trường đầu tư, kinh doanh tại tỉnh Bắc Ninh.

    Đoàn công tác gồm lãnh đạo và chuyên viên Cục Xúc tiến Thương mại cùng 07 đại diện đến từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa Hàn Quốc. Trong đó có sự tham gia của ông Bok Dug Gyou – Trưởng ban Korea Desk Việt Nam, cùng các lãnh đạo cấp cao như Giám đốc, Tổng Giám đốc điều hành đến từ các công ty WelLifes, WISE, YW Ink… Đây đều là những doanh nghiệp quan tâm sâu sắc đến môi trường đầu tư năng động và tiềm năng phát triển công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh.

    Tại buổi làm việc, Đoàn công tác đã trao đổi, đặt nhiều câu hỏi cụ thể xoay quanh quy trình thủ tục tài chính liên quan đến hoạt động đầu tư, tình hình phát triển hạ tầng, quy hoạch quỹ đất cho các khu/cụm công nghiệp, các ưu đãi đầu tư… Các nội dung này đều đã được Lãnh đạo Sở Tài chính trao đổi cởi mở, trực tiếp giải đáp đầy đủ, thể hiện tinh thần hợp tác, trách nhiệm và cam kết đồng hành cùng nhà đầu tư.

    Kết thúc buổi làm việc, đại diện đoàn công tác đánh giá cao sự đón tiếp chu đáo, nhiệt tình, những chia sẻ thẳng thắn, hữu ích từ phía Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh. Về phía Sở Tài chính, lãnh đạo Sở khẳng định sẽ tiếp tục hỗ trợ, cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp quan tâm, thông qua đầu mối là Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp số 1.    

     

  • Sở Tài chính tiếp và làm việc với Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long

    Sở Tài chính tiếp và làm việc với Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long

    Sáng ngày 28/4/2025, Sở Tài chính tỉnh Bắc Giang đã có buổi tiếp và làm việc với đoàn công tác của Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long nhằm trao đổi về nhu cầu tìm kiếm địa điểm đầu tư trên địa bàn tỉnh.

    Tham dự buổi làm việc, về phía Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long có ông Trương Sỹ Toàn – Tổng Giám đốc cùng các lãnh đạo phòng, ban chuyên môn. Về phía Sở Tài chính có ông Nguyễn Ngọc Tú – Phó Giám đốc; ông Đồng Anh Quân – Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp tỉnh Bắc Giang cùng các chuyên viên Trung tâm.

    Tại buổi làm việc, Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long đã giới thiệu khái quát về quá trình hình thành, phát triển và lĩnh vực hoạt động. Là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong ngành sản xuất thực phẩm đóng hộp tại Việt Nam, Công ty hiện cung cấp đa dạng sản phẩm như: cá, thịt, rau quả đóng hộp; xúc xích tiệt trùng; xúc xích đông lạnh; chả giò; nem hải sản… Sản phẩm của Công ty được phân phối rộng khắp trong nước và xuất khẩu tới nhiều thị trường quốc tế, bao gồm Châu Âu, Châu Á, Trung Đông và Châu Phi.

    Nhằm mở rộng hoạt động sản xuất, Công ty bày tỏ mong muốn được đầu tư xây dựng nhà máy chế biến, đóng hộp nông sản, đặc biệt là trái vải thiều – sản phẩm đặc trưng của Bắc Giang. Doanh nghiệp đề nghị được giới thiệu quỹ đất có diện tích khoảng 2 ha, đảm bảo đáp ứng yêu cầu về quy hoạch và thuận lợi trong triển khai dự án.

    Trên cơ sở đề xuất của phía Công ty, đại diện Sở Tài chính đã giới thiệu 03 vị trí tại huyện Lục Ngạn, thị xã Chũ – thủ phủ trái cây của Bắc Giang, đánh giá chi tiết sự phù hợp; đồng thời khẳng định sẽ phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành liên quan để hỗ trợ Công ty trong quá trình thực hiện các thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và triển khai dự án theo đúng quy định.

    Kết thúc buổi làm việc, ông Trương Sỹ Toàn – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc trước sự hỗ trợ tích cực, kịp thời của Sở Tài chính tỉnh Bắc Giang. Ngay sau buổi làm việc, Công ty sẽ tổ chức khảo sát thực địa và ra quyết định đầu tư trong thời gian sớm nhất.

    Phùng Ngọc Trâm

  • ĐÀO TẠO KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH – “CHÌA KHÓA” ĐÓN ĐẦU XU HƯỚNG TOÀN CẦU, NHẬN HỖ TRỢ 200 TRIỆU/DN!

    ĐÀO TẠO KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH – “CHÌA KHÓA” ĐÓN ĐẦU XU HƯỚNG TOÀN CẦU, NHẬN HỖ TRỢ 200 TRIỆU/DN!

    Trong khuôn khổ Chương trình Hỗ trợ Công nghiệp (Cục Công nghiệp – Bộ Công Thương), Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Sở Tài chính tỉnh Bắc Giang phối hợp cùng Mạng lưới Chuyên gia VCN tổ chức khóa đào tạo 1 ngày về Kiểm kê khí nhà kính (KKKNK) dành cho DN.
    ⏰ Thời gian: 28/03/2025
    🏢 Địa điểm: Phòng 3- Tầng 4 – Trung tâm Hội nghị tỉnh – Quảng trường 3/2 đường Hoàng Văn Thụ – Thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
    🔺Tại sao Doanh nghiệp KHÔNG NÊN BỎ LỠ ?
    ✅ Xu thế toàn cầu: KKKNK là bước đệm bắt buộc để DN xuất khẩu, thu hút đầu tư, và phát triển bền vững.
    ✅ Lợi ích “3 trong 1”:
    👉 Hiểu rõ quy trình KKKNK theo tiêu chuẩn quốc tế.
    👉 Thực hành tính toán phát thải & lập báo cáo chi tiết.
    👉 Cơ hội: 8 Doanh nghiệp xuất sắc sẽ được hỗ trợ đào tạo chuyên sâu + chi phí cấp chứng nhận ISO 14064 (trị giá 200 TRIỆU/DN)!
    💵 Lệ phí tham gia: 200.000 VNĐ/Học viên
    ĐĂNG KÝ NGAY để “xanh hóa” DN và đón đầu thị trường:
    Hotline BTC: 0915.55.23.88 – 0915.104.17
    —————————————————-
    Trung tâm Xúc tiến Đầu tư và Phát triển doanh nghiệp – Sở Tài chính Bắc Giang
    ➖ Fanpage: IPC Bắc Giang
    ➖ Website: ipcbacgiang
  • Hội nghị “Phổ biến những nội dung mới liên quan đến đầu tư, việc miễn giảm thuế, ưu đãi đối với dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”

    Hội nghị “Phổ biến những nội dung mới liên quan đến đầu tư, việc miễn giảm thuế, ưu đãi đối với dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”

    Sáng ngày 24/11, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Giang đã phối hợp với Cục Thuế tỉnh tổ chức hội nghị phổ biến quy định mới về đầu tư, miễn giảm thuế giá trị gia tăng, tiền thuê đất và một số ưu đãi đối với dự án đầu tư. Dự hội nghị có đại diện Cục Thuế tỉnh, gần 150 doanh nghiệp, nhà đầu tư đang sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

    Tại Hội nghị, đại diện Sở Kế hoạch và Đầu tư đã phổ biến một số nội dung của Quyết định số 36/2023/QĐ-UBND ngày 30/10/2023 của UBND tỉnh về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 11/2021/QĐ-UBND ngày 19/4/202 của UBND tỉnh quy định điều kiện, tiêu chí, quy mô, tỷ lệ để tách khu đất công thành dự án độc lập; thông tin về chính về ưu đãi đầu tư đối với các dự án. Trong đó, Sở tập trung nêu rõ các điều kiện, tiêu chí, quy mô, tỷ lệ để tách khu đất công thành dự án độc lập. Đồng thời, thông tin về các loại dự án đầu tư trên địa bàn được hưởng ưu đãi theo quy định; đó là: các dự án đầu tư có quy mô vốn từ 6 nghìn tỷ đồng trở lên; xây dựng nhà ở xã hội; khởi nghiệp sáng tạo; kinh doanh chuỗi phân phối sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ và vừa; công nghệ cao, đầu tư vào địa bàn, lĩnh vực ưu đãi đầu tư…

    Cũng tại Hội nghị, Cục Thuế tỉnh phổ biến một số nội dung chính của Quyết định số 25/2023/QĐ-TTg ngày 3/10/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc giảm tiền thuê đất của năm 2023; Nghị định 44/2023/NĐ-CP ngày 30/6/2023 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chính sách giảm thuế giá trị gia tăng theo Quyết định số 101/2013/QH15 ngày 24/6/2023 của Quốc hội.

    Trong khuôn khổ hội nghị, các đại biểu đã sôi nổi trao đổi, thảo luận cũng như đặt các câu hỏi, tình huống tới lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh để được trực tiếp giải đáp thắc mắc cũng như các tình huống thực tế doanh nghiệp đang gặp phải.

    Kết thúc Hội nghị, các doanh nghiệp tham dự đánh giá cao việc trả lợi rõ rành, đúng trọng tâm, không né tránh của đại diện các Sở, ngành và mong muốn trong thời gian tới tỉnh Bắc Giang sẽ tổ chức nhiều hơn nữa các buổi tập huấn thiết thực như trên.

    Ngọc Trâm

  • Hỏi đáp Doanh nghiệp

    Hỏi đáp Doanh nghiệp

    Góc hỏi đáp Doanh nghiệp
    Câu hỏi:
    – Xin hỏi, trong trường hợp nào thì một công ty được gọi là công ty mẹ của công ty khác?
    – Công ty con có được góp vốn, mua cổ phẩn của công ty mẹ hay không?
    Trả lời:
    – Khoản 1 Điều 189 Luật Doanh nghiệp quy định một số công ty được gọi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    + Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó;
    + Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;
    + Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó.
    – Theo quy định Khoản 2 Điều 189 Luật Doanh nghiệp thì công ty con không được đầu tư góp vốn, mua của phần của công ty mẹ.
    Đồng thời, Điều 16 Nghị định 96/2015/NĐ-CP quy định:
    + Góp vốn thành lập doanh nghiệp bao gồm góp vốn, mua cổ phần để thành lập doanh nghiệp mới, mua phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp đã thành lập. Chủ tịch công ty, Hội dđồng thành viên, Hội đồng quản trị của các công ty có liên quan chịu trách nhiệm bảo đảm tuân thủ đúng quy định tại Điều 189 Luật Doanh nghiệp khi quyết định góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của công ty khác. Trong trường hợp này, Chủ tịch công ty hoặc thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị của công ty có liên quan cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại sảy ra cho công ty khi vi phạm các quy định tại Điều này.

    Hà Thảo

  • Kết nối doanh nghiệp và ngân hàng cần xây dựng lòng tin

    Kết nối doanh nghiệp và ngân hàng cần xây dựng lòng tin

    (Chinhphu.vn) – Hội nghị kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp diễn ra tại Hà Nội ngày 16/4 do Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cùng Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Nguyễn Doãn Toản đồng chủ trì với sự tham dự của hàng trăm doanh nghiệp khu vực phía Bắc.

    Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú phát biểu tại hội nghị. Ảnh:VGP/Huy Thắng.

    Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho biết, NHNN xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một trong năm lĩnh vực ưu tiên, chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) tập trung vốn cho vay, quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với lĩnh vực này thấp hơn từ 1% – 1,5%/năm so với các lĩnh vực thông thường khác…

    Với những nỗ lực của cả hệ thống ngân hàng, dư nợ tín dụng nền kinh tế cuối năm 2018 tăng gần 14%, trong 3 tháng đầu năm 2019 tiếp tục tăng khoảng 2,8% so với cuối năm 2018.

    Riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội, đến cuối tháng 3/2019, tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn đã đạt khoảng 3.181.158 tỷ đồng, tăng 2,61% so với cuối năm 2018; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 1.919.546 tỷ đồng, tăng 2,59% so với cuối năm 2018, trong đó, dư nợ cho vay DNNVV đạt 308.344 tỷ đồng, dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 161.961 tỷ đồng, dư nợ cho vay theo Chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp đạt 523.260 tỷ đồng.

    Tuy vậy, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú thẳng thắn thừa nhận rằng, vẫn còn các doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội gặp khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng và các dịch vụ tài chính ngân hàng.

    Đại diện các doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội DNNVV cho biết, điểm khó là khả năng tài chính của các của các doanh nghiệp bị hạn chế, đặc biệt là vấn đề tài sản bảo đảm không hợp pháp, hoặc không đủ uy tín vay tín chấp, thiếu phương án sản xuất kinh doanh khả thi để các ngân hàng cho vay.

    Các doanh nghiệp đối thoại tại Hội nghị. Ảnh:VGP/Huy Thắng

    “Về phía mình, các Hiệp hội có thể tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp thủ tục, gồm cả tài sản thế chấp để đủ điều kiện vay vốn. Tuy nhiên, phía ngân hàng cũng cần thay đổi tư duy, coi khách hàng là đối tượng phục vụ, nhân viên cần lăn lộn đồng hành chia sẻ với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhiều hơn”, ông Nguyễn Văn Thân nói.

    Để tháo gỡ khó khăn, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú đề nghị trong thời gian tới, các Vụ, Cục của NHNN cùng với ngành ngân hàng cần tiếp tục triển khai quyết liệt Nghị Quyết 02/NQ-CP (ngày 01/01/2019) về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 08/01/2019 của NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2019.

    Các ngân hàng cần lưu ý đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tiếp tục rà soát và đề xuất cắt giảm điều kiện kinh doanh, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của hệ thống các TCTD; duy trì và nâng cao chỉ số hoạt động thông tin tín dụng cả chiều rộng và chiều sâu, góp phần cải thiện chỉ số tiếp cận tín dụng nói riêng, môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

    Toàn cảnh Hội nghị. Ảnh:VGP/Huy Thắng.

    Với các ngân hàng thương mại, Phó Thống đốc Đào Minh Tú để nghị cần triển khai mạnh tín dụng có định hướng các lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN. Cần tăng cường phối hợp với Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV tại địa phương để cho vay các DNNVV.

    Cần chủ động cân đối khả năng tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động, tiết giảm chi phí để có điều kiện giảm lãi suất cho vay trong khuôn khổ của chương trình nhằm chia sẻ khó khăn với khách hàng…Cần bám sát chỉ đạo của NHNN Việt Nam về lãi suất; không được thu các loại phí liên quan đến khoản vay, trừ một số khoản phí được phép theo quy định của pháp luật.

    Các ngân hàng cần đẩy mạnh cải cách thủ tục cho vay, rút ngắn thời gian xét duyệt, đa dạng hóa các loại sản phẩm tín dụng, dịch vụ ngân hàng phù hợp với từng đối tượng khách hàng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, tiêu dùng của người dân, hạn chế tín dụng đen.  Với đối tác, cần linh hoạt xem xét gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và các giải pháp tháo gỡ khó khăn đối với doanh nghiệp khi gặp rủi ro do các nguyên nhân khách quan, chưa thể trả được nợ đúng hạn theo quy định.

    Phó Thống đốc Đào Minh Tú cũng đề nghị lãnh đạo UBND TP.Hà Nội chỉ đạo các Sở, ban ngành, chính quyền các cấp phối hợp chặt chẽ với ngành ngân hàng trong việc triển khai chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp để cùng tháo gỡ khó khăn trong các lĩnh vực đất đai, thuế, cơ sở hạ tầng… khi doanh nghiệp tiếp cận vay vốn ngân hàng để phát triển sản xuất kinh doanh; tiếp tục hỗ trợ các TCTD trên địa bàn trong xử lý tài sản bảo đảm, xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42/2017/QH14. Các Hiệp hội DNNVV, Hiệp hội ngành nghề tích cực thông tin đến các doanh nghiệp thành viên về các chính sách của nhà nước; phát huy mạnh mẽ vai trò là cầu nối cho các doanh nghiệp tiếp cận với các TCTD.

    NHNN sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách và triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực, tín dụng chính sách theo chủ trương của Chính phủ; hoàn thiện và triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ DNNVV, đặc biệt là chính sách về bảo lãnh tín dụng cho DNNVV vay vốn TCTD, hỗ trợ vốn thông qua Quỹ phát triển DNNVV.

    Đại diện ngân hàng thương mại, ông Quách Hùng Hiệp, Phó Tổng Giám đốc BIDV cho biết, quy định cho vay hiện tại còn chưa linh hoạt về hồ sơ cấp tín dụng với trường hợp rủi ro thấp như bảo đảm tài sản bằng tiền gửi do chính ngân hàng phát hành, nên việc cắt giảm thủ tục này gặp khó.  Hơn nữa, cần khẩn trương bắt kịp xu hướng triển khai các sản phẩm tín dụng hàm lượng công nghệ cao, tiếp nhận phê duyệt hồ sơ trực tuyến, đẩy nhanh quy trình cấp tín dụng. Nhưng trước tiên, về khuôn khổ pháp lý cần sửa quy trình tín dụng linh hoạt hơn phù hợp với công nghệ mới.

    Ông Nguyễn Doãn Toản, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội cho rằng, các doanh nghiệp gặp khó nhưng các ngân hàng cũng đỏ mắt tìm các dự án khả thi và vẫn phải bảo đảm an toàn vốn. Các ngân hàng và doanh nghiệp cần tiến đến gần nhau hơn, hiểu nhau hơn.

    Cần nâng cao năng lực cán bộ thẩm định, tăng cường các hoạt động cho vay tín chấp với doanh nghiệp, còn các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực xây dựng, thuyết trình khả thi các dự án đầu tư.

    “Về phía UBND, chúng tôi sẽ chỉ đạo các Sở, ngành đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để có tài sản  bảo đảm cho DN thời gian ngắn nhất, cơ quan thi thành án dân sự đẩy nhanh tiến độ thi hành án, hỗ trợ các TCTD xử lý tồn đọng”, ông Nguyễn Doãn Toán nói.

    Chuỗi hội nghị kết nối ngân hàng doanh nghiệp được triển khai trong tháng 4, tháng 5/2019 tại 3 thành phố Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp về nguồn vốn, tập trung vốn vào sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của từng địa phương.

                                                             Theo: Huy Thắng (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • Phát triển HTX kiểu mới: Chính sách đã đầy đủ, cần làm ngay

    Phát triển HTX kiểu mới: Chính sách đã đầy đủ, cần làm ngay

    (Chinhphu.vn) – Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho rằng, nhờ liên kết trong một khối là HTX kiểu mới, các hộ, xã viên cùng điều chỉnh lịch thời vụ, thực hiện một quy trình canh tác lúa và sử dụng một loại giống lúa chịu hạn tốt… không chỉ gia tăng lợi nhuận, mà còn giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu (BĐKH).

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu tại diễn đàn. Ảnh: VGP/Thành Chung

    Sáng 16/4 tại tỉnh Đồng Tháp, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương đổi mới và phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã đã chủ trì Diễn đàn “Củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL”.

    Nhiều hộ đăng ký tham gia HTX kiểu mới

    Sau gần 3 năm triển khai Quyết định số 445/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Thí điểm hoàn thiện, nhân rộng mô hình HTX kiểu mới tại vùng ĐBSCL giai đoạn 2016-2020”, toàn vùng đã lựa chọn 156 HTX và 19 tổ hợp tác đăng ký tham gia thí điểm. Đến nay đã có 18 tổ hợp tác đã thành lập các HTX.

    Các ý kiến đồng thuận cho rằng, thích ứng với BĐKH (hay sống chung với BĐKH) là xu thế tất yếu. Trong xu thế này yếu tố con người, kỹ năng thích ứng thông qua các giải pháp “phi công trình” đóng vai trò quan trọng số một.

    Cụ thể, hoạt động của HTX nông nghiệp ứng phó với BĐKH thể hiện ở các công việc tổ chức lập kế hoạch đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm và tiếp nhận sáng kiến của người dân về ứng phó với BĐKH. Bố trí lại mùa vụ, cơ cấu cây trồng, lựa chọn và cung ứng vật tư, phân bón, cây con giống thích hợp với điều kiện BĐKH. Tổ chức xuống giống cùng trà, cùng thời điểm. Cung cấp dịch vụ tưới tiêu và quản lý đê bao, bờ vùng, bờ thửa. Hỗ trợ thành viên tham gia chuỗi giá trị nông sản. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quan trắc, sản xuất nông nghiệp.

    Theo ông Nguyễn Văn Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác (Bộ NN&PTNT), hiện nay ở tất cả các địa phương của ĐBSCL đều có những HTX nông nghiệp tổ chức cộng đồng, nông dân ứng phó với BĐKH hiệu quả, cụ thể như hàng chục các HTX nông nghiệp ở các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang tổ chức nông dân chuyển đổi mô hình sản xuất từ 2 vụ lúa sang mô hình lúa tôm, mô hình nuôi tôm dưới tán rừng, có lợi nhuận ròng là 52,20 triệu đồng/ha/năm, trong khi canh tác thuần lúa nông dân chỉ có lợi nhuận ròng là 39,20 triệu đồng/ha/năm.

    Nhiều hộ nông dân đã xin vào HTX nuôi tôm Cái Bát ở Cà Mau khi HTX này nghiên cứu, xây dựng kế hoạch sản xuất, tổ chức thả giống đồng loạt, liên kết với doanh nghiệp ứng dụng quy trình nuôi tôm theo tiêu chuẩn ASC đã giúp nông dân nâng cao thụ nhập và đặc biệt là hạn chế rủi ro trong sản xuất.

    Tại các tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, các mô hình HTX nông nghiệp đang ứng dụng nông nghiệp thông minh vào sản xuất lúa gạo trên quy mô cả chục ngàn ha nâng cao chất lượng hiệu quả kinh tế cao.

    Đại diện các HTX, các nhà khoa học đều nhấn mạnh, tại ĐBSCL, sản xuất nông nghiệp không chỉ chuyển đổi mạnh theo cơ chế thị trường, mà phải đồng thời bảo đảm thích ứng với BĐKH. Điều này càng thấy được ý nghĩa của HTX kiểu mới trong tổ chức thực hiện sản xuất đồng bộ, bền vững và gia tăng lợi nhuận cho từng xã viên.

    Ông Lê Hoàng Anh, Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Nông nghiệp Số cho rằng, chỉ cần sử dụng công nghệ bình dân, HTX nông nghiệp cũng có thể góp phần giảm thiểu tác động và thích nghi với BĐKH.

    “Một hệ thống kiểm soát và điều khiển tưới thông minh bằng phần mềm cho các cánh đồng trồng trọt quy mô nhỏ và vừa có thể tiết kiệm nước bằng cách tưới về đêm, khi đó tỉ lệ bốc hơi của nước ít hơn, nhiệt độ đất mát hơn, cây trồng hấp thụ nước tốt hơn dẫn đến hiệu quả tưới cao hơn, tưới ít mà năng suất, việc tiết kiệm điện năng, tiết kiệm nước cũng sẽ là đáng kể cho HTX nông nghiệp”, ông Lê Hoàng Anh cho biết.

    Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, một số HTX đề nghị Chính phủ ban hành riêng một nghị định về phát triển HTX gắn với ứng phó BĐKH; các bộ, ngành triển khai hiệu quả các nghị định của Chính phủ về tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp,… để các HTX nông nghiệp vay vốn đầu tư thuận lợi hơn. Ngoài ra, các bộ, ngành Trung ương có chính sách phát triển đội ngũ tư vấn cho các HTX nông nghiệp hoạt động theo mô hình mới và thích ứng với BĐKH.

     

    Ảnh: VGP/Thành Chung

    Phát triển HTX: Vai trò của địa phương, doanh nghiệp

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đánh giá quy mô HTX nông nghiệp trong vùng đã tăng về thành viên, vốn và diện tích. Tuy tốc độ tăng thành viên còn nhỏ nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh của HTX nông nghiệp của vùng cao hơn các khu vực khác của cả nước, đạt 1,07 tỷ đồng doanh thu và lợi nhuận đạt 154 triệu đồng/năm.

    Trưởng Ban Chỉ đạo đề nghị chính quyền, các doanh nghiệp và HTX tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn việc phát triển HTX nông nghiệp theo cơ chế thị trường và thích ứng với BĐKH để củng cố vai trò chiến lược về sản xuất nông nghiệp của vùng ĐBSCL.

    Bên cạnh đó, quán triệt rõ hơn vai trò của HTX kiểu mới, không làm triệt tiêu vai trò của kinh tế hộ mà gia tăng hơn lợi ích cho hộ gia đình để chính quyền, doanh nghiệp vun đắp, phát triển các mô hình mới này.

    “Nếu Nhà nước bỏ mặc HTX tự phát triển là sai lầm. Phải tạo điều kiện HTX phát triển theo thị trường và gia tăng sự trợ giúp của doanh nghiệp vì chính lợi ích của doanh nghiệp. Động cơ của HTX là lợi ích, liên kết thay vì hoạt động cá thể”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

    Qua khảo sát tại xã Mỹ Đông 2 vào chiều hôm qua, Phó Thủ tướng cho rằng, nhờ liên kết trong một khối, các hộ, xã viên cùng điều chỉnh lịch thời vụ, thực hiện một quy trình canh tác lúa và sử dụng một loại giống lúa chịu hạn tốt không chỉ gia tăng lợi nhuận mà còn giảm thiểu tác động BĐKH.

    Trưởng Ban Chỉ đạo cũng nêu rõ vai trò đi đầu, quan trọng của địa phương và doanh nghiệp để chăm lo, phát triển HTX với hàng loạt các chính sách như Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các Nghị định số 57/2018/NĐ-CP, 58/2018/NĐ-CP và 116/NĐ-CP về chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, chính sách tín dụng và bảo hiểm nông nghiệp,…

    “Chính sách đã có nhiều rồi và giờ phải hành động thôi. Địa phương phải coi trọng phát triển HTX về chất lượng chứ không chỉ chạy theo số lượng bằng các kế hoạch chi tiết, cụ thể, phân quyền cho từng cấp như cách làm của Đồng Tháp”, Trưởng Ban Chỉ đạo nói.

    Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Tài chính sớm tham mưu cho Chính phủ để báo cáo Quốc hội ban hành nghị quyết miễn giảm thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có việc xoá nợ khê đọng của HTX kiểu cũ, tạo thuận lợi cho HTX chuyển đổi sang mô hình mới; sớm trình Chính phủ ban hành Nghị định tổ chức hoạt động của Quỹ HTX Trung ương và địa phương, có việc bảo lãnh tín dụng cho HTX vay vốn.

    Các địa phương dùng nguồn vượt thu hằng năm để bổ sung cho Quỹ phát triển HTX địa phương để nuôi dưỡng các HTX hoạt động hiệu quả, tạo ra nguồn thu lâu dài cho địa phương và xã viên.

    Bộ NN&PTNT nghiên cứu triển khai một hội nghị chuyên đề về tín dụng cho nông nghiệp, trong đó có HTX; nghiên cứu xây dựng nghị định riêng của Chính phủ về HTX nông nghiệp.

    Bộ KH&ĐT ban hành thông tư hướng dẫn về hoạt động của kinh tế trang trại, giúp liên kết giữa các hộ nông dân, kinh tế trang trại với HTX. Các Bộ KH&CN và TN&MT phối hợp xây dựng môi trường sáng tạo-khởi nghiệp cho các HTX.

     

                                                    Theo: Thành Chung (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn làm việc với nhà đầu tư Hàn Quốc

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn làm việc với nhà đầu tư Hàn Quốc

    (BGĐT) – Ngày 10-4, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bắc Giang Lại Thanh Sơn tiếp và làm việc với lãnh đạo Công ty cổ phần Hana Micron (Hàn Quốc). Cùng dự có lãnh đạo các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý các khu công nghiệp (KCN) tỉnh.

    Tại buổi tiếp, ông Choi Chang Ho, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Hana Micron cho biết, hiện nay, đơn vị là một trong ba doanh nghiệp sản xuất chất bán dẫn, thiết bị cảm ứng vân tay hàng đầu Hàn Quốc. Ngoài đầu tư trong nước, Công ty đang đầu tư khá hiệu quả tại Braxin và đang có nhu cầu mở rộng sản xuất tại Việt Nam. Sau khi tìm hiểu nhiều nơi, Công ty bày tỏ nguyện vọng muốn khảo sát, lập dự án đầu tư trị giá khoảng 500 triệu USD tại KCN Vân Trung (Việt Yên). Công ty cam kết sản xuất sạch, không làm phát sinh khói, bụi và tuân thủ các quy định hiện hành tại KCN. Đồng thời, đề nghị UBND tỉnh tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng, hạ tầng lưới điện phục vụ sản xuất.

    Lãnh đạo Công ty cổ phần Hana Micron giới thiệu dự án đầu tư với Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn. 

    Lãnh đạo Công ty cổ phần Hana Micron giới thiệu dự án đầu tư với Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn. 

    Bày tỏ vui mừng khi Công ty cổ phần Hana Micron quan tâm, nghiên cứu xây dựng nhà máy sản xuất chất bán dẫn, công nghệ cao tại Bắc Giang, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn cho biết, Bắc Giang có nhiều tiềm năng về vị trí địa lý, hạ tầng giao thông, đất đai và lao động. Trong đó, nguồn lao động trẻ, dồi dào là lợi thế lớn giúp các doanh nghiệp sớm ổn định sản xuất, kinh doanh tại các KCN. Đồng chí mong rằng dự án sẽ sớm được triển khai, đi vào hoạt động, góp phần phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh. UBND tỉnh và các sở, ngành đơn vị liên quan cam kết tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, cấp mặt bằng sạch, bảo đảm hạ tầng kỹ thuật liên quan như đường giao thông, cung cấp điện, nước đáp ứng nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp.

    Các đại biểu chứng kiến Ban Quản lý các KCN tỉnh và Công ty cổ phần Hana Micron ký biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư.

    Các đại biểu chứng kiến Ban Quản lý các KCN tỉnh và Công ty cổ phần Hana Micron ký biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư.

    Tại buổi tiếp, đồng chí Lại Thanh Sơn và các đại biểu đã chứng kiến Ban Quản lý các KCN tỉnh và Công ty cổ phần Hana Micron ký biên bản ghi nhớ, cam kết tạo điều kiện thuận lợi, sớm khảo sát, lập dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.

     

                                                                           Theo: Vũ Hồng (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Thường trực Chính phủ họp về quy định thực hiện dự án BT

    Thường trực Chính phủ họp về quy định thực hiện dự án BT

    Sáng 11-4 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì cuộc họp Thường trực Chính phủ thảo luận về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của Dự thảo Nghị định quy định việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT (hợp đồng xây dựng – chuyển giao).

    Tại phiên họp các đại biểu đều cho rằng thực hiện các dự án BT là cần thiết trong bối cảnh nguồn lực ngân sách nhà nước hạn chế. Bản chất của dự án BT là Nhà nước huy động vốn xã hội đầu tư công trình thiết yếu, sau đó đổi trả bằng tài sản, hàng hóa khác.

    Thời gian qua, không ít dự án BT bị cho là có thất thoát, nhất là các dự án thanh toán cho nhà đầu tư bằng đất đai. Bởi thực tế giá trị đất đai bị tính giá thấp hơn giá trị thực theo thị trường, trong khi giá dự án BT được định giá khá cao, khiến phần thiệt hại thuộc về Nhà nước.

     Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại phiên họp.

     Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại phiên họp.

    Mặc dù Chính phủ đã có Nghị quyết số 160 ngày 28-12-2018 điều chỉnh các hợp đồng BT đã ký trước ngày 1-1-2018. Tuy vậy, để tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong thực hiện loại hình dự án này, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính dự thảo Nghị định quy định việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT.

    Các đại biểu đại diện các bộ, ngành cũng cho rằng cần thảo luận làm rõ một số vấn đề, trong đó có quy định: Hình thức giao đất theo nguyên tắc ngang giá không thông qua đấu giá; có nên đấu thầu đồng thời dự án BT và đấu giá quyền sử dụng đất hay không… Các đại biểu dự họp cũng thảo luận về việc thực hiện dự án BT bằng tiền (dự nguồn từ vượt thu hoặc đấu giá quyền sử dụng đất).

    Phát biểu kết luận phiên họp, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, đầu tư theo hình thức BT vẫn là hình thức cần thiết hiện nay, đó cũng là việc triển khai thực hiện Luật quản lý tài sản công năm 2017.

    Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tài chính tiếp tục tiếp thu ý kiến của các đại biểu dự họp để hoàn thiện Dự thảo Nghị định, giúp Nghị định khi ban hành sẽ đi vào cuộc sống, đóng góp tăng trưởng kinh tế năm 2019 và các năm tiếp theo. Thủ tướng yêu cầu, Nghị định này phải mở ra không gian tốt để sử dụng nguồn lực phát triển đất nước.

    Yêu cầu hoàn thiện Dự thảo Nghị định ngay trong tháng 4 để trình Thủ tướng xem xem xét, Thủ tướng cũng chỉ đạo việc xây dựng Nghị định phải bảo đảm chặt chẽ về mặt pháp lý, phù hợp với thị trường nhưng không để xảy ra thất thoát, lãng phí, tham nhũng tiêu cực đối với tài sản công. Cùng với đó là phân cấp, giao quyền rõ ràng, gắn với trách nhiệm để tránh những sai phạm xảy ra.

     

                                                                                                                           Theo TTXVN

  • Áp dụng quy trình mới, xây dựng thương hiệu ổi sạch

    Áp dụng quy trình mới, xây dựng thương hiệu ổi sạch

    (BGĐT) – Là một trong những hộ đầu tiên đưa ổi lê Đài Loan vào trồng ở thôn Hòa Sơn, xã Cao Thượng, huyện Tân Yên (Bắc Giang) đến nay gia đình bà Trần Thị Hân đã chuyển đổi hơn 7 sào đất ruộng kém hiệu quả sang trồng ổi.

     

    Mô hình ổi lê Đài Loan cho năng suất cao ở xã Cao Thượng.

    Mô hình ổi lê Đài Loan cho năng suất cao ở xã Cao Thượng.

    Theo bà Hân, ổi lê dễ trồng và phù hợp với thổ nhưỡng nên sinh trưởng, phát triển tốt, sau một năm trồng là cho thu hoạch, đạt năng suất cao từ năm thứ hai trở đi. Dự kiến năm nay, 7 sào ổi lê của gia đình bà Hân cho thu hoạch khoảng 10 tấn quả. Với giá bán dao động từ 10 đến 15 nghìn đồng/kg, gia đình bà thu hơn 100 triệu đồng.

    Tương tự, bà Nguyễn Thị Mận thôn Lân Thịnh, xã Phúc Hòa đang thu hoạch lứa ổi đầu tiên trong năm nay. “Trồng ổi lê Đài Loan một năm thường chỉ dùng 2 đến 3 lần thuốc bảo vệ thực vật chống sâu bệnh, ít hơn nhiều so với các loại cây ăn quả khác. Hơn nữa, quả được bọc từ khi mới ra nên hầu như không tiếp xúc với thuốc. Ổi sạch, thơm ngon, chín đến đâu được thu hoạch và bán cho thương lái ngay tại vườn đến đó”, bà Mận chia sẻ.

    Hiện diện tích ổi lê Đài Loan trong toàn huyện là 160 ha, tập trung nhiều ở các xã: Cao Thượng, Hợp Đức và Phúc Hòa. Giống ổi này rất hợp với chất đất ở địa phương nên cho quả ngọt, thịt dày, ít hạt, thơm ngon. Sau mỗi đợt thu quả, nông dân bấm ngọn, cây ổi không cao và ra quả quanh năm. Bình quân một sào ổi mỗi năm cho thu khoảng 20 triệu đồng. 

    Theo lãnh đạo Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Tân Yên, do trồng tập trung và là ổi sạch vì áp dụng kỹ thuật bọc túi ni lông từ khi có quả nên việc hướng người dân sản xuất theo quy trình sạch khá thuận lợi, có thể áp dụng được ngay. Để phát triển giống cây này, địa phương đã xây dựng đề án với 3 loại cây ăn quả chủ lực gồm: Ổi lê Đài Loan, bưởi đỏ và nhãn muộn.

    Trước mắt, Phòng đang phối hợp với các địa phương nằm trong vùng quy hoạch tăng diện tích ổi lê Đài Loan, đồng thời tổ chức thêm các lớp tập huấn, hướng dẫn người dân sản xuất theo quy trình VietGAP. Về lâu dài, huyện đã có kế hoạch xây dựng nhãn hiệu ổi lê Đài Loan để khẳng định thương hiệu và chất lượng sản phẩm. Từ đó ổn định đầu ra cho quả ổi lê Đài Loan trên đồng đất Tân Yên.

     

                                                                                           Theo: Phương Thảo (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Dự kiến tăng trưởng tín dụng 14% trong năm 2019

    Dự kiến tăng trưởng tín dụng 14% trong năm 2019

    (Chinhphu.vn) – Trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2019 là 6,8% và lạm phát bình quân dưới 4% được Quốc hội và Chính phủ đặt ra từ đầu năm, NHNN đã xây dựng chỉ tiêu định hướng tăng trưởng tín dụng cả năm 2019 khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. 

    Đây là ý kiến của Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng tại buổi Họp báo về Điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng quí I/2019 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức ngày 1/4. 
     

    Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng chủ trì họp báo quý I/2019 của NHNN. Ảnh:VGP/Huy Thắng.

    Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2019 và Nghị quyết các phiên họp Chính phủ 2 tháng đầu năm, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả. Theo đó, bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, trong 3 tháng đầu năm 2019, NHNN điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối. 

    “NHNN sẽ nỗ lực hỗ trợ tăng trưởng tín dụng nhưng bảo đảm không chủ quan với diễn biến lạm phát, nên sẽ giữ tăng trưởng tín dụng và lãi suất hợp lý, mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hiệu quả”, Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng nói.

    Về tăng trưởng tín dụng, ông Phạm Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN cho biết, NHNN đã có công văn chỉ đạo định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống và thống báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với từng tổ chức tín dụng (TCTD); trong đó, ưu tiên chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn đối với TCTD thực hiện trước thời hạn các quy định về tỉ lệ an toàn vốn tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016. Tính đến ngày 25/3/3019, tín dụng đối với nền kinh tế tăng khoảng 2,28% so với cuối năm 2018, ông Phạm Thanh Hà cho biết.

    NHNN điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ, giữ ổn định các mức lãi suất điều hành và chỉ đạo TCTD rà soát, cân đối tài chính để áp dụng lãi suất cho vay hợp lý. Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tiếp tục ổn định, lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 6-9%/năm, 9-11%/năm đối với trung và dài hạn. Ngay sau Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành ngân hàng đầu năm 2019, các ngân hàng lớn đã chủ động giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ cho doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ với mức giảm phổ biến khoảng 0,5%/năm. Đối với công tác điều hành tỉ giá, trong 3 tháng đầu năm 2019, tỉ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, được hỗ trợ từ nguồn cung ngoại tệ dồi dào, thanh khoản thị trường tốt, hệ thống TCTD tiếp tục mua ròng ngoại tệ từ khách hàng, nhờ đó NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước.

    Phân tích về cơ cấu tín dụng, ông Trần Văn Tần, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế NHNN cho biết cụ thể, tín dụng đối với ngành công nghiệp tăng 2,57%, chiếm tỉ trọng 19,99% (năm 2018 tăng 9,11%, tỉ trọng 19,86%), trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,79%, chiếm tỉ trọng 15,35% (năm 2018 tăng 11,17%, tỉ trọng 15,21%).

    Tín dụng đối với ngành xây dựng tăng 1,08%, chiếm tỉ trọng 9,63% (năm 2018 tăng 11,75%, tỉ trọng 9,71%); tín dụng đối với ngành thương mại và dịch vụ tăng 1,97%, chiếm tỉ trọng 61,21% (năm 2018 tăng 18,19%); tín dụng đối với ngành nông, lâm, thủy sản tăng 1,01%, chiếm tỉ trọng 9,17% (năm 2018 tăng 5,41%, tỉ trọng 9,25%)… Đến ngày 25/3/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,67% so với cuối năm 2018. 

    Riêng đối với lĩnh vực lúa gạo, để kịp thời hỗ trợ tiêu thụ lúa Vụ Đông Xuân năm 2019, ngay sau nghỉ Tết Nguyên đán,  NHNN đã yêu cầu NHNN chi nhánh 13 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), các ngân hàng tập trung nguồn vốn, giải ngân đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu vốn của doanh nghiệp, thương nhân để thu mua thóc, gạo cho người dân; riêng các ngân hàng thương mại nhà nước tiên phong hạ lãi suất cho vay ngắn hạn xuống còn 6%/năm để hỗ trợ các doanh nghiệp thu mua lúa gạo. Kết quả đến nay, các TCTD tại khu vực ĐBSCL đã thực hiện giải ngân khoảng 10.719 tỷ đồng cho các tổ chức, cá nhân để thu mua trên 1,7 triệu tấn lúa gạo vụ Đông Xuân 2019, góp phần hạn chế đà giảm giá lúa gạo cho bà con nông dân. 

    Về lĩnh vực thanh toán, ông Nghiêm Thanh Sơn, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán NHNN cho biết, đến cuối năm 2018, số lượng giao dịch thanh toán nội địa qua thẻ ngân hàng đạt gần 230,7 triệu giao dịch (tăng 19,02% so với năm 2017) với tổng số tiền giao dịch là 592 nghìn tỷ đồng. Số lượng giao dịch tài chính qua kênh Internet đạt hơn 255,6 triệu giao dịch với giá trị giao dịch khoảng 16,2 triệu tỷ đồng (tăng tương ứng 33,6% và 19,5% so với cùng kỳ năm 2017); số lượng giao dịch tài chính qua kênh điện thoại di động đạt gần 185,1 triệu giao dịch, với giá trị giao dịch gần 1.859,9 nghìn tỷ đồng (tăng tương ứng 41,4% và 169,5% so với cùng kỳ năm 2017).

    “Trong năm 2018, hoạt động thanh toán Việt Nam đã có những thay đổi mạnh mẽ đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế và bám sát sự phát triển của công nghệ thanh toán”, ông Nghiêm Thanh Sơn cho biết. 

    Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, kết quả cơ cấu lại các TCTD đã tạo sự ổn định, an toàn của hệ thống các TCTD được giữ vững, cụ thể: Năng lực tài chính của các TCTD tiếp tục được củng cố, vốn điều lệ tăng dần qua các năm; Chất lượng tín dụng được cải thiện; quy mô hệ thống các TCTD tiếp tục tăng… Các giải pháp xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ cùng với các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh đã góp phần nâng cao chất lượng tín dụng và giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các TCTD. Tỉ lệ nợ xấu nội bảng được duy trì dưới 2%. Kết quả xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42 tính đến 31/01/2019, ước tính toàn hệ thống TCTD đã xử lý được khoảng 204,4 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42, ước đạt trên 40,1% tổng nợ xấu được xác định theo Nghị quyết số 42 (riêng năm 2018 xử lý được khoảng 113,4 nghìn tỷ đồng).

    Về điều hành tỉ giá, trong 3 tháng đầu năm 2019, tỉ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, được hỗ trợ từ nguồn cung ngoại tệ dồi dào, thanh khoản thị trường tốt, hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục mua ròng ngoại tệ từ khách hàng, nhờ đó NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước. 
        
    Nêu định hướng điều hành trong những tháng tiếp theo, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng khẳng định, căn cứ các mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ và triển vọng kinh tế vĩ mô, tiền tệ, trong những tháng tới đây, NHNN tiếp tục điều hành CSTT theo định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 13%, tín dụng tăng khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Trong đó, trọng tâm là điều hành nghiệp vụ thị trường mở nhằm điều tiết thanh khoản của các TCTD ở mức hợp lý, ổn định thị trường tiền tệ, góp phần thực hiện mục tiêu CSTT. Điều hành công cụ dự trữ bắt buộc đồng bộ với các công cụ CSTT khác, phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ và mục tiêu CSTT. 

    Lãnh đạo NHNN xác định mục tiêu,  tiếp tục triển khai và giám sát chặt chẽ việc thực hiện cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu. Đồng thời, kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng gắn với tăng cường xử lý nợ xấu theo nguyên tắc thị trường; hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các TCTD. Việc xử lý nợ xấu phải gắn với việc triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh và nâng cao chất lượng tín dụng của các TCTD; phát huy vai trò của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) trong việc xử lý nợ xấu để bảo đảm duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn, bền vững…
      
    Trong hoạt động thanh toán, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, NHNN tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách phát triển TTKDTM, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng được yêu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán của người dân. Sẽ triển khai các mô hình thanh toán tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa gắn với việc xây dựng và triển khai Chiến lược Quốc gia về Tài chính Toàn diện tại Việt Nam; thúc đẩy thanh toán điện tử trong khu vực Chính phủ…

     

                                  Theo: Huy Thắng (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • OECD muốn mời Việt Nam tham gia ‘Chương trình quốc gia’

    OECD muốn mời Việt Nam tham gia ‘Chương trình quốc gia’

    (Chinhphu.vn) – Việc tham gia Chương trình quốc gia của OECD, Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận với các tiêu chuẩn quốc tế về xây dựng thể chế cho quản lý và phát triển đầu tư, công nghệ cao, phát triển bao trùm, phòng chống tham nhũng và quản trị doanh nghiệp Nhà nước.

    Ảnh: VGP/Thành Chung

    Chiều 1/4, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã tiếp ông Andreas Schaal, Giám đốc Ban quan hệ toàn cầu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đang làm việc với một số bộ, ngành của Việt Nam về xây dựng Đánh giá đa chiều.

    Hiện nay, OECD và các bộ, ngành của Việt Nam đang triển khai các thủ tục, hành động cụ thể để sớm hoàn thành Chương trình Đánh giá đa chiều trong năm 2019.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh Đánh giá đa chiều của OECD sẽ là căn cứ quan trọng để Chính phủ Việt Nam tham khảo nhằm hoạch định chính sách chiến lược cho giai đoạn 10 năm 2021-2030 và hướng tới năm 2045.

    Ông Andreas Schaal tin tưởng Đánh giá đa chiều của OECD sẽ tập trung hỗ trợ Việt Nam xây dựng các thể chế về đầu tư, công nghệ cao, phát triển bao trùm và phòng, chống tham nhũng.

    Bên cạnh Đánh giá đa chiều, OECD mong muốn Việt Nam tham gia vào Chương trình quốc gia mà tổ chức này đang triển khai, trong đó có nhiều nội dung mà Việt Nam đang quan tâm về xây dựng chính sách thuế, phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực theo các tiêu chuẩn quốc tế tiên tiến.

    Hoan nghênh OECD mời Việt Nam tham gia vào chương trình mới này, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đánh giá Chương trình quốc gia là cần thiết đối với Việt Nam, là bước hợp tác với các nội dung rộng hơn nhưng có tính tiếp nối chương trình Đánh giá đa chiều. Chương trình quốc gia sẽ giúp Việt Nam thực thi các chính sách đang triển khai, hướng theo chuẩn của OECD về xây dựng thể chế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế.

    Ngoài các lĩnh vực mà OECD đề cập trong Chương trình quốc gia, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đề nghị OECD bổ sung hỗ trợ Việt Nam xây dựng các tiêu chuẩn trong quản trị các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước mà đối tượng chính là Uỷ ban quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp mới được thành lập; xây dựng thể chế cho thị trường và các quỹ liên quan tới khởi nghiệp, sáng tạo trên nền tảng của công nghệ.

    Giám đốc Ban quan hệ toàn cầu của OECD bày tỏ đồng tình với các gợi ý của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ và tin tưởng lĩnh vực Start-up là thị trường nhiều tiềm năng của Việt Nam. OECD sẽ nghiên cứu, xem xét bổ sung các tiêu chuẩn này vào Chương trình quốc gia trong hợp tác với các bộ, ngành của Việt Nam.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đề nghị Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp chặt chẽ với OECD để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phân công các bộ, ngành tham gia vào Chương trình quốc gia của OECD.

     

                                                                                                                 Theo: Thành Chung (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • 173 thủ tục hành chính được đưa lên cơ chế một cửa quốc gia

    173 thủ tục hành chính được đưa lên cơ chế một cửa quốc gia

    (Chinhphu.vn) – Tính đến ngày 15/3, đã có 13 bộ, ngành tham gia kết nối; 173 thủ tục hành chính được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia với tổng số hồ sơ hành chính đã được xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia là trên 1,97 triệu bộ hồ sơ và trên 28 nghìn doanh nghiệp tham gia.

    Trong báo cáo công tác, Tổng cục Hải quan cập nhật tình hình triển khai thủ tục hành chính trên Cơ chế một cửa quốc gia, Tổng cục Hải quan tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, trong đó có Bộ Y tế và Bộ Công an triển khai thêm 20 thủ tục hành chính mới thông qua Cơ chế một cửa quốc gia. Đến nay, đã có 13 Bộ, ngành tham gia kết nối; 173 thủ tục hành chính được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia. Dự kiến đến hết quý I/2019 hoàn thành thêm ít nhất 9 thủ tục hành chính (6 thủ tục của Bộ Y tế và 3 thủ tục của Bộ NN&PTNT).

    Về triển khai Cơ chế một cửa ASEAN, ngành Hải quan tiếp tục triển khai trao đổi chính thức Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D (C/O form D) với 4 nước: Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan.

    Đồng thời, tham gia trao đổi thử nghiệm C/O form D với 3 nước: Brunei, Campuchia, Phillipines. Trong thời gian tới, theo kế hoạch sẽ triển khai kết nối kỹ thuật thử nghiệm trao đổi thông tin tờ khai hải quan ASEAN, chứng nhận kiểm dịch thực vật (ePhyto), chứng nhận kiểm dịch động vật (e-AH).

    Chuẩn bị triển khai kết nối Cơ chế một cửa quốc gia để trao đổi thông tin với liên minh kinh tế Á – Âu, Hàn Quốc, trước mắt, test trao đổi thử nghiệm Gateway của Việt Nam với Gateway của liên minh kinh tế Á-Âu.

    Tổng cục Hải quan đang triển khai mở rộng Hệ thống quản lý hải quan tự  động tại cảng, kho, bãi (VASSCM) trên phạm vi toàn quốc. Tính đến ngày 14/3, hệ thống VASSCM đã được triển khai tại 29/35 Cục Hải quan tỉnh, thành phố, 359 doanh nghiệp kinh doanh kho/bãi/cảng và kho ngoại quan.

    Ngành đã tiến hành rà soát hiện trạng CNTT, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp yêu cầu nghiệp vụ xây dựng. Trên cơ sở đó nghiên cứu, phân tích để xây dựng kế hoạch mở rộng, nâng cấp, hoàn thiện Hệ thống CNTT Hải quan thông minh, tích hợp; đã hoàn thành dự thảo mô hình kiến trúc Chính phủ điện tử trong ngành Hải quan tuân thủ và phù hợp với Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành Tài chính (dự kiến tháng 4/2019 sẽ ban hành).

    Ngoài ra, ngành Hải quan tiếp tục triển khai Đề án đầu tư hệ thống seal định vị điện tử phục vụ công tác giám sát đối với hàng hóa chịu sự giám sát hải quan vận chuyển bằng container của Tổng cục Hải quan (đã hoàn thành mua sắm và lắp đặt máy chủ). Ngoài ra, Hải quan còn nâng cấp phần mềm hỗ trợ hoạt động đổi mới quản lý nguồn nhân lực; hệ thống kế toán thuế xuất nhập khẩu; hệ thống miễn giảm hoàn thuế; cung cấp thông tin tờ khai cho các đơn vị (các Bộ, ngành, ngân hàng và doanh nghiệp) và tiếp nhận xử lý thông tin nhận được từ Tổng cục Thuế; hệ thống thông tin tình báo, hệ thống kiểm tra sau thông quan để kết nối, xử lý thông tin với hệ thống VNACCS/VCIS và các hệ thống xử lý tập trung ngành Hải quan.

    Ngành Hải quan đang duy trì, vận hành ổn định Hệ thống Dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) của ngành Hải quan. Tính đến nay, tổng số DVCTT đạt tối thiểu mức độ 3 trong lĩnh vực hải quan là 171/181 TTHC (chiếm trên 94,4% số lượng TTHC). Số hồ sơ trên hệ thống dịch vụ công từ ngày 1/3/2017 đến hết ngày 10/3/2019 đạt 212.648 bộ với 23159 doanh nghiệp và 389 cá nhân tham gia.

    Trong quý I/2019, Tổng cục Hải quan hoàn thành việc rà soát các quy định liên quan và quy trình thực hiện thủ tục hành chính bằng phương thức điện tử để chuẩn bị cho việc nâng cấp 02 thủ tục hành chính đang cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 thành dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 theo kế hoạch đã đăng ký với Bộ Tài chính.

     

                                                                                                                       Theo: Anh Minh (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • Khan hiếm cục bộ xăng RON A95 tại tỉnh Bắc Giang

    Khan hiếm cục bộ xăng RON A95 tại tỉnh Bắc Giang

    (BGĐT) – Mấy ngày gần đây, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang xảy ra tình trạng khan hiếm xăng RON A95, tuy nhiên chỉ ở mức độ cục bộ, số ít cây xăng không phục vụ loại xăng này, còn đa số các doanh nghiệp, cơ sở khác vẫn bán bình thường. Sở Công Thương khuyến cáo, chủ phương tiện có thể sử dụng các loại nhiên liệu thay thế khác.

    Sáng 28-3, phóng viên Báo Bắc Giang đến cây xăng ở số 47 đường Trần Nguyên Hãn (TP Bắc Giang) thuộc Công ty xăng dầu Quân đội khu vực I, quan sát các cột xăng, dầu khác vẫn bán cho khá nhiều khách hàng, riêng cột xăng RON A95 III màn hình tắt, không phục vụ. 

    Sáng 28-3, cây xăng ở số 47 đường Trần Nguyên Hãn (TP Bắc Giang) không bán xăng A95.

    Sáng 28-3, cây xăng ở số 47 đường Trần Nguyên Hãn (TP Bắc Giang) không bán xăng A95.

    Khi nhiều người hỏi, nhân viên cây xăng chỉ nói ngắn gọn đang có trục trặc, trước đó cây xăng này còn dán tấm biển cột xăng RON A95 III “mất điện”. Do cán bộ quản lý vắng mặt nên các nhân viên còn lại của cây xăng từ chối trả lời câu hỏi của phóng viên về nguyên nhân đột ngột không bán xăng RON A95.

    Thế nhưng cũng trên trục đường Trần Nguyên Hãn, cách đó khoảng 500-600 mét, cây xăng dầu Thọ Xương, phường Thọ Xương (TP Bắc Giang) thuộc mạng lưới phân phối của Công ty TNHH Thương mại Công Minh vẫn bán xăng RON A95 bình thường. 

    Nhiều khách hàng do không mua được xăng RON A95 ở cây xăng số 47 đường Trần Nguyên Hãn đã phải đi ngược lên đây. Trao đổi với ông Nguyễn Công Minh, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Công Minh được biết, hiện nay hệ thống của doanh nghiệp cung cấp hai loại xăng A95 là RON A95 III và RON A95 IV với giá bán chênh lệch nhau chút ít (khoảng 150 đồng/lít). Do chủ động nguồn hàng nên doanh nghiệp cung cấp đầy đủ cho các cây xăng, không để xảy ra tình trạng khan hiếm, phục vụ khách hàng gián đoạn.

    Cách đó không xa, cây xăng Thọ Xương phục vụ khách hàng bình thường với loại xăng A95.

    Cách đó không xa, cây xăng Thọ Xương phục vụ khách hàng bình thường với loại xăng A95.

    Về nguyên nhân của tình trạng này, một số nhà phân phối xăng dầu trên địa bàn tỉnh cho rằng có hai lý do, trước hết là khoảng nửa tháng nay, Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) gặp vấn đề kỹ thuật, tạm ngưng cấp xăng, ảnh hưởng đến lượng bán ra cho thị trường. 

    Bên cạnh đó, hiện nay mức chiết khấu thấp cũng khiến các đại lý, cửa hàng không muốn bán xăng RON95. Trung bình mỗi lít xăng RON95, các cửa hàng chỉ nhận được khoảng 100 đồng từ các doanh nghiệp, nhà phân phối. Mức chiết khấu như vậy giảm gần 70% so với trước đây, khiến các cửa hàng không mặn mà do bán không đủ bù chi phí.

    Ông Nguyễn Văn Phương, Trưởng Phòng Quản lý Thương mại (Sở Công Thương) cho biết, cơ quan quản lý nhà nước đã nắm được thông tin một số cây xăng thông báo hết xăng A95 hoặc mất điện, tạm ngừng, chỉ bán xăng E5 RON92 và các mặt hàng dầu. Tuy vậy, về cơ bản, các nguồn cung cấp khác vẫn đủ năng lực, lượng hàng phục vụ khách hàng khi mua xăng RON A95. Người dân không nên hoang mang, lo lắng vì tình trạng này sẽ sớm được khắc phục. Khách hàng hoàn toàn có thể thay thế xăng RON A95 bằng xăng sinh học E5 để giảm chi phí và bảo vệ môi trường.

     

                                                                                                                                 Theo: Quốc Phương (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Lục Ngạn (Bắc Giang): Nghiêm cấm mua bán, vận chuyển trái phép phân chuồng

    Lục Ngạn (Bắc Giang): Nghiêm cấm mua bán, vận chuyển trái phép phân chuồng

    (BGĐT) – Theo UBND huyện Lục Ngạn (Bắc Giang), hiện nay toàn huyện có hơn 50 nghìn hộ tham gia trồng khoảng 27 nghìn ha cây ăn quả các loại. Nhằm phát huy hiệu quả sản xuất, kinh doanh, mỗi năm người dân trong huyện đều đặt mua hàng nghìn tấn phân chuồng tại các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh vận chuyển về chăm bón cho cây trồng.

    Xác nhận thông tin trên, ông Lê Bá Thành, Phó Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn cho biết, việc sử dụng phân chuồng đã qua xử lý bằng phương pháp ủ men vi sinh được đánh giá là có nhiều lợi ích, tốt cho cây ăn quả. 

              Người dân xã Quý Sơn (Lục Ngạn) sử dụng phân 

                                                 Người dân xã Quý Sơn (Lục Ngạn) sử dụng phân 

    Không chỉ cung cấp chất dinh dưỡng, loại phân bón này còn giúp cải tạo, làm tơi, xốp đất. Tuy nhiên, trong thời điểm bệnh dịch tả lợn châu Phi đang có chiều hướng lan rộng, diễn biến phức tạp, đây lại là mối nguy cơ lớn khiến dịch bệnh có thể bùng phát, gây hại cho người dân.

    Do đó, UBND huyện khuyến cáo người dân không mua, nhập các loại phân chuồng, đặc biệt là phân lợn, chất độn chuồng từ nơi khác về làm phân bón cho cây trồng để tránh nguy cơ lây nhiễm bệnh dịch tả lợn châu Phi. 

    Ngoài việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tiêu độc, khử trùng tại các xã trọng điểm, đến nay, UBND huyện đã thành lập 6 chốt phòng, chống dịch tại các khu vực giáp ranh với các huyện lân cận, tuyệt đối không cho người dân vận chuyển lợn và phân chuồng trái phép ra, vào địa bàn.

     

                                                                                                                                    Theo: Hồng Giang (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Chính phủ sẽ kiểm soát CPI năm 2019 từ 3,3-3,9%

    Chính phủ sẽ kiểm soát CPI năm 2019 từ 3,3-3,9%

    (Chinhphu.vn) – Sáng 28/3, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá của Chính phủ đã chủ trì phiên họp đánh giá kết quả điều hành giá quý I/2019 và cập nhật tình hình, đề xuất các giải pháp điều hành trong những tháng còn lại của năm 2019.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu tại phiên họp – Ảnh: VGP/Thành Chung

    Cục trưởng Cục Quản lý giá Nguyễn Anh Tuấn cho biết, CPI trong quý I/2019 diễn biến đúng quy luật khi tăng nhẹ trong tháng 1 (0,1% so với tháng trước), tăng cao trong tháng 2 (0,8%) và giảm trong tháng 3 (ước giảm 0,21%). CPI bình quân 3 tháng đầu năm 2019 ước tăng 2,63% so với cùng kỳ năm 2018, là mức thấp nhất trong 3 năm liên tiếp gần đây (quý I/2017 là 4,96%, quý II/2018 là 2,82%).

    Trong đó, lạm phát cơ bản tháng 3 giảm 0,06% so với tháng trước, bình quân quý I tăng 1,84% so với cùng kỳ năm 2018, là mức tăng nhẹ. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước cho rằng áp lực điều hành chính sách tiền tệ trong năm nay sẽ “nhẹ” hơn năm 2018 do Cục Dự trữ liên bang Mỹ đã công bố không tăng lãi suất đồng USD.

    Ngày 20/3, giá bán lẻ điện bình quân đã được điều chỉnh tăng 8,36% (tương ứng với mức tăng 144 đồng/kwh) sau thời gian dài bị giữ giá, chỉ tác động tới 0,33% mức tăng CPI của tháng 3, là mức tác động thấp. Điểm nổi bật trong điều chỉnh giá điện lần này là Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công Thương tích hợp việc điều chỉnh tăng giá than và tính giá khí bao tiêu cho nhiệt điện theo thị trường, đồng thời tăng cường minh bạch, công khai giá điện, tránh trường hợp như những lần trước là giá điện tăng trước, giá than tăng sau nên gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh điện và luôn tạo sức ép đối với việc điều chỉnh giá điện.

    Trong khi đó, với lợi thế về Quỹ bình ổn xăng dầu, liên Bộ Tài chính và Công Thương đã thực hiện “xả” Quỹ đề bù vào đà tăng của giá xăng dầu theo tín hiệu tăng của thế giới. Trong kỳ điều hành gần đây nhất vào ngày 18/3, Quỹ đã xả 2.801 đồng/lít với xăng E5RON92, 2.061 đồng/lít với xăng RON95 và 1.343 đồng/lít với dầu DO nhằm giữ nguyên giá xăng dầu, tạo dư địa cho tăng giá điện sau đó 2 ngày để giảm tác động của việc tăng giá điện lên CPI.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho rằng công tác điều hành giá quý I/2019 đã đạt được nhiều kết quả tích cực, có nguyên nhân từ sự phối hợp chặt chẽ, bài bản của các bộ, ngành thuộc Ban Chỉ đạo với từng kịch bản điều hành giá các mặt hàng cụ thể, sự vào cuộc tích cực, cung cấp thông tin kịp thời của các cơ quan tới báo chí và dư luận xã hội.

    Ảnh: VGP/Thành Chung

    Bên cạnh một số mặt hàng tăng giá nhưng nhiều mặt hàng cũng giảm giá trong quý I, trong đó xuất hiện các diễn biến mới như giá các mặt hàng thịt lợn và lúa gạo đã giảm do bệnh dịch và thiếu thị trường xuất khẩu gạo.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo cho rằng công tác điều hành giá không “thụ động”, không chỉ phụ thuộc vào cung – cầu của thị trường mà từ thực tiễn và diễn biến giả cả phải kịp thời kiến nghị tới Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tổ chức sản xuất và tiêu dùng.

    “Giá thịt lợn đang giảm, nếu không tính toán việc tái đàn phù hợp thì cuối năm thiếu hụt nguồn cung, giá cao sẽ tác động tới mặt bằng giá nói chung và công tác điều hành giá của Chính phủ”, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nêu yêu cầu với các bộ, ngành.

    Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam cho biết dịch tả lợn châu Phi chủ yếu diễn ra ở hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Các trang trại của doanh nghiệp chế biến chiếm tới 60% nguồn cung của cả nước ít chịu tác động của dịch bệnh này và Bộ NN&PTNT đang tập trung khuyến khích các doanh nghiệp bảo đảm nguồn cung để đáp ứng nhu cầu của thị trường vào thời điểm cuối năm.

    Về điều hành CPI trong 3 quý còn lại của năm 2019, các cơ quan: Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước đều có tính toán riêng các kịch bản khác nhau về mức tăng CPI của từng quý và cả năm, trong đó kịch bản CPI tăng cao nhất vẫn bảo đảm mục tiêu của Quốc hội giao là tăng khoảng 4%.

    Ảnh: VGP/Thành Chung

    Sau khi nghe ý kiến của các bộ, ngành về cập nhật tình hình quản lý giá dịch vụ, hàng hóa, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá nhận định Chính phủ hoàn toàn có thể kiểm soát lạm phát của năm 2019 ở mức từ 3,3-3,9%, vượt yêu cầu của Quốc hội trên tinh thần chủ động theo dõi, phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, minh bạch và cung cấp thông tin kịp thời cho xã hội. Không chỉ vậy, các bộ, ngành phải tính toán điều hành giá cả hàng hóa, dịch vụ công y tế, giáo dục theo tín hiệu của thị trường.

    Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ NN&PTNT ngăn chặn lây lan dịch tả lợn châu Phi, có biện pháp tái đàn để bảo đảm nguồn cung khi bệnh dịch được kiểm soát. Ngân hàng Nhà nước có hình thức hỗ trợ tín dụng với các hộ chăn nuôi bị ảnh hưởng.

    Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính chủ động nắm bắt thông tin về diễn biến giá thế giới để có phương án điều hành giá xăng dầu trong nước, kết hợp với trích lập và sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu hợp lý để bình ổn giá trong thời điểm giá thế giới có biến động bất thường, không ảnh hưởng tới kỳ vọng về lạm phát; tiếp tục tăng cường công khai, minh bạch chi phí đầu vào của giá điện, kết quả sản xuất kinh doanh điện theo quy định.

    Bộ Y tế đẩy mạnh rà soát, thu gọn danh mục dịch vụ, trên cơ sở đó đổi mới định mức kinh tế kỹ thuật, bảo đảm việc hoạt động ổn định của cơ sở y tế, tiết kiệm chi phí cho người bệnh và ngân sách nhà nước; cùng với BHXH Việt Nam triển khai và mở rộng danh sách đấu thầu tập trung quốc gia đối với thuốc, vật tư y tế, đẩy nhanh đấu thầu và đàm phán giá thuốc để hạ giá và cung ứng thuốc có chất lượng.

     

                                                                                                                 Theo: Thành Chung (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ)

  • Chấn chỉnh vi phạm ở các dự án thuê đất tại Bắc Giang

    Chấn chỉnh vi phạm ở các dự án thuê đất tại Bắc Giang

    (BGĐT)- Với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo thêm việc làm cho người lao động, tăng thu ngân sách, những năm qua, tỉnh Bắc Giang tạo điều kiện cho các doanh nghiệp (DN) thuê đất để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh. Thế nhưng đến nay, nhiều  nhà đầu tư sau khi thuê đất đã chậm đưa vào sử dụng, gây lãng phí tài nguyên đất đai.

    Bỏ đất trống sau khi thuê

    Tháng 6-2016, Công ty cổ phần May PIGACO, trụ sở khu Vòng Xẻ, phường Đa Mai (TP Bắc Giang) được Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư dự án: Chế biến hàng nông sản và thực phẩm tại khu Vòng Xẻ trên diện tích đất được thuê từ việc mua lại tài sản phát mại hơn 1,1 nghìn m2 đất. Trong đó nêu rõ, từ cuối năm 2016 đến tháng 11-2017, DN phải xây dựng, sửa chữa các hạng mục công trình trên diện tích đất được thuê và đi vào hoạt động từ tháng 12 -2017. Thế nhưng, hơn một năm nay, Công ty này vẫn không đầu tư xây dựng hay sửa chữa bất cứ hạng mục công trình nào. Khi đến đây, phóng viên chứng kiến cổng vào của khu đất này được khóa kín, ổ khóa đã hoen gỉ. Trước khu nhà xưởng cũ kỹ, cỏ mọc um tùm, không có bóng người.

    Sau nhiều năm thuê đất, Công ty cổ phần May PIGACO vẫn không sử dụng. 

                        Sau nhiều năm thuê đất, Công ty cổ phần May PIGACO vẫn không sử dụng. 

    Tương tự, vào năm 2007, Công ty cổ phần Sản xuất và Công nghiệp Việt Nam được thuê 3 nghìn m2 đất thực hiện dự án xây dựng tổ hợp khách sạn Hà Nội Prince và tòa nhà đa năng tại đường Xương Giang (TP Bắc Giang) nhưng nhiều năm qua nhà đầu tư vẫn để dự án “đắp chiếu”.

    Ở huyện Lục Nam, Công ty cổ phần Môi trường 27-7 được tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư xây dựng Nhà máy xử lý rác thải tại thôn Thân, thị trấn Đồi Ngô trên diện tích đất được thuê hơn 18 nghìn m2 vào năm 2007. Theo ông Nguyễn Trung Lượng, Chi cục Trưởng Chi cục Quản lý đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), Sở đã nhiều lần kiểm tra, đôn đốc nhà đầu tư xây dựng công trình, đưa đất vào sử dụng song DN này vẫn “án binh bất động”.

    Tình trạng nhà đầu tư được thuê đất nhưng chậm đưa vào sử dụng còn xảy ra ở huyện Tân Yên với 7 dự án lớn, diện tích hàng chục nghìn m2. Đơn cử như dự án sản xuất gạch không nung công nghệ sạch bảo vệ môi trường tại thôn Việt Hùng, xã Việt Ngọc của Công ty TNHH một thành viên Mai Luận. Từ khi được UBND tỉnh cho thuê hơn 29 nghìn m2 đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013, đến nay DN này vẫn chưa thực hiện bất cứ thủ tục gì liên quan đến dự án.

    Theo kết quả rà soát sơ bộ của các Sở KH&ĐT, TN&MT, đến nay toàn tỉnh có 15 DN chậm đưa đất vào sử dụng sau khi được thuê, tập trung ở các huyện: Yên Dũng, Việt Yên, Lục Nam, Tân Yên và TP Bắc Giang.

    Cần xử lý dứt điểm

    Để xảy ra tình trạng trên có rất nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là vì DN thiếu năng lực tài chính. Cũng như ý kiến của nhiều DN khác, đại diện lãnh đạo Công ty cổ phần Môi trường 27-7 cho rằng, mặc dù đã được thuê đất trong nhiều năm qua nhưng đơn vị đã không huy động được vốn cũng như lựa chọn công nghệ để xây dựng nhà máy xử lý rác. Còn theo ông Đỗ Xuân Lợi, Giám đốc Công ty cổ phần May PIGACO thì DN được chấp thuận đầu tư dự án chế biến hàng nông sản và thực phẩm trên diện tích đất thuê tại khu Vòng Xẻ, phường Đa Mai nhưng do trước đây đơn vị không chuyên hoạt động trong lĩnh vực này, gặp khó khăn về thị trường đầu ra nên sau khi thuê đất đành bỏ không. Đó là chưa kể, cá biệt có trường hợp lập dự án để giữ đất chứ không đầu tư sản xuất, kinh doanh.

    Nhiều ý kiến cho rằng để tránh tình trạng cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho DN song không hoạt động, Sở KH&ĐT cần thẩm tra kỹ năng lực của chủ đầu tư, kiểm soát tốt việc cấp phép dự án ngay từ đầu. Như vậy sẽ hạn chế việc lãng phí đất đai, thất thoát ngân sách và không làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư chung của tỉnh.

    Để quản lý chặt chẽ đất đai sau khi cho DN thuê, ngày 12-3 UBND tỉnh đã ban hành văn bản giao nhiệm vụ cho các sở liên quan để triển khai các giải pháp xử lý đối với những DN chậm sử dụng đất. Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu Sở TN&MT tập trung thanh tra tình hình sử dụng đất đã cho thuê và đề nghị giải pháp xử lý cụ thể đối với 5 DN đã chậm sử dụng đất kéo dài hàng chục năm qua như: Công ty cổ phần Sản xuất và Công nghiệp Việt Nam; Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Vinh Phát; Công ty TNHH một thành viên Mai Luận; Công ty cổ phần Môi trường 27-7; Công ty cổ phần Thép Hà Nội thực hiện các dự án ở các huyện Lục Nam, Việt Yên, Tân Yên, Yên Dũng và TP Bắc Giang. Sở KH&ĐT xem xét lập hồ sơ chấm dứt hoạt động của các dự án không hiệu quả.Thực tế, sai phạm của các DN trong thuê đất, chậm đầu tư diễn ra nhiều song kết quả thanh tra, kiểm tra của các huyện, TP, Sở TN&MT, Sở KH&ĐT còn khá “khiêm tốn”, việc xử lý còn hạn chế, chưa dứt điểm. Vì vậy chưa tham mưu kịp thời với UBND tỉnh xử lý, thu hồi đất đối với các dự án quá hạn. Minh chứng là có dự án chậm đầu tư hàng chục năm mà vẫn không bị thu hồi.

    Ông Lưu Xuân Vượng, Giám đốc Sở TN&MT cho biết, sau khi thanh tra, Sở xem xét xử phạt đối với các nhà đầu tư chậm sử dụng đất; đề nghị tỉnh thu hồi đất đối với nhà đầu tư không còn đủ năng lực tài chính, tránh lãng phí tài nguyên.

     

                                                                                                                                    Theo: Nhóm PVKT (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Xây dựng đề án khả thi về sản xuất nông nghiệp hữu cơ

    Xây dựng đề án khả thi về sản xuất nông nghiệp hữu cơ

    (BGĐT)-Ngày 25-3, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn  Thái chủ trì buổi làm việc với Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam về phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh. Cùng dự có đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Khoa học và Công nghệ.

         Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái chủ trì buổi làm việc.

                               Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái chủ trì buổi làm việc.

    Thông tin tại hội nghị, đồng chí Dương Văn Thái khái quát về tình hình sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Bắc Giang là tỉnh nông nghiệp với nhiều sản phẩm nông sản đa dạng. Xác định rõ tiềm năng, lợi thế, Bắc Giang tập trung vào cây ăn quả, lâm nghiệp, rau màu và con lợn, gà. Riêng tổng đàn gia cầm, đàn lợn nằm trong những địa phương dẫn đầu cả nước. Tới đây, Bắc Giang cũng định hướng sản xuất nông nghiệp hữu cơ gắn với phát triển KT-XH, hiện đại hóa nông thôn và bảo vệ môi trường, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, từng bước hình thành các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

    Qua trao đổi, các đại biểu cho rằng cần phải làm rõ, hiểu đúng khái niệm về nông nghiệp hữu cơ theo quy định. Hiện nay, không ít người còn nhầm lẫn giữa các sản phẩm thông thường và hữu cơ, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng. 

         Quang cảnh cuộc làm việc.

                                                                   Quang cảnh cuộc làm việc.

    Kết luận buổi làm việc, đồng chí Dương Văn Thái cho rằng sản xuất nông nghiệp hữu cơ là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, điều kiện sản xuất của nông nghiệp hữu cơ đòi hỏi khắt khe, cần khảo sát kỹ về đất, nước, không khí… để xây dựng, quy hoạch vùng sản xuất bảo đảm theo yêu cầu. Đối chiếu vào Bắc Giang, đồng chí cho rằng tỉnh cũng có một số yếu tố như: Quy mô sản xuất, người dân có trình độ thâm canh cao…cho triển khai làm nông nghiệp hữu cơ. Bên cạnh đó, Bắc Giang cũng có vị trí địa lý thuận lợi, gần với Thủ đô Hà Nội và phía Trung Quốc nên khâu vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm sẽ có nhiều lợi thế. Đồng chí cho biết, sau khi có Nghị định của Chính phủ về nông nghiệp hữu cơ, Bắc Giang cũng đang xây dựng các bước thực hiện về nội dung này. Do đó, tới đây, Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì phối hợp với Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam xây dựng đề án cụ thể của tỉnh về nông nghiệp hữu cơ bảo đảm tính khả thi, theo từng lộ trình cụ thể.

     

                                                                                                                                    Theo: Trường Sơn (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Hiệp Hội doanh nghiệp tỉnh với các sở, ngành

    Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Hiệp Hội doanh nghiệp tỉnh với các sở, ngành

    (BGĐT) – Ngày 25-3, Hiệp hội Doanh nghiệp (DN) tỉnh Bắc Giang tổ chức hội nghị đánh giá kết quả thực hiện công tác phối hợp với các sở, ngành năm 2018 và bàn biện pháp thực hiện năm 2019. Đồng chí Dương Văn Thái, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Hiệp hội DN tỉnh chủ trì. 

         Đồng chí Dương Văn Thái, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Hiệp hội DN tỉnh phát biểu tại hội nghị

             Đồng chí Dương Văn Thái, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Hiệp hội DN tỉnh phát biểu tại hội nghị

    Năm 2018, Hiệp hội DN tỉnh đã ký kết quy chế phối hợp với 10 sở, ban, ngành trong tỉnh nhằm hỗ trợ cho cộng đồng DN phát triển. Ngay sau khi ký kết, các bên đã tích cực triển khai công việc, kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho DN trong quá trình hoạt động. Ví như Báo Bắc Giang, Đài PT- TH tỉnh thực hiện nhiều tác phẩm tuyên truyền, động viên khuyến khích DN sản xuất kinh doanh giỏi, chấp hành tốt chính sách pháp luật kinh doanh, nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước… tạo ra không khí kinh doanh sôi động, nhân rộng phong trào khởi nghiệp. 

    Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) tạo điều kiện thuận lợi cho DN đầu tư, kinh doanh. Sở Công thương phối hợp với Hiệp hội DN tỉnh tổ chức cho DN tham gia chương trình xúc tiến tiêu thụ vải thiều tại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và diễn đàn kinh tế về sản xuất, tiêu thụ vải thiều, các sản phẩm chủ lực, đặc trưng của tỉnh…

         Đồng chí Trần Quang Tấn, Giám đốc Sở Công Thương trao đổi về các nội dung cần thiết để hỗ trợ DN.

           Đồng chí Trần Quang Tấn, Giám đốc Sở Công Thương trao đổi về các nội dung cần thiết để hỗ trợ DN.

    Qua thảo luận, các ý kiến tại hội nghị cho rằng, bên cạnh kết quả đạt được, công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành với Hiệp hội DN tỉnh trong hoạt động hỗ trợ DN còn một số hạn chế. Một số đơn vị đã ký quy chế phối hợp nhưng chưa có kế hoạch thực hiện các nội dung cụ thể, còn lúng túng trong việc hỗ trợ DN phát triển. Nhiều khó khăn, vướng mắc của DN chưa được giải quyết kịp thời. 

    Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Dương Văn Thái biểu dương kết quả hoạt động phối hợp hỗ trợ DN giữa  Hiệp hội DN tỉnh với các sở, ban, ngành trong năm. Đồng chí nhấn mạnh, để hoạt động hỗ trợ DN thiết thực và hiệu quả hơn, năm 2019 các sở, ban, ngành cần giao cho phòng chuyên môn làm đầu mối để liên hệ với Hiệp hội DN tỉnh trong thực hiện các nhiệm vụ. 

    Hiệp hội DN tỉnh và các đơn vị phối hợp khẩn trương rà soát, bổ sung thêm nội dung cần thực hiện. Trên cơ sở đó xây dựng thành biểu các việc cần làm để tránh chồng chéo trong quá trình hỗ trợ DN. Cụ thể như Hiệp hội phối hợp chặt chẽ với Báo Bắc Giang, Đài PT-TH tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh cho DN, phổ biến kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế, tư vấn pháp lý. 

    Phối hợp với Sở KH&ĐT tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn trong đầu tư kinh doanh, đăng ký thành lập DN để tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng cho DN khởi nghiệp. Sở Tài nguyên và Môi trường phổ biến các chính sách trong lĩnh vực đất đai, môi trường, khoáng sản. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tư vấn cho DN về chế độ, chính sách liên quan đến người lao động trong DN…

     

                                                                                                                                       Theo: Minh Linh (Báo Bắc Giang Điện Tử)