Danh mục: Chưa phân loại

  • Khai giảng khóa đào tạo “Nghiệp vụ đấu thầu cơ bản đối với lựa chọn nhà thầu”

    Khai giảng khóa đào tạo “Nghiệp vụ đấu thầu cơ bản đối với lựa chọn nhà thầu”

    Ngày 30/7/2022, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp – Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Giang khai giảng khóa đào tạo Nghiệp vụ đấu thầu cơ bản đối với lựa chọn nhà thầudưới sự hướng dẫn của Giảng viên Tô Minh Thu – Chuyên gia Phòng Nghiên cứu Chiến lược và cơ chế quản lý kinh tế -Viện Kinh tế xây dựng – Bộ Xây dựng.

    Khóa đào tạo được diễn ra trong 02 ngày 30-31/7/2022 với sự tham gia của hơn 120 học viên đến từ các sở, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Giang. Tại khóa đào tạo, giảng viên đã hướng dẫn quy trình đấu thầu, lập và phê duyệt hồ sơ mời thầu… theo quy định của Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn; đồng thời cung cấp thông tin, hướng dẫn thực hiện thông tư số: 08/2022/TT-BKHĐT ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi tiết việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và lựa chọn nhà thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

    Kết thúc khóa đào tạo, học viên được tham gia thực hiện bài kiểm tra để đánh giá chất lượng và cấp Chứng chỉ “Đấu thầu cơ bản đối với lựa chọn nhà thầu” theo đúng quy định.

  • Phát động Cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu và sáng kiến về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh Bắc Giang” năm 2022

    Nhằm phổ biến sâu rộng tới toàn toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đang công tác, làm việc tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh và người dân đang sinh sống tại tỉnh Bắc Giang về các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ban hành công văn số 3654 ngày 29/7/2022 về việc Phát động Cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu và sáng kiến về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh Bắc Giang” năm 2022.

    Theo đó, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương trên địa bàn tỉnh quan tâm thực hiện các nội dung sau đây:
    1. Yêu cầu 100% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của đơn vị tích cực hưởng ứng tham gia Cuộc thi[1]; vận động, khuyến khích, tạo điều kiện cho người dân trên địa bàn, thuộc phạm vi quản lý hưởng ứng, tham gia cuộc thi.
    2. Đăng tải đường link của Cuộc thi lên Cổng/Trang Thông tin điện tử của đơn vị, ngành, địa phương mình quản lý.
    3. Sở Thông tin và Truyền thông, Báo Bắc Giang, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh đẩy mạnh công tác truyền thông về Cuộc thi trên các báo, đài và Cổng/Trang Thông tin điện tử hoặc hình thức phù hợp khác.
    4. Phối hợp với Ban Tổ chức Cuộc thi thực hiện rà soát danh sách, thông tin.

    Nội dung chi tiết công văn xem tại đây
     

  • Bắc Giang: Tập trung các nguồn lực, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hữu cơ

    Để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp, việc khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ là việc làm cần thiết nhằm tạo điều kiện cho nông dân, doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao giá trị, sản xuất bền vững, thân thiện với môi trường. Vì vậy, nông nghiệp Bắc Giang cũng đang chuyển mình để hướng đến một nền nông nghiệp bền vững, đó là nông nghiệp hữu cơ.

    Một số địa phương đã dần chuyển đổi và hình thành các mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

    Những khởi đầu trong xây dựng mô hình nông nghiệp hữu cơ

    Với mục tiêu phấn đấu phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững trên cơ sở phát huy lợi thế của địa phương, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đáp được yêu cầu cơ chế thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế, ngày 22/11/2019, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1940/QĐ-UBND về phê duyệt Đề án “Xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2020-2025”.

    Sau khi Đề án được triển khai, một số địa phương trong tỉnh đã dần chuyển đổi và hình thành các mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như: Mô hình cam, bưởi hữu cơ có quy mô 01 ha tại huyện Lục Ngạn; mô hình sản xuất rau hữu cơ quy mô 01 ha tại huyện Việt Yên; mô hình lợn thịt hữu cơ có quy mô tối thiểu 300 con tại huyện Lục Nam,Tân Yên, Việt Yên, Yên Dũng; mô hình gà thịt hữu cơ quy mô tối thiểu 3.000 con/2 lứa/năm tại huyện Yên Thế.

    Xác định nguồn vốn là nhân tố quan trọng quyết định đến sự phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tỉnh đã phân bổ gần 12 tỷ đồng để triển khai thực hiện Đề án. Trong đó, tỉnh triển khai thực hiện hỗ trợ 100% kinh phí xác định các vùng, khu vực đủ điều kiện sản xuất hữu cơ; hỗ trợ 70% chi phí mua phân bón hữu cơ sinh học, vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật thảo mộc, sinh học; phân bón qua lá. Riêng với cây cam, bưởi hỗ trợ 70% chi phí mua túi bao quả ngoài các nội dung hỗ trợ chung. Đối với mô hình chăn nuôi hữu cơ tỉnh thực hiện hỗ trợ 40% chi phí mua con giống, 30% chi phí mua thức ăn, vắc-xin phòng bệnh, thuốc thú y, chất sát trùng cho mô hình lợn thịt, gà thịt.

    Đồng chí Lê Bá Thành – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh cho biết, thực hiện Đề án “Xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2020- 2025”, đến nay trên địa bàn tỉnh đã có mô hình chăn nuôi lợn được cấp Giấy chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn hữu cơ; một số mô hình rau, bưởi tại các địa phương trong tỉnh cũng đang trong giai đoạn hỗ trợ, triển khai.

    Tỉnh cũng có 03 đơn vị sản xuất được cấp Giấy chứng nhận hữu cơ đó là Hợp tác xã (HTX) Phúc Hưng, HTX nông nghiệp Lý Nhân, HTX Nông nghiệp Xanh Yên Thế. Số đơn vị, tổ chức sản xuất đang xin cấp chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ là HTX cây ăn quả Lục Ngạn chứng nhận bưởi hữu cơ; HTX Thân Trường chứng nhận chè hữu cơ…

    Áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ trong trồng trọt để phát triển các sản phẩm nông sản cao cấp.

    Xây dựng chính sách đặc thù để khuyến khích, hỗ trợ nông nghiệp hữu cơ

    Thực tế cho thấy, Bắc Giang có các vùng sản xuất rau, quả tập trung quy mô lớn, quy mô đàn lợn, đàn gà luôn trong nhóm các tỉnh lớn nhất cả nước. Người sản xuất có nhiều kinh nghiệm, việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ trong trồng trọt và chăn nuôi phát triển nhanh chóng. Đây là những điều kiện rất quan trọng để phát triển các sản phẩm nông sản cao cấp, trong đó có nông sản hữu cơ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

    Ngoài ra, nhận thức của nông dân về sản xuất an toàn, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường những năm gần đây cũng được nâng cao; cùng với xu hướng tiêu dùng các sản phẩm sạch và thân thiện với tự nhiên là điều kiện thuận lợi để Bắc Giang chuyển dịch ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất nông sản hữu cơ.

    Do nguồn lực đầu tư bao gồm cả tài chính và nhân lực về sản xuất nông nghiệp hữu cơ của nhà nước, HTX, doanh nghiệp và người dân còn hạn chế; chưa có danh mục giống, vật tư đầu vào đáp ứng tiêu chuẩn TCVN 11041: 2017 để phục vụ sản xuất. Mặt khác chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm cao; thị trường tiêu thụ sản phẩm hẹp và chưa chủ động… nên quy mô sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại các địa phương trong tỉnh vẫn thấp, chưa thu hút được các hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân tham gia – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Lê Bá Thành cho biết thêm.

     Xu hướng sử dụng các sản phẩm nông sản hữu cơ hiện nay đang được người tiêu dung quan tâm hơn.

    Để tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả các mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ nhằm tận dụng lợi thế các sản phẩm đặc trưng của từng địa phương trong tỉnh. Mở rộng diện tích vùng chăn nuôi chuyên canh, thâm canh thông qua việc chuyển giao khoa học kỹ thuật, áp dụng quy trình sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP. Thời gian qua, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh cũng đã tổ chức mở lớp đào tạo cho cán bộ kỹ thuật, quản lý các cơ quan cấp tỉnh và huyện, tổ chức các lớp tập huấn và học tập thực tế cho 240 đại diện doanh nghiệp, xã viên HTX tham gia mô hình về sản xuất hữu cơ. Qua đó tiếp tục trang bị kiến thức chuyên sâu về canh tác hữu cơ, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền về nông nghiệp hữu cơ và mô hình trồng trọt, chăn nuôi về hữu cơ. Trong  năm 2022, tỉnh cũng đã dành khoảng 885 triệu đồng để hỗ trợ các vùng, khu vực đủ điều kiện sản xuất hữu cơ.

    Song song với công tác đào tạo, tập huấn, phân bổ kinh phí hỗ trợ, thời gian tới, Sở Nông nghiệp và PTNT cũng sẽ tập trung triển khai các cơ chế, chính sách phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng phát triển bền vững, trong đó tập trung vào lĩnh vực sản phẩm có thế mạnh, tiềm năng phát triển. Hình thành và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn, tổ chức sản xuất theo chuỗi đối với các sản phẩm chủ lực của tỉnh. Đồng thời, khuyến khích phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ. Mở rộng diện tích sản xuất rau an toàn, diện tích vải thiều sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển nông nghiệp công nghệ cao.

    Hiện nay, xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ đang dần nở rộ và phát triển nhanh ở các địa phương trong cả nước. Vì vậy, về giải pháp lâu dài, tỉnh cần tiếp tục có những chính sách đặc thù để khuyến khích, hỗ trợ nông nghiệp hữu cơ; đồng thời cần xây dựng định hướng giải pháp để huy động doanh nghiệp tham tham vàochuỗi sản xuất hữu cơ.

    Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền khuyến khích người dân hạn chế và dần thay thế phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật sang phân bón hữu cơ, các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học có nguồn gốc thảo dược được quy định… Quan tâm đào tạo, nâng cao hiểu biết, trình độ kiến thức, chuyên môn về nông nghiệp công nghệ cao cho người nông dân. Từ đó, hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, các nông sản có năng suất, chất lượng, hiệu quả, tạo ra nguồn sản phẩm an toàn dồi dào để người tiêu dùng có nhiều lựa chọn; nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho người dân nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái, tiến tới hình thành thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao đủ sức cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và hướng tới xuất khẩu./.

    Theo Báo Bắc Giang.

  • Việt Nam luôn chào đón các doanh nghiệp APEC đến đầu tư

    Việt Nam luôn chào đón các doanh nghiệp APEC đến đầu tư

    Sáng 27/7, tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu tại Phiên họp thứ ba Hội đồng Tư vấn kinh doanh APEC (gọi tắt là ABAC), với sự tham dự của 150 đại biểu đại diện 17 nền kinh tế thành viên APEC.

    Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại phiên họp.

    Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại phiên họp.

    Phiên họp do Hội đồng và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp tổ chức, diễn ra đến ngày 29/7.

    Năm 2022, Thái Lan đảm nhiệm vai trò Chủ tịch APEC và do đó, Chủ tịch ABAC cũng do Thái Lan đảm nhiệm.

    Tại phiên họp này, 150 đại biểu của các nền kinh tế APEC tiếp tục đề xuất các ý kiến để gửi tới các nhà lãnh đạo APEC trong khuôn khổ Tuần lễ APEC tại Thái Lan vào tháng 11 năm nay. Việc Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu tại phiên họp thể hiện Việt Nam quan tâm và chào đón nồng nhiệt ABAC cũng như các nhà đầu tư của 21 nền kinh tế đến với Việt Nam.

    Phát biểu tại Hội nghị, chào mừng ABAC đến với Vịnh Hạ Long, một kỳ quan, di sản thiên nhiên thế giới, Chủ tịch nước cho rằng, điều đó cho thấy Việt Nam và các nước đã kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 để “nhịp đập” của hợp tác APEC trở lại bình thường mới, mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn.

    Trong bối cảnh thế giới và khu vực APEC đang phải đối mặt với những biến động khó lường của dịch bệnh, cạnh tranh địa chính trị, những đứt gãy của các chuỗi cung ứng và chao đảo của thị trường tài chính…, Chủ tịch nước cho rằng, điều đó thử thách bản lĩnh, sự gắn kết hợp tác của các nền kinh tế thành viên APEC, trong đó có những tác động lớn đến các doanh nghiệp.

    Do đó, Chủ tịch nước cho rằng, kỳ họp lần này của Hội đồng Tư vấn Kinh doanh APEC chính là để thúc đẩy hợp tác trong khối doanh nghiệp tư nhân APEC, cùng nhau tìm cách phục hồi sản xuất kinh doanh, thúc đẩy thương mại, đầu tư và kết nối lại các chuỗi cung ứng, và hướng tới phát triển sáng tạo, bền vững và bao trùm trong khu vực. Hội đồng sẽ đưa ra nhiều khuyến nghị mới để giúp các lãnh đạo APEC (họp vào tháng 11/2022) có những quyết sách mạnh mẽ về tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, thúc đẩy tự do hóa thương mại và đầu tư…

    “Tại Phiên khai mạc Kỳ họp III ABAC hôm nay, tôi muốn khẳng định quan điểm của Nhà nước Việt Nam là luôn ủng hộ và thúc đẩy triển khai mạnh mẽ Kế hoạch hành động Aotearoa về tầm nhìn APEC 2040 và phát huy Tuyên bố chung APEC 2017 (Việt Nam) về “Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung” với việc thực hiện các hành động hợp tác hiệu quả về ứng phó đại dịch, đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số sáng tạo, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bao trùm”, Chủ tịch nước nhấn mạnh.

    Theo đó, Chủ tịch nước mong muốn ABAC sẽ đưa ra nhiều đề xuất sáng kiến và giải pháp mới, hiệu quả về việc tăng cường thương mại và đầu tư trong APEC với vai trò trung tâm của hệ thống WTO; kết nối những chuỗi cung ứng đang bị đứt gãy, kết nối nguồn nhân lực; hỗ trợ doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh trên nền tảng kinh tế số, xanh hóa sản xuất với các công nghệ xanh và nông nghiệp xanh; và thúc đẩy hợp tác phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, giảm thải khí nhà kính trong khu vực…

    Việt Nam và các nền kinh tế APEC luôn đánh giá cao, ủng hộ những sáng kiến, khuyến nghị của cộng đồng ABAC báo cáo lên các hội nghị Đối thoại giữa lãnh đạo APEC với ABAC sắp tới.

    Chủ tịch nước bày tỏ: “Sự có mặt đông đảo của quý vị đại biểu, các nhà doanh nghiệp APEC hôm nay, mang đến thông điệp khích lệ Việt Nam chúng tôi, là các bạn đã coi Việt Nam là điểm đến bình yên, an toàn và tràn đầy tiềm năng hợp tác”.

    Trong bài phát biểu, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cũng nêu những dự báo lạc quan của Quỹ Tiền tệ Thế giới IMF về triển vọng kinh tế Việt Nam, không chỉ tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô mà còn phục hồi kinh tế mạnh mẽ với GDP 2022 tăng 6% và năm tới sẽ là 7,2%. Kim ngạch thương mại năm ngoái tăng 23%, đạt gần 670 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới.

    IMF cũng vừa đưa ra dự báo đến 2025, quy mô kinh tế của Việt Nam sẽ đứng thứ ba Đông Nam Á với GDP hơn 570 tỷ USD. Việt Nam kiên định và nỗ lực hướng tới năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao.

    Bên cạnh đó, Việt Nam đang là nơi đầu tư hấp dẫn của thế giới với gần 35 nghìn dự án FDI đang hoạt động, tổng vốn đầu tư gần 430 tỷ USD của hàng chục nghìn doanh nghiệp đến từ 140 quốc gia, vùng lãnh thổ. Theo Báo cáo 7/2021 của Liên hợp quốc, Việt Nam thuộc tốp 20 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới. Việt Nam đang vươn lên nhóm đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh và tiến tới tiêu chuẩn OECD.

    Không chỉ có thị trường nội địa 100 triệu dân có sức mua ngày càng tăng, Chủ tịch nước cho biết, Việt Nam còn tham gia 15 hiệp định thương mại tự do, bao gồm cả những hiệp định thế hệ mới có tiêu chuẩn cao, toàn diện, ưu đãi thị trường rộng mở như: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EU); và từ 1/1/2022, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP) có hiệu lực, với quy mô lớn chiếm 30% GDP toàn cầu, có 15 nền kinh tế thành viên APEC tham gia, mà Việt Nam là thành viên tích cực.

    Với các tiềm năng đó, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, đây chính là cơ hội rất tốt cho các nhà đầu tư APEC và Việt Nam luôn mở rộng vòng tay chào đón các doanh nghiệp APEC đến đầu tư, hợp tác cùng có lợi, cùng phát triển.

    ABAC là sáng kiến doanh nghiệp hàng đầu của 21 nền kinh tế APEC, mỗi nước 3 thành viên và được lựa chọn phê chuẩn bởi người đứng đầu Chính phủ các nền kinh tế APEC, trong đó có rất nhiều tỷ phú lớn của các nước. Trước đây, Hội đồng đã từng hai lần tổ chức các cuộc họp tại Việt Nam Furama Resort (Đà Nẵng), cùng Hội nghị APEC 2017, mang lại nhiều cơ hội lớn và tiềm năng đầu tư cho Việt Nam.

    * Trước đó, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã gặp gỡ đoàn Hội đồng Tư vấn Kinh doanh APEC, do ông Kriengkrai Thiennukul, Chủ tịch Hội đồng dẫn đầu.

                                                                                                                                                                  Theo Baobacgiang.gov.vn

  • Bắc Giang: Vải thiều tiêu thụ thuận lợi, doanh thu đạt hơn 6.780 tỷ đồng

    Năm 2022, trước những khó khăn trong tiêu thụ vải thiều do những tác động của dịch Covid-19, đặc biệt chính sách “Zero Covid” và các biện pháp phòng, chống dịch chặt chẽ của thị trường Trung Quốc cùng với việc vụ vải tiếp tục được mùa là những thách thức rất lớn. Nhưng với sự chủ động, linh hoạt, vải thiều của tỉnh tiêu thụ khá thuận lợi, vải được thu hoạch đến đâu tiêu thụ hết đến đó, với giá thành cao.

    Chất lượng vải thiều tạo nên giá trị, thương hiệu vải thiều Bắc Giang.

    Những khó khăn, thách thức trong tiêu thụ vải thiều

    Năm 2022, do chịu tác động của tình hình biến đổi khí hậu, điều kiện thời tiết lạnh kéo dài đã tác động tới quá trình sinh trưởng phát triển, làm cho trái vải chín muộn hơn so với mọi năm khoảng từ 15-20 ngày. Cùng với đó, trước những dự báo đầy thách thức trong tiêu thụ vải thiều do những tác động của dịch Covid-19, đặc biệt chính sách “Zero Covid” và các biện pháp phòng, chống dịch chặt chẽ của thị trường Trung Quốc; các thay đổi thói quen tiêu dùng tại các thị trường lớn, tiềm năng từ sử dụng sản phẩm tươi sang các sản phẩm qua chế biến sâu; các chi phí nguyên liệu đầu vào tăng cao do giá xăng dầu tăng; chi phí vận chuyển tăng cao, giá thành lao động và giá một số loại dịch vụ phụ trợ tăng…; cùng với việc dự báo về vụ vải tiếp tục được mùa đã đặt ra nhiều khó khăn, thách thức.

    Cùng đó, năng lực trong việc tiếp cận, đàm phán, ký kết hợp tác để xuất khẩu vải thiều của các doanh nghiệp, HTX của tỉnh sang các thị trường Nhật Bản, Mỹ, Úc, EU, Trung Đông… còn hạn chế. Công tác đổi mới và tiếp nhận áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ trong chế biến sâu và các giải pháp tiên tiến bảo quản vải thiều chưa đáp ứng được so với nhu cầu thực tế; vải thiều vẫn chủ yếu xuất khẩu quả vải tươi, một số ít được chế biến đóng hộp, ép nước và sấy khô với sản lượng, chất lượng qua chế biến vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế.

    Bên cạnh đó, vẫn còn khoảng cách lớn trong việc triển khai kỹ thuật chăm sóc vải thiều giữa giữa các hộ và giữa các vùng trồng; chất lượng quả vải không đồng đều giữa các địa phương, dẫn đến biên độ giá bán vải thiều dao động lớn, một số khu vực vải có chất lượng chưa cao đã làm ảnh hưởng đến thương hiệu cũng như trong tổ chức sản xuất, cơ cấu diện tích vải thiều.

    Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hỗ trợ nhân dân tiêu thụ vải thiều

    Ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác tiêu thụ vải thiều Bắc Giang trên các sàn thương mại điện tử trong và ngoài nước.

    Năm 2022, trước những dự báo khó khăn về thị trường xuất khẩu truyền thống Trung Quốc, tỉnh Bắc Giang đã xây dựng kịch bản, xác định đẩy mạnh, khơi thông thị trường nội địa thông qua tất cả các kênh bán hàng. Cùng đó phối hợp với các tỉnh, thành phố, Bộ Công Thương tổ chức tuyên truyền, quảng bá và mời gọi kết nối tiêu thụ với các Tập đoàn bán lẻ, chuỗi các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại lớn trong và ngoài nước, các chợ đầu mối nông sản của Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai, thành phố Đà Nẵng; phân phối sản phẩm vải thiều của tỉnh trên “Gian hàng Việt trực tuyến”, các sàn thương mại điện tử; hỗ trợ các doanh nghiệp, HTX liên kết mở gian hàng trên các sàn thương điện tử lớn ở trong và ngoài nước; thúc đẩy các hoạt động tiêu thụ vải thiều online trên các trang mạng xã hội, các Fanpage trên Facebook, landingpage, zalo… giúp vải thiều Bắc Giang tiếp cận với thị trường trong nước và quốc tế nhanh, rộng hơn.

    Cùng đó, tỉnh tổ chức Hội nghị “Kết nối giao thương, xúc tiến tiêu thụ vải thiều và các sản phẩm có tiềm năng, lợi thế của tỉnh vào thị trường Hoa Kỳ”. Đây là sự kiện lần đầu tổ chức theo hình thức đẩy mạnh, quảng bá, kết nối tiêu thụ song phương với thị trường Hoa Kỳ với sự tham gia của các doanh nghiệp, Hội doanh nhân người Việt tại Hoa Kỳ và đã thu hút sự quan tâm của các cơ quan truyền thông của Hoa Kỳ. Qua đó, đã có nhiều doanh nghiệp của Hoa Kỳ đến tỉnh Bắc Giang tìm hiểu, khảo sát ký kết tiêu thụ vải thiều cho mùa vụ năm 2022 và những năm tiếp theo. Góp phần tăng sản lượng tiêu thụ vải thiều xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ năm 2022 với kết quả rất tích cực và có mức tăng trưởng ấn tượng.

    Đồng thời, tỉnh cũng tổ chức nhiều buổi tọa đàm, trao đổi và kết nối giao thương với các thị trường: Thái Lan, Italia và một số nước EU, Nhật Bản, ASEAN, UAE… Tổ chức Hội nghị xúc tiến tiêu thụ vải thiều, quy mô quốc tế với các điểm cầu tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước và 12 điểm cầu tại các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Úc, Singapore và điểm cầu mới tại thị trường Thái Lan, UAE.

    Vải thiều Bắc Giang được vận chuyển đi tiêu thụ trong các hệ thống siêu thị.

    Song hành với các hoạt động xúc tiến tiêu thụ, tỉnh còn tiếp cận, kết nối với VietnamAirlines, Bambo Aways và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu vải thiều trong và ngoài nước; phối hợp với các cơ quan chức năng của các bộ, ngành Trung ương tham gia các hội nghị trực tiếp, trực tuyến, kết nối giao thương với các doanh nghiệp, các nhà nhập khẩu trong và ngoài nước. Phối hợp chặt chẽ ngay từ đầu vụ với các cơ quan, đơn vị liên quan tại các cửa khẩu của các tỉnh: Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Cao Bằng… để chuẩn bị các điều kiện tốt nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thông quan xuất khẩu vải thiều sang thị trường Trung Quốc.

    Khơi thông, mở rộng thị trường tiêu thụ vải thiều

    Năm 2022, tổng sản lượng vải thiều tiêu thụ toàn tỉnh đạt trên 199.500 tấn, trong đó vải chín sớm tiêu thụ đạt trên 61.000 tấn, vải chính vụ tiêu thụ đạt trên 138.500 tấn. Thị trường tiêu thụ nội địa được khơi thông, mở rộng với tổng sản lượng tiêu thụ nội địa đạt trên 123.500 tấn (chiếm khoảng 61,9% tổng sản lượng tiêu thụ, tăng 3,3% so với năm 2021). Vải thiều được tiêu thụ khắp cả nước, những địa phương tiêu thụ với số lượng lớn như: Hà Nội và các tỉnh phía Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng…), TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam (Bình Dương, Đồng Nai…) và các tỉnh miền Trung (Đà Nẵng, Huế…) và Tây Nguyên.

    Sơ chế vải thiều tại Hợp tác xã Nông sản sạch thôn Muối, xã Giáp Sơn, huyện Lục Ngạn.

    Vải thiều có mặt tại hầu hết các siêu thị, Trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích, chợ đầu mối và chợ truyền thống thông qua các thương nhân, doanh nghiệp, tập đoàn bán lẻ…. và trên các Sàn Thương mại điện tử lớn trong nước và quốc tế; bán trực tuyến trên nền tảng online, mạng xã hội facebook, zalo, youtube…

    Thị trường xuất khẩu được ổn định, quả vải đã khẳng định được thương hiệu, định vị được giá trị tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế gới với tổng sản lượng xuất khẩu đạt trên 75.900 tấn (chiếm 38,1% tổng sản lượng tiêu thụ). Vải thiều được xuất khẩu chủ yếu sang thị trường truyền thống Trung Quốc và các quốc gia, khu vực như: EU, Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Lào, Campuchia và một số nước Đông Nam Á, UAE và một số nước khu vực Trung Đông … trong đó thị trường Nhật Bản, EU (Đức, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Italia…) đã được mở rộng về quy mô và sản lượng xuất khẩu, với sản lượng xuất khẩu và tỷ trọng tăng trưởng ấn tượng.

    Mặc dù trước những khó khăn, áp lực rất lớn trong xuất khẩu, giá vải thiều đầu và cuối vụ ở mức cao, giữa vụ được duy trì ổn định với giá bán vải thiều bình quân của cả vụ ước đạt 22.100 đồng/kg (tăng 2.300 đồng/kg so với năm 2021). Tổng doanh thu từ vải thiều và các dịch vụ phụ trợ ước đạt 6.785 tỷ đồng, trong đó doanh thu từ vải thiều đạt khoảng 4.411 tỷ đồng, doanh thu từ các hoạt động, dịch vụ phụ trợ đạt khoảng 2.374 tỷ đồng.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn cho biết năm nay mặc dù gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ vải thiều nhưng với chất lượng vải thiều cao nhất từ trước đến nay, với đặc trưng riêng “quả to, vỏ đỏ, hạt nhỏ, cùi dày”, làm nên thương hiệu vải thiều nổi tiếng trong và ngoài nước.

    Để thúc đẩy tiêu thụ, tỉnh Bắc Giang luôn coi trọng tất cả các thị trường, cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Tỉnh đã chủ động, sẵn sàng chuẩn bị các điều kiện với phương châm sản xuất, chế biến, tiêu thụ vải thiều chất lượng cao, vượt trội, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, không bị ảnh hưởng bởi COVID-19. Bên cạnh đó, ngoài sự nỗ lực của tỉnh, còn có sự hỗ trợ của Trung ương, các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố và sự ủng hộ tích cực của người dân cả nước. Do đó, việc tiêu thụ vải thiều của tỉnh diễn ra khá thuận lợi, vải được thu hoạch đến đâu tiêu thụ hết đến đó, với giá thành cao./.

    Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang

  • Bắc Giang: Biên soạn “Danh mục thủ tục hành chính, cơ chế, chính sách doanh nghiệp thường xuyên sử dụng, áp dụng”

    Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang vừa phối hợp với các cơ quan liên quan biên soạn “Danh mục thủ tục hành chính, cơ chế, chính sách doanh nghiệp thường xuyên sử dụng, áp dụng” nhằm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

    Người lao động Công ty TNHH Crystal Martin - Việt Nam (KCN Quang Châu, huyện Việt Yên) tra cứu danh mục thủ tục hành chính. 

    Người lao động Công ty TNHH Crystal Martin – Việt Nam (KCN Quang Châu, huyện Việt Yên) tra cứu danh mục thủ tục hành chính. 

    Danh mục gồm 472 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan trên địa bàn tỉnh. Các thủ tục tập trung ở 20 lĩnh vực gồm: Ngoại vụ; lao động, thương binh và xã hội; khoa học, công nghệ; giáo dục và đào tạo; giao thông vận tải; công thương; thông tin và truyền thông…

    Bên cạnh đó, danh mục tập hợp 51 cơ chế, chính sách liên quan đến 13 lĩnh vực doanh nghiệp thường xuyên sử dụng, áp dụng như: Xây dựng; kế hoạch và đầu tư; y tế; bảo hiểm xã hội; thi hành án dân sự…

    Các cơ quan soạn thảo đã liệt kê chi tiết, chính xác các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành đối với mỗi thủ tục hành chính, cơ chế, chính sách để người dân, doanh nghiệp dễ dàng tra cứu, sử dụng, áp dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. 

    Để tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, Sở Tư pháp đã đề nghị các cơ quan thuộc UBND tỉnh; cơ quan T.Ư theo ngành dọc trên địa bàn tỉnh; UBND huyện, TP; Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh đăng tải đầy đủ danh mục lên cổng/trang thông tin điện tử của cơ quan, địa phương và gửi đến các doanh nghiệp. 

    Được biết, đây là lần đầu tiên Sở Tư pháp phối hợp biên soạn “Danh mục thủ tục hành chính, cơ chế, chính sách doanh nghiệp thường xuyên sử dụng, áp dụng”. Trước đó, các thủ tục hành chính, cơ chế, chính sách được đăng tải nhỏ lẻ. 

    Cách làm mới này giúp người dân, doanh nghiệp tra cứu thuận tiện, dễ dàng, tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức. Từ đó sử dụng, áp dụng các thủ tục, cơ chế, chính sách phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

    Theo Báo Bắc Giang./.

  • Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi): Góp phần nâng tầm hàng Việt

    Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi) đang được Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra lấy ý kiến trong đó có đề xuất bổ sung thêm các ưu tiên, ưu đãi khuyến khích nhà thầu sản xuất trong nước phát triển…

     Hiện Luật Đấu thầu có quy định ưu đãi doanh nghiệp trong nước nhưng chưa đầy đủ để khuyến khích sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu. Ảnh minh họa

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện Luật Đấu thầu có quy định ưu đãi doanh nghiệp trong nước nhưng chưa đầy đủ để khuyến khích sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu. Vì thế, Dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi) đề xuất bổ sung quy định theo hướng tỷ lệ chi phí sản xuất trong nước càng cao thì ưu đãi càng nhiều. Ví dụ, tỷ lệ sản xuất trong nước 25% trở lên thì ưu đãi 7,5%, tỷ lệ sản xuất trong nước từ 50% trở lên thì ưu đãi 12%.

    Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 17 Dự thảo Luật (dự thảo lần 1) quy định, đối với gói thầu mua sắm hàng hóa được tổ chức đấu thầu trong nước mà có ít nhất ba hãng sản xuất cho ba mặt hàng xuất xứ trong nước đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, giá cả thì người có thẩm quyền quyết định việc yêu cầu nhà thầu chào hàng hóa xuất xứ trong nước.

    Cùng với đó, để khuyến khích nhà sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu, Dự thảo Luật cũng đề xuất ưu đãi đối với nhà thầu với việc không yêu cầu về hợp đồng tương tự; đồng thời ưu đãi với nhà sản xuất khởi nghiệp khi không yêu cầu về hợp đồng tương tự cũng như doanh thu.

    Đánh giá cao đề xuất bổ sung ưu đãi cao hơn đối với hàng hóa sản xuất trong nước, nhiều doanh nghiệp cho rằng, đây là một bước tiến mới nữa trong Luật Đấu thầu nhằm khuyến khích hàng hóa trong nước, từ đó từng bước nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt.

    Trả lời báo chí, Tổng giám đốc Công ty CP Tư vấn đô thị Việt Nam – Vinacity  Lê Trung Hưng cho rằng, lâu nay, khi lập dự án đầu tư hay dự toán mua sắm hàng hóa, chủ đầu tư vẫn có tư tưởng “sính ngoại”. Vì thế, muốn nâng cao sử dụng hàng Việt trong đấu thầu thì không chỉ có Luật Đấu thầu mà các luật liên quan cũng cần có những quy định để tăng cường sử dụng hàng sản xuất trong nước ngay từ khi lập dự án đầu tư hay dự toán mua sắm hàng hóa.

    Đồng quan điểm, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Cơ điện Xây dựng (Agrimeco) -ông Lê Văn An nhận định, theo Dự thảo Luật thì hàng hóa trong nước đã được ưu đãi hơn so với quy định hiện hành, song tỷ lệ ưu đãi đề xuất vẫn thấp. “Tỷ lệ ưu đãi tương xứng đối với nhà sản xuất trong nước trong việc tham gia hoạt động đấu thầu phải gấp đôi các con số đề xuất trên”, ông An nêu quan điểm.

    Đối với đề xuất nếu ở trong nước có từ 3 nhà sản xuất trở lên đáp ứng thì yêu cầu nhà thầu chào hàng hóa xuất xứ trong nước, lãnh đạo Agrimeco cho rằng, cần bổ sung quy định để bảo đảm thực thi có hiệu quả. Ví dụ, bổ sung trách nhiệm với chủ đầu tư trong trường hợp trong nước có 3 nhà sản xuất đáp ứng nhưng không yêu cầu nhà thầu chào hàng hóa trong nước.

    Với giải pháp đề xuất ưu đãi không yêu cầu về hợp đồng tương tự với nhà thầu là nhà sản xuất cũng như không yêu cầu về hợp đồng tương tự cũng như doanh thu với nhà sản xuất khởi nghiệp, một số chuyên gia cho rằng, đây là bổ sung cần thiết để tạo cơ hội cho doanh nghiệp sản xuất trong nước lớn lên.

    Tuy nhiên, để chặt chẽ hơn, Dự thảo Luật cần làm rõ trường hợp đối với những hàng hóa không gắn với việc thi công lắp đặt thì không cần yêu cầu hợp đồng tương tự; ngược lại, với hàng hóa có gắn với thì công lắp đặt thì vẫn phải yêu cầu hợp đồng tương tự để bảo đảm năng lực, kinh nghiệm thực hiện.

    Bên cạnh đề xuất các ưu đãi đối với nhà thầu sản xuất trong nước, Dự thảo Luật Đấu thầu lần này sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm thúc đẩy sản xuất trong nước, mua sắm các sản phẩm đổi mới sáng tạo như: bổ sung nội dung mua sắm công xanh nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh; bổ sung quy định ưu tiên, ưu đãi cho nhà thầu là các doanh nghiệp có sử dụng lao động thuộc nhóm yếu thế (phụ nữ, thương binh, người khuyết tật) và hàng hóa được sản xuất bởi nhóm yếu thế theo hướng thực chất, hiệu quả hơn./.

    Theo Báo Đầu tư.

  • Chú trọng áp dụng sáng kiến trong cải cách hành chính

    Xác định cải cách hành chính (CCHC) là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thúc đẩy phát triển KT-XH, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong giải quyết công việc, góp phần phục vụ nhân dân, những năm gần đây, huyện Lục Nam (Bắc Giang) tập trung thực hiện với nhiều giải pháp hiệu quả.

    Mới đầu giờ làm việc buổi sáng nhưng tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của huyện Lục Nam đã có khá đông người dân. Tòa nhà bộ phận một cửa được đầu tư gần 4,5 tỷ đồng đưa vào sử dụng tháng 5/2022 với hệ thống trang thiết bị hiện đại, đồng bộ. 

    Chị Nguyễn Thị Thu Hà ở xã Bắc Lũng đang làm thủ tục liên quan đến bảo hiểm xã hội cho biết, ngay khi đến liên hệ, chị được cán bộ hướng dẫn bổ sung thông tin, điền tờ khai và đang đợi kết quả. “Cơ sở vật chất khang trang, cán bộ nhiệt tình giúp đỡ nên thủ tục của tôi được giải quyết nhanh chóng”, chị Hà nói.

    Cán bộ bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của huyện Lục Nam giải quyết thủ tục hành chính cho người dân.

    Cán bộ bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của huyện Lục Nam giải quyết thủ tục hành chính cho người dân.

    Được biết, hằng ngày có hàng trăm hồ sơ của người dân, doanh nghiệp được giải quyết ở bộ phận này. Đồng chí Phùng Văn Vĩnh, Phó Chánh Văn phòng HĐND – UBND huyện cho biết, từ cuối năm 2020, Huyện ủy ban hành Nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh CCHC, xây dựng chính quyền điện tử; nâng cao năng lực, đạo đức công vụ và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức nhiệm kỳ 2020 – 2025. UBND huyện xây dựng nhiều kế hoạch, văn bản triển khai thực hiện, trong đó xác định các nội dung CCHC cần tập trung với những nhiệm vụ cụ thể. 

    Để công tác CCHC được triển khai có hiệu quả, UBND huyện chỉ đạo tuyên truyền sâu rộng đến cán bộ, đảng viên, người dân, doanh nghiệp qua nhiều hình thức, nội dung phong phú. Chú trọng tuyên truyền những chuyển biến trong CCHC; việc cung cấp dịch vụ công mức độ 3, 4 để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và tăng cường sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp, người dân.

    UBND huyện chỉ đạo các đơn vị thường xuyên rà soát các quy định, thủ tục hành chính (TTHC) nhằm phát hiện những thủ tục không còn phù hợp để đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác CCHC ở các cơ quan, đơn vị, xã, thị trấn, phát hiện những tồn tại, hạn chế, bất cập để điều chỉnh hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền điều chỉnh phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

    Huyện tập trung thực hiện CCHC trên một số lĩnh vực: Cải cách thể chế, TTHC, tổ chức, bộ máy, công vụ; cải cách tài chính công; xây dựng và phát triển chính quyền điện tử… Chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mạng lưới công nghệ thông tin từ huyện tới các xã, thị trấn; đẩy mạnh thực hiện tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế “Một cửa”, “Một cửa liên thông” trong giải quyết TTHC. 

    Từ đầu năm đến nay, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của huyện tiếp nhận 19.368 hồ sơ, đã giải quyết 19.084 hồ sơ, số còn lại đang giải quyết. Hồ sơ giải quyết trực tuyến mức độ 3, 4 hơn 2.500 hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích 715 hồ sơ.

    Nét mới trong những tháng đầu năm nay là huyện đưa ba sáng kiến vào thực tế, gồm: Thanh toán phí, lệ phí đối với các dịch vụ công trực tuyến thông qua tài khoản giao dịch ngân hàng giúp thực hiện nhanh hơn, tăng tính minh bạch, giảm tiêu cực trong thực thi công vụ; giảm thời gian cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản từ 15 ngày xuống còn 5 ngày làm việc; nâng cao hiệu quả giải quyết hồ sơ cấp lại giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng trên dịch vụ công trực tuyến, người dân sẽ được thông báo qua tin nhắn SMS về tiến độ giải quyết hồ sơ.

    Đồng chí Dương Công Định, Phó Chủ tịch UBND huyện Lục Nam cho rằng, kết quả đạt được khẳng định nỗ lực của địa phương trong công tác CCHC. Năm 2021, UBND tỉnh xếp loại huyện Lục Nam có kết quả giải quyết TTHC đứng đầu; số lượng TTHC được thực hiện bằng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đứng thứ hai; xếp loại CCHC đứng thứ ba; bộ phận một cửa cấp huyện xếp thứ hai; xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và huyện, TP đứng thứ ba… 

    Thời gian tới, huyện tiếp tục áp dụng các giải pháp đẩy mạnh CCHC, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; giám sát, kiểm tra tình hình thực hiện các văn bản chỉ đạo, điều hành về CCHC. Kiểm tra thi hành công vụ thường xuyên và đột xuất tại các cơ quan, đơn vị, xã, thị trấn, kịp thời chấn chỉnh việc thực hiện quy chế văn hóa công sở trong cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao trách nhiệm, tác phong trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Nâng cao kiến thức và nghiệp vụ cho cán bộ quản lý nhà nước về pháp luật thương mại điện tử

    Sáng 18/7, Sở Công Thương Bắc Giang phối hợp với Cục Thương mại điện tử (TMĐT) và Kinh tế số (Bộ Công Thương) tổ chức tập huấn triển khai văn bản pháp luật TMĐT năm 2022.

    Các đại biểu dự hội nghị.

    Các đại biểu dự hội nghị.

    Dự hội nghị có đại diện các sở, ngành là thành viên Ban Chỉ đạo 389 tỉnh; Ủy ban MTTQ tỉnh; một số đơn vị liên quan; UBND các huyện, TP với tổng số gần 100 đại biểu và học viên.

    Đồng chí Phạm Công Toản, Phó Giám đốc Sở Công Thương nhấn mạnh: Hiện nay, TMĐT đã trở thành một kênh kinh doanh được nhiều doanh nghiệp ứng dụng nhằm thúc đẩy bán hàng và được nhiều người tiêu dùng lựa chọn.

    Song hình thức kinh doanh này cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ như xuất hiện hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ. TMĐT ngày càng phát triển thì các vi phạm, tranh chấp liên quan đến TMĐT ngày càng tăng lên.

    Mục tiêu của buổi tập huấn nhằm nâng cao kiến thức và nghiệp vụ quản lý cho cán bộ quản lý nhà nước về pháp luật TMĐT.

    Ông Nguyễn Hữu Tuấn truyền đạt các nội dung văn bản pháp luật TMĐT năm 2022.

    Ông Nguyễn Hữu Tuấn truyền đạt các nội dung văn bản pháp luật TMĐT năm 2022.

    Tại đây, các học viên được Ông Nguyễn Hữu Tuấn, Trưởng Phòng Quản lý hoạt động TMĐT và Kinh tế số (Bộ Công Thương) truyền đạt các nội dung: Tổng quan về tình hình TMĐT trong nước và thế giới năm 2022, xu thế phát triển TMĐT các năm tới.

    Tình hình buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong hoạt động TMĐT; nhận diện phương thức, thủ đoạn buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong hoạt động TMĐT; hướng dẫn quy trình thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong kinh doanh trực tuyến.

    Thực trạng và một số hành vi vi phạm trong hoạt động TMĐT. Những giải pháp phòng, chống các vi phạm về quản lý nhà nước trong hoạt động TMĐT và quy trình kiểm tra, xử lý vi phạm.

    Ngoài ra, các đại biểu, học viên trao đổi, thảo luận về cách nhận biết website TMĐT; những thủ đoạn gian lận trong việc cung ứng hàng hóa thông qua các giao dịch TMĐT.

    Quy trình xử lý đơn hàng trên TMĐT; cách tiếp thị và nhắm tới mục tiêu sản phẩm trên TMĐT; cách tìm hiểu đối tượng vi phạm để lập kế hoạch xử lý vi phạm trên các trang TMĐT…

    Theo Báo Bắc Giang./.

  • Bắc Giang quyết tâm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh  với 06 nhóm giải pháp trọng tâm

    Với mong muốn tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thực sự thông thoáng, công khai, minh bạch, thân thiện đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, ngày 07/7/2022, UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành Kế hoạch số 418/KH-UBND về việc Nâng cao Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2022.

    Theo đó, tỉnh Bắc Giang đặt ra mục tiêu phấn đấu nâng điểm số PCI tỉnh Bắc Giang đạt 66,30 điểm tăng 1,56 điểm so với năm 2021; xếp hạng tối thiểu 25/63 tỉnh, thành phố và nằm trong nhóm các địa phương có chất lượng điều hành kinh tế “khá” trên bảng xếp hạng cả nước. Đồng thời, tỉnh cũng đặt ra nhiệm vụ tập trung cải thiện nâng cao điểm số của các chỉ số thành phần được gắn trọng số cao và ảnh hưởng lớn đến tổng điểm PCI bao gồm: khắc phục những hạn chế của 05 chỉ số giảm điểm năm 2021, đó là: “Chi phí gia nhập thị trường”, “Cạnh tranh bình đẳng”, “Đào tạo lao động”, “Chi phí thời gian” và “Tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh”; tiếp tục cải thiện điểm số, thứ hạng của 05 chỉ số tăng điểm năm 2021 đó là: “Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp”, “Tính minh bạch”, “Tiếp cận đất đai”, “Thiết chế pháp lý và An ninh trật tự”, “Chi phí không chính thức”.

    Bắc Giang quyết tâm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh với 06 nhiệm vụ trọng tâm

    Quyết tâm mạnh mẽ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cùng với tinh thần cầu thị của lãnh đạo tỉnh Bắc Giang nhằm không chỉ cải thiện điểm số, xếp hạng PCI mà chính là cải thiện môi trường đầu tư, hình ảnh của tỉnh Bắc Giang trong cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước được thể hiện qua việc Chủ tịch UBND tỉnh đã trực tiếp nhận nhiệm vụ chỉ đạo đơn vị đầu mối cải thiện 3/10 chỉ số thành phần; 7 chỉ số thành phần còn lại được phân công trực tiếp cho 3 Phó Chủ tịch UBND tỉnh phụ trách. Đồng thời, UBND tỉnh Bắc Giang cũng đưa ra 06 nhóm giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chỉ số PCI năm 2022 tại Kế hoạch số 418/KH-UBND đó là:

    (1) Một là giải pháp về công tác chỉ đạo điều hành

    – Phát huy hơn nữa tính năng động, tiên phong, gương mẫu của lãnh đạo các cấp, các ngành, đề cao tinh thần, thái độ trong việc hỗ trợ cho doanh nghiệp (DN), nhà đầu tư. Chủ động, linh hoạt trong quản lý điều hành phù hợp với khuôn khổ pháp luật, nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho DN. Kịp thời giải quyết, khó khăn, những vấn đề mới phát sinh và các vấn đề chưa rõ trong các quyết định, chính sách của Nhà nước; mạnh dạn đề xuất các giải pháp có tính đột phá nhằm hỗ trợ tốt nhất cho DN.

    – Thay đổi ứng xử của cơ quan nhà nước và người dân theo tinh thần “thân thiện, lắng nghe, đồng cảm, tận tâm”. Quán triệt nghiêm cán bộ, công chức, viên chức của đơn vị luôn phải đổi mới trong tư duy, nhận thức và hành động khi thi hành công vụ nhằm tạo sự chuyển biến thực chất và mạnh mẽ từ tư duy “cho phép”, “cấp phép” sang tư duy “phục vụ”; chấp hành nghiêm túc kỷ luật, kỷ cương hành chính. Thực hiện nghiêm phương châm “4 xin” (Xin chào, xin lỗi, xin cảm ơn, xin phép); “4 luôn” (Luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn lắng nghe, luôn giúp đỡ) và “5 không” (Không cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà; không quan liêu vô cảm, vô trách nhiệm; không tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm; không xu nịnh, chạy chọt, gian dối; không lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thực thi công vụ).

    (2) Hai là giải pháp về cải cách thủ tục hành chính

    – Các cấp, các ngành tiếp tục quyết liệt cải cách thủ tục hành chính (TTHC) theo hướng hiệu quả, thực chất. Đảm bảo thực thi đúng, đầy đủ những quy định về điều kiện kinh doanh đã được đơn giản hóa; không tự đặt thêm điều kiện kinh doanh dưới mọi hình thức. Chủ động nghiên cứu tham mưu UBND tỉnh đề xuất Bộ, ban, ngành Trung ương cắt giảm TTHC, cắt giảm thành phần hồ sơ không cần thiết, không hợp lý; cắt giảm mạnh các mẫu đơn, tờ khai có nội dung trùng lặp thuộc thẩm quyền giải quyết của tỉnh, của cơ quan, đơn vị mình gắn với tái cấu trúc các TTHC để rút họn quy trình, rút ngắn hơn nữa thời gian giải quyết TTHC ở các cấp chính quyền so với quy định, tạo thuận lợi nhất cho người dân, DN, nhà đầu tư.

    – Đề ra mục tiêu hằng năm cắt giảm tối thiểu 30% thời gian giải quyết TTHC so với quy định hiện hành, nhất là các TTHC liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh như đăng ký thành lập DN, chấp thuận chủ trương đầu tư, giao đất, cho thuê đất, cấp phép xây dựng, thuế, hải quan, 5 bảo hiểm, tiếp cận nguồn vốn, điện năng, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, đăng ký tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm… Hạn chế tối đa tình trạng hồ sơ giải quyết TTHC của DN trả lại quá 01 lần sau khi đã được cơ quan nhà nước yêu cầu chỉnh sửa. Hằng tháng công khai kết quả giải quyết TTHC trên trang thông tin điện tử và các trang mạnh xã hội cho DN, người dân được biết. Rà soát thực hiện phân cấp, phân công, ủy quyền tối đa cho cán bộ thẩm định, phê duyệt hồ sơ TTHC ngay tại Trung tâm phục vụ hành chính công các cấp. Nâng cao chất lượng giải quyết hồ sơ TTHC các cấp, giảm thời gian đi lại, giảm thời gian chờ đợi, tạo thuận lợi tốt nhất cho tổ chức, DN, người dân.

    (3) Ba là giải pháp về đối thoại, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

    Các sở, ngành, địa phương thường xuyên đổi mới phương pháp đối thoại, gặp gỡ, tiếp xúc với DN, nhà đầu tư nhằm tạo ra sự thân thiết, gần gũi giữa chính quyền và DN thông qua các hoạt động hội nghị, hội thảo, gặp gỡ, tiếp xúc, tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư, DN. Tổ chức triển khai nhiều kênh thông tin để tiếp nhận các phản ánh, kiến nghị của nhà đầu tư, DN. Đẩy mạnh hơn nữa công tác phối hợp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức hội DN trên địa bàn tỉnh. Tạo điều kiện để cộng đồng DN tham gia phản biện các cơ chế, chính sách của nhà nước có liên quan đến DN.

    (4) Bốn là giải pháp nâng cao tính minh bạch

    Thực hiện công khai 100% thông tin, tài liệu (trừ tài liệu mật) các kế hoạch phát triển KT-XH, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành, quy hoạch tỉnh và các văn bản quy phạm phát luật, các TTHC, chủ trương, định hướng thu hút đầu tư, các chính sách ưu đãi cho DN… các thông tin khác có trách nhiệm phải cung cấp theo quy định pháp luật tới các DN, nhà đầu tư khi họ có yêu cầu. Phát huy tối ưu hiệu quả Cổng thông tin điện tử của tỉnh, trang Web của các sở, ngành địa phương; thường xuyên cập nhật thông tin, cung cấp đầy đủ các dữ liệu về quy hoạch, cơ chế chính sách cũng như hướng dẫn theo hướng ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu và có chỉ dẫn rõ ràng để thuận tiện tra cứu, chứ không chỉ đơn thuần đưa các quyết định và văn bản pháp luật lên trang web. Nâng cao hiệu quả chuyên mục trao đổi, hỏi đáp đối với DN, nhà đầu tư trên Cổng Thông tin điện tử tỉnh, trang Web của các cơ quan, đơn vị, địa phương để kịp thời tiếp nhận và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN, nhà đầu tư.

    (5) Năm là giải pháp đối với cán bộ, công chức, viên chức trong cải thiện môi
    trường đầu tư kinh doanh

    – Tổ chức tập huấn kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong thực thi công vụ; tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho toàn thể cán bộ, công chức bộ phận một cửa, cán bộ trực tiếp giải quyết công việc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư.

    – Biểu dương, khen thưởng các cá nhân, tổ chức có thành tích tốt trong việc triển khai các nhiệm vụ, giải pháp nâng hạng các chỉ số thành  phần PCI của sở, ngành, địa phương mình.

    (6) Sáu là giải pháp về tuyên truyền cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

     Đẩy mạnh công tác tuyên truyền cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong cơ quan, đơn vị mình đồng thời tuyên truyền cho các DN, nhà đầu tư hiểu được những nỗ lực tỉnh trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong thời gian qua nhằm tạo ra sự đồng thuận, chia sẻ giữa DN với chính quyền.

    Phát huy tính chủ động, xác định trách nhiệm của các ngành, các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh nhằm cải thiện hơn nữa môi trương đầu tư, hình ảnh của tỉnh Bắc Giang trong cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo động lực cho thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, góp phẩn thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội

    Xem chi tiết Kế hoạch tại đây./.

  • Bắc Giang đặt mục tiêu nâng Chỉ số PCI năm 2022 đứng thứ 25/63 tỉnh, thành phố

    Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Kế hoạch nâng cao Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2022.

    Các cấp, các ngành tiếp tục quyết liệt cải cách TTHC theo hướng hiệu quả, thực chất.

    Theo đó, tỉnh Bắc Giang đặt ra nhiệm vụ năm 2022 phấn đấu nâng điểm số PCI tỉnh Bắc Giang đạt 66,30 điểm, tăng 1,56 điểm so với năm 2021; xếp hạng tối thiểu 25/63 tỉnh, thành phố và nằm trong nhóm các địa phương có chất lượng điều hành kinh tế “khá” trên bảng xếp hạng cả nước.

    Tập trung cải thiện nâng cao điểm số của các chỉ số thành phần được gắn trọng số cao và ảnh hưởng lớn đến tổng điểm PCI gồm: khắc phục những hạn chế của 05 chỉ số giảm điểm năm 2021, đó là: “Chi phí gia nhập thị trường”, “Cạnh tranh bình đẳng”, “Đào tạo lao động”, “Chi phí thời gian” và “Tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh”; tiếp tục cải thiện điểm số, thứ hạng của 05 chỉ số tăng điểm năm 2021 đó là: “Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp”, “Tính minh bạch”, “Tiếp cận đất đai”, “Thiết chế pháp lý và An ninh trật tự”, “Chi phí không chính thức”.

    Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, tỉnh Bắc Giang sẽ tập trung thực hiện 06 giải pháp, đó là phát huy hơn nữa tính năng động, tiên phong, gương mẫu của lãnh đạo các cấp, các ngành, đề cao tinh thần, thái độ trong việc hỗ trợ cho doanh nghiệp (DN), nhà đầu tư. Chủ động, linh hoạt trong quản lý điều hành phù hợp với khuôn khổ pháp luật, nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho DN. Kịp thời giải quyết, khó khăn, những vấn đề mới phát sinh và các vấn đề chưa rõ trong các quyết định, chính sách của Nhà nước; mạnh dạn đề xuất các giải pháp có tính đột phá nhằm hỗ trợ tốt nhất cho DN.

    Thay đổi ứng xử của cơ quan nhà nước và người dân theo tinh thần “thân thiện, lắng nghe, đồng cảm, tận tâm”. Quán triệt nghiêm cán bộ, công chức, viên chức của đơn vị luôn phải đổi mới trong tư duy, nhận thức và hành động khi thi hành công vụ nhằm tạo sự chuyển biến thực chất và mạnh mẽ từ tư duy “cho phép”, “cấp phép” sang tư duy “phục vụ”; chấp hành nghiêm túc kỷ luật, kỷ cương hành chính. Thực hiện nghiêm phương châm “4 xin” (Xin chào, xin lỗi, xin cảm ơn, xin phép); “4 luôn” (Luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn lắng nghe, luôn giúp đỡ) và “5 không” (Không cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà; không quan liêu vô cảm, vô trách nhiệm; không tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm; không xu nịnh, chạy chọt, gian dối; không lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thực thi công vụ).

    Các cấp, các ngành tiếp tục quyết liệt cải cách thủ tục hành chính (TTHC) theo hướng hiệu quả, thực chất. Đảm bảo thực thi đúng, đầy đủ những quy định về điều kiện kinh doanh đã được đơn giản hóa; không tự đặt thêm điều kiện kinh doanh dưới mọi hình thức. Chủ động nghiên cứu tham mưu UBND tỉnh đề xuất Bộ, ban, ngành Trung ương cắt giảm TTHC, cắt giảm thành phần hồ sơ không cần thiết, không hợp lý; cắt giảm mạnh các mẫu đơn, tờ khai có nội dung trùng lặp thuộc thẩm quyền giải quyết của tỉnh, của cơ quan, đơn vị mình gắn với tái cấu trúc các TTHC để rút họn quy trình, rút ngắn hơn nữa thời gian giải quyết TTHC ở các cấp chính quyền so với quy định, tạo thuận lợi nhất cho người dân, DN, nhà đầu tư.

    Đề ra mục tiêu hằng năm cắt giảm tối thiểu 30% thời gian giải quyết TTHC so với quy định hiện hành, nhất là các TTHC liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh như đăng ký thành lập DN, chấp thuận chủ trương đầu tư, giao đất, cho thuê đất, cấp phép xây dựng, thuế, hải quan, 5 bảo hiểm, tiếp cận nguồn vốn, điện năng, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, đăng ký tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm… Hạn chế tối đa tình trạng hồ sơ giải quyết TTHC của DN trả lại quá 01 lần sau khi đã được cơ quan nhà nước yêu cầu chỉnh sửa. Hằng tháng công khai kết quả giải quyết TTHC trên trang thông tin điện tử và các trang mạnh xã hội cho DN, người dân được biết. Rà soát thực hiện phân cấp, phân công, ủy quyền tối đa cho cán bộ thẩm định, phê duyệt hồ sơ TTHC ngay tại Trung tâm phục vụ hành chính công các cấp. Nâng cao chất lượng giải quyết hồ sơ TTHC các cấp, giảm thời gian đi lại, giảm thời gian chờ đợi, tạo thuận lợi tốt nhất cho tổ chức, DN, người dân.

    Các sở, ngành, địa phương thường xuyên đổi mới phương pháp đối thoại, gặp gỡ, tiếp xúc với DN, nhà đầu tư nhằm tạo ra sự thân thiết, gần gũi giữa chính quyền và DN thông qua các hoạt động hội nghị, hội thảo, gặp gỡ, tiếp xúc, tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư, DN. Tổ chức triển khai nhiều kênh thông tin để tiếp nhận các phản ánh, kiến nghị của nhà đầu tư, DN. Đẩy mạnh hơn nữa công tác phối hợp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức hội DN trên địa bàn tỉnh. Tạo điều kiện để cộng đồng DN tham gia phản biện các cơ chế, chính sách của nhà nước có liên quan đến DN.

    Đồng thời thực hiện công khai 100% thông tin, tài liệu (trừ tài liệu mật) các kế hoạch phát triển KT-XH, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành, quy hoạch tỉnh và các văn bản quy phạm phát luật, các TTHC, chủ trương, định hướng thu hút đầu tư, các chính sách ưu đãi cho DN… các thông tin khác có trách nhiệm phải cung cấp theo quy định pháp luật tới các DN, nhà đầu tư khi họ có yêu cầu. Phát huy tối ưu hiệu quả Cổng thông tin điện tử của tỉnh, trang Web của các sở, ngành địa phương; thường xuyên cập nhật thông tin, cung cấp đầy đủ các dữ liệu về quy hoạch, cơ chế chính sách cũng như hướng dẫn theo hướng ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu và có chỉ dẫn rõ ràng để thuận tiện tra cứu, chứ không chỉ đơn thuần đưa các quyết định và văn bản pháp luật lên trang web. Nâng cao hiệu quả chuyên mục trao đổi, hỏi đáp đối với DN, nhà đầu tư trên Cổng Thông tin điện tử tỉnh, trang Web của các cơ quan, đơn vị, địa phương để kịp thời tiếp nhận và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN, nhà đầu tư.

    Cùng đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong cơ quan, đơn vị mình đồng thời tuyên truyền cho các DN, nhà đầu tư hiểu được những nỗ lực tỉnh trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong thời gian qua nhằm tạo ra sự đồng thuận, chia sẻ giữa DN với chính quyền.

    Xem chi tiết Kế hoạch tại đây./.

    Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang

  • Ưu tiên nguồn lực, thực hiện chuyển đổi số

     

    Thực hiện Nghị quyết số 111-NQ/TU ngày 11/6/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chuyển đổi số tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 (gọi tắt là Nghị quyết số 111), Bắc Giang đang tập trung các giải pháp để thực hiện chuyển đổi số, trong đó quan tâm đầu tư, nâng cấp trang thiết bị như máy vi tính, máy in, máy scan và đường truyền mạng. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ.

    Còn nhiều khó khăn

    Theo ông Tô Văn Bình, Trưởng Phòng Công nghệ thông tin (CNTT) (Sở Thông tin và Truyền thông), thực hiện công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số, từ nhiều năm nay, Bắc Giang đã dành kinh phí đầu tư máy vi tính, máy scan cho cán bộ, công chức, viên chức. 

    Cán bộ một cửa hướng dẫn người dân giải quyết TTHC tại xã Thanh Hải (Lục Ngạn).

    Cán bộ một cửa hướng dẫn người dân giải quyết TTHC tại xã Thanh Hải (Lục Ngạn).

    Hiện tỷ lệ trung bình là 1,3 máy tính/người. Các thiết bị cơ bản hoạt động ổn định, đáp ứng yêu cầu công việc hằng ngày và sử dụng hệ thống chuyên dùng giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) cho tổ chức, công dân. Song trên thực tế ở nhiều nơi, máy vi tính đã được đầu tư từ nhiều năm trước, cấu hình thấp nên tốc độ truy cập, xử lý công việc chậm, nhất là trước yêu cầu về chuyển đổi số ngày càng cao. Đặc biệt là các địa phương vùng sâu, xa kinh phí bố trí cho việc mua sắm trang thiết bị máy tính, máy scan, máy in… còn hạn chế.

    Bộ phận một cửa xã Đèo Gia (Lục Ngạn) có 3 cán bộ gồm: Lao động – Thương binh và Xã hội; Tư pháp – Hộ tịch; Địa chính – Xây dựng trực tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC cho công dân. Anh Hoàng Văn Lợi, công chức Văn phòng, phụ trách bộ phận một cửa cho biết: “Hiện mỗi cán bộ có một máy vi tính song do máy đã mua lâu nên việc xử lý công việc, gửi, nhận văn bản, giải quyết TTHC trên môi trường mạng có lúc bị chậm; lượng hồ sơ xử lý trực tuyến không cao. 

    Thậm chí việc ký số của lãnh đạo xã và văn phòng cũng gặp khó khăn do cấu hình máy thấp, không đáp ứng yêu cầu. Việc này diễn ra trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết công việc của địa phương”. Ông Hoàng Văn Dũng, Chủ tịch UBND xã cho rằng để làm tốt công tác chuyển đổi số, ngoài nâng cao năng lực cán bộ, xã đề nghị tỉnh, huyện có cơ chế hỗ trợ các xã, thị trấn, đặc biệt là xã vùng cao các máy vi tính, máy in, máy scan hiện đại, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.

    Tình trạng trên cũng diễn ra ở các huyện: Lục Ngạn, Sơn, Động, Yên Thế, Lục Nam, Tân Yên… Thêm nữa, các sở, ngành, đơn vị, địa phương thiếu chuyên gia giỏi, kỹ sư đầu ngành về CNTT, chuyên nghiệp về phần mềm, bảo mật, công nghệ số. Ba huyện: Yên Thế, Lục Ngạn, Lục Nam chưa bố trí được cán bộ chuyên trách về CNTT. Đối với cấp xã, cán bộ phụ trách CNTT chủ yếu kiêm nhiệm; vì thế khi gặp sự cố bất ngờ thường lúng túng trong khâu xử lý, ảnh hưởng đến thời gian chỉ đạo, điều hành và thực thi nhiệm vụ.

    Nguồn kinh phí đầu tư cho ứng dụng CNTT ở các cấp, các ngành còn khó khăn, chưa đáp ứng được yêu cầu của Nghị quyết số 111 là mỗi năm ưu tiên bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách thường xuyên các cấp để triển khai thực hiện các hoạt động, chương trình, đề án, dự án phục vụ xây dựng đô thị thông minh, chuyển đổi số.

    Một trong những nguyên nhân dẫn đến cơ sở vật chất, nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu hiện nay là do nguồn lực kinh tế của tỉnh và các địa phương còn khó khăn; thiếu cơ chế đặc thù trong tuyển dụng và chính sách đãi ngộ với công chức chuyên trách CNTT nên chưa thu hút được nguồn nhân lực giỏi vào phục vụ trong các cơ quan nhà nước và các cơ sở đào tạo. Theo ông Thân Minh Sâm, Phó Chủ tịch UBND huyện Yên Thế, quy trình đề nghị mua máy vi tính cho cán bộ, công chức sử dụng mất nhiều thời gian, phân bổ theo định mức tiêu chuẩn và cấu hình chung nên chưa phù hợp với từng vị trí việc làm.

    Đồng bộ các giải pháp

    Kết quả xếp loại chỉ số đánh giá chuyển đổi số của các bộ, cơ quan ngang bộ và các tỉnh, TP trực thuộc T.Ư năm 2020, Bắc Giang đứng thứ 10/63 tỉnh, TP. Trong đó chỉ số xếp hạng chính quyền số đứng thứ 7, kinh tế số đứng thứ 14, xã hội số đứng thứ 25. Để tiếp tục duy trì thứ hạng và hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ về chuyển đổi số trong giai đoạn tiếp theo, Bắc Giang xác định cần tập trung nhiều nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất, nâng chất lượng nguồn nhân lực.

    Ông Nguyễn Gia Phong, Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông cho biết: “Với yêu cầu nhiệm vụ về chuyển đổi số ngày càng cao thì việc phải tăng cường năng lực, bổ sung kinh phí đầu tư trang thiết bị, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách CNTT càng cấp thiết. Nhiệm vụ này cũng được Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ rõ trong Nghị quyết số 111 và kế hoạch triển khai của UBND tỉnh. 

    ăm 2022, có một số phần việc mới như: Số hóa hồ sơ TTHC tại bộ phận một cửa; thực hiện Đề án 06 về “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia, giai đoạn 2022 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (gọi tắt Đề án 06). 

    Để thực hiện tốt các nội dung này đòi hỏi các địa phương phải bổ sung máy scan có độ phân giải cao đáp ứng quy định cho bộ phận một cửa; trang bị máy vi tính, máy in, máy scan đối với bộ phận một cửa của Công an cấp xã để giải quyết 25 dịch vụ công thiết yếu”. 

    Trước mắt, những nơi máy vi tính chạy chậm thì bố trí kinh phí nâng cấp cấu hình bằng cách lắp thêm RAM, ổ cứng. Nâng cấp mạng LAN nội bộ, cài đặt sử dụng đường truyền chuyên dùng với các thiết bị ở bộ phận một cửa, hệ thống truyền hình trực tuyến để hoạt động thông suốt. Hiện tỉnh đã cấp đường truyền mạng chuyên dùng đến 209 xã, phường, thị trấn với băng thông lớn.

    Theo ông Nguyễn Đình Hiếu, Giám đốc Sở Tài chính, kinh phí bảo đảm đầu tư trang thiết bị như máy vi tính, máy scan, máy in cho bộ phận một cửa cấp xã thuộc nhiệm vụ chi của cấp huyện. Do vậy trong phân bổ dự toán ngân sách hằng năm, các huyện cần chủ động bố trí kinh phí mua sắm thiết bị CNTT cho các xã. 

    Về vấn đề mua sắm tập trung, qua thời gian triển khai nhận thấy một số khó khăn, từ tháng 5/2021, Sở Tài chính đã trình Chủ tịch UBND tỉnh ban hành quyết định quy định danh mục mua sắm tập trung theo hướng rút gọn còn máy vi tính, máy in; giao các huyện, TP chủ động mua sắm theo danh mục. 

    Để tháo gỡ khó khăn, Giám đốc Sở Tài chính cho rằng, khi xây dựng dự toán ngân sách hằng năm, trên cơ sở rà soát nhu cầu kinh phí, khả năng đáp ứng, các đơn vị đề xuất cụ thể để Sở Tài chính tổng hợp, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, trình HĐND tỉnh có hướng bổ sung mục tiêu đối với dự án CNTT cho các địa bàn khó khăn.

    Xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ quan trọng, vừa qua, HĐND huyện Việt Yên đã thông qua Nghị quyết điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025, bổ sung kế hoạch đầu tư công năm 2022, trong đó bổ sung 40 tỷ đồng để chuyển đổi số; 50 tỷ đồng đầu tư hoặc hỗ trợ xây dựng thiết bị trụ sở bộ phận một cửa các xã, thị trấn. 

    Huyện Yên Thế đầu tư gần 300 triệu đồng mua trang thiết bị cho bộ phận một cửa của công an các xã, thị trấn. TP Bắc Giang trích kinh phí hỗ trợ hơn 3 tỷ đồng cho các đơn vị nâng cấp, chỉnh trang xây dựng mô hình chính quyền thân thiện tại bộ phận một cửa. 

    Bà Nguyễn Thị Hồng Vinh, Chủ tịch UBND phường Dĩnh Kế (TP Bắc Giang) nói: “Vừa rồi phường dành hơn 700 triệu đồng cải tạo trụ sở làm việc của bộ phận một cửa, mua thêm máy photo, máy scan, máy vi tính… đáp ứng yêu cầu giải quyết TTHC cho tổ chức, công dân”. 

    Hiện Bắc Giang đã thành lập được tổ chuyên gia về chuyển đổi số; xây dựng kế hoạch đào tạo nhân lực chất lượng cao, tập huấn đội ngũ cán bộ CNTT cơ sở. Sở Nội vụ, Sở Thông tin và Truyền thông nghiên cứu, đề xuất chính sách khuyến khích, thu hút đội ngũ làm CNTT phù hợp với nguồn lực của tỉnh.

    Mới đây Chủ tịch UBND tỉnh có văn bản yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động bộ phận một cửa, đề nghị Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã quan tâm bố trí kinh phí, cơ sở vật chất, máy móc thiết bị cho bộ phận một cửa và các đơn vị thực hiện Đề án 06. 

    Trong đó, ưu tiên bố trí máy tính riêng để hỗ trợ người dân nhập dữ liệu tại bộ phận một cửa cấp huyện, cấp xã; chuẩn bị các điều kiện (về con người, thiết bị) để thực hiện số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC đối với 25 dịch vụ công thiết yếu theo Đề án 06 từ ngày 1/7/2022 và toàn bộ hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC thuộc phạm vi tiếp nhận của bộ phận một cửa cấp huyện từ ngày 1/12/2022, cấp xã từ năm 2023.

    Nhiều ý kiến cho rằng tỉnh cần có cơ chế đặc thù trong tuyển dụng, thu hút nhân lực chất lượng cao phục vụ chuyển đổi số; thành lập các tổ tư vấn, hướng dẫn mua sắm thiết bị. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đặc biệt là bộ phận một cửa các cấp. Tiếp tục đào tạo, tập huấn chuyên sâu về CNTT, chuyển đổi số cho đội ngũ làm CNTT các cấp và cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị trong tỉnh.

  • Khuyến khích người dân, DN sử dụng dịch vụ công trực tuyến và chữ ký số

    Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang vừa có văn bản về việc khuyến khích người dân, doanh nghiệp (DN) sử dụng dịch vụ công trực tuyến và chữ ký số trong giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) trên địa bàn.

    Theo đó, khuyến khích người dân, DN thực hiện TTHC qua dịch vụ công trực tuyến tại địa chỉ: Cổng dịch vụ công tỉnh Bắc Giang (dichvucong.bacgiang.gov.vn) hoặc Cổng dịch vụ công quốc gia (dichvucong.gov.vn). 

    Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận “Một cửa”, để phục vụ cho việc số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC và giảm chi phí thực hiện TTHC, đề nghị người dân, DN tăng cường sử dụng chữ ký số đối với các thành phần hồ sơ, nhất là các thành phần hồ sơ sử dụng khổ giấy A0, A3, A2; bản vẽ kỹ thuật… (sử dụng bản điện tử có ký số) gửi đến Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh, Bộ phận “Một cửa” cấp huyện, cấp xã.

    Khuyến khích người dân, doanh nghiệp thực hiện TTHC qua dịch vụ công trực tuyến. Ảnh minh họa. 

    Khuyến khích người dân, doanh nghiệp thực hiện TTHC qua dịch vụ công trực tuyến. Ảnh minh họa.

    Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, cơ quan thuộc UBND tỉnh; Công an tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh, Cục Thuế tỉnh; Hiệp Hội DN tỉnh, Hiệp Hội Bất động sản tỉnh, Hội Doanh nhân trẻ tỉnh; UBND huyện, thành phố chỉ đạo Bộ phận “Một cửa” phải tiếp nhận các thành phần hồ sơ là bản điện tử có ký số khi người dân, DN gửi đến, bảo đảm theo quy định tại Nghị định số 45 ngày 8/4/2020 của Chính phủ về thực hiện TTHC trên môi trường điện tử; thực hiện tuyên truyền cho người dân, DN sử dụng dịch vụ công trực tuyến, sử dụng chữ ký số trong quá trình thực hiện TTHC.

    Sở Thông tin và Truyền thông thực hiện hướng dẫn, hỗ trợ người dân, DN sử dụng chữ ký số khi có yêu cầu; tập trung thúc đẩy sử dụng các nền tảng số trên địa bàn, nhất là việc hỗ trợ DN chuyển đổi số theo chỉ đạo của Bộ Thông tin và Truyền thông tại Công văn số 2224/BTTTT-THH ngày 9/6/2022; tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chuyển đổi số, thúc đẩy hoạt động chuyển đổi số trong DN.

    Hiệp Hội doanh nghiệp tỉnh, Hiệp Hội Bất động sản tỉnh, Hội Doanh nhân trẻ tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan sử dụng các hình thức phù hợp tuyên truyền, phổ biến đến các DN trên địa bàn tỉnh để biết và tích cực thực hiện TTHC qua dịch vụ công trực tuyến và sử dụng chữ ký số khi nộp hồ sơ TTHC.

    Nguồn: Báo Bắc Giang./.

  • Thông báo mời quan tâm: Dự án Khu nhà ở xã hội số 1 tại khu đô thị và nhà ở xã hội Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

    Căn cứ Quyết định số 523/QĐ-UBND ngày 31/5/2022 của UBND tỉnh về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Khu nhà ở xã hội số 1 tại khu đô thị và nhà ở xã hội Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Quyết định số 1222/QĐ-UBND ngày 24/6/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc phê duyệt Hồ sơ yêu cầu sơ bộ năng lực, kinh nghiệm nhà đầu tư và Tổ đánh giá sơ bộ năng lực kinh nghiệm lựa chọn nhà đầu tư dự án Khu nhà ở xã hội số 1 tại khu đô thị và nhà ở xã hội Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Giang mời các nhà đầu tư quan tâm nộp hồ sơ đăng ký thực hiện dự án với các thông tin như sau:

    1. Mục tiêu đầu tư, mục tiêu hoạt động của dự án

    a. Mục tiêu đầu tư:

      Đầu tư xây dựng Khu nhà ở xã hội số 1 thuộc Khu đô thị và nhà ở xã hội Vân Trung, xã Vân Trung, huyện Việt Yên nhằm từng bước thực thiện Quy hoạch chi tiết Khu nhà ở xã hội dành cho công nhân tại huyện Việt Yên và Đề án phát triển nhà ở xã hội dành cho công nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang được UBND tỉnh phê duyệt. Khi dự án hoàn thành, đưa vào sử dụng sẽ giải quyết nhu cầu chỗ ở cho khoảng 7.600 người (là công nhân và người lao động trong các khu, cụm công nghiệp xung quanh khu vực thực hiện dự án).

    b. Mục tiêu hoạt động của dự án:

    Mục tiêu hoạt động

    Mã ngành theo VSIC

    (mã ngành cấp 4)

    1. Đầu tư, xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình nhà ở.

    4101, 4212, 4221, 4222, 4223, 4229

    2. Kinh doanh bất động sản đối các công trình nhà ở trong dự án.

    6810

     

    2. Quy mô đầu tư dự án

    * Quy mô xây dựng:

    Đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội trên khu đất có diện tích khoảng 5,65ha thuộc đồ án quy hoạch xây dựng chi tiết 1/500 Khu đô thị và nhà ở xã hội Vân Trung, huyện Việt Yên được phê duyệt tại Quyết định số 1228/QĐ-UBND ngày 10/11/2021 của UBND tỉnh Bắc Giang (Gồm 02 lô đất: Lô OXH-01 có diện tích khoảng 4,52ha; Lô OXH-04 có diện tích khoảng 1,13ha). Các hạng mục công trình thực hiện trong khu đất của dự án gồm: Nhà ở xã hội cao tầng; chung cư thương mại hỗn hợp cao tầng; sân, đường nội bộ; cây xanh cảnh quan; hệ thống công trình giao thông, hạ tầng kỹ thuật ngoài nhà nằm trong phạm vi ranh giới dự án hoàn chỉnh, đồng bộ, cụ thể:

    * Tại lô đất OXH-01, diện tích đất 45.214 m2:

    – Xây dựng 04 khối nhà ở xã hội cao tầng (CT1, CT2, CT3, CT4) để bán và cho thuê: Xây dựng các công trình cao 18 tầng và 01 tầng hầm, tổng diện tích xây dựng 15.424 m2; tổng diện tích sàn khoảng 253.161m2 (trong đó diện tích sàn xây dựng tòa CT1 khoảng 64.739m2, tòa CT2 khoảng 61.842 m2, CT3 khoảng 64.739m2, CT4 khoảng 61.842 m2). Các không gian chức năng trong toà nhà gồm: Các căn hộ ở; không gian sinh hoạt cộng đồng; không gian để xe; các không gian công cộng, kỹ thuật phục vụ chung cho cả tòa nhà. Hệ thống kỹ thuật công trình gồm: Hệ thống điện, chống sét, chiếu sáng; hệ thống thông tin truyền thông; hệ thống thu gom rác; hệ thống thông gió và điều hòa không khí; hệ thống cấp nước và thoát nước; hệ thống phòng cháy chữa cháy.

    – Xây dựng sân đường nội bộ, cây xanh cảnh quan, hệ thống công trình kỹ thuật ngoài nhà trong phạm vi lô đất OXH-01 hoàn chỉnh đồng bộ, tổng diện tích 29.790 m2.

    * Tại lô đất OXH-04, diện tích đất 11.321 m2:

    – Xây dựng 02 khối nhà ở chung cư thương mại hỗn hợp, cao 18 tầng và 01 tầng hầm, tổng diện tích xây dựng 3.586 m2, tổng diện tích sàn xây khoảng 64.038 m2. Các không gian chức năng trong toà nhà gồm: Các căn hộ ở;không gian kinh doanh thương mại, dịch vụ; không gian sinh hoạt cộng đồng; không gian để xe; các không gian công cộng, kỹ thuật phục vụ chung cho cả tòa nhà. Hệ thống kỹ thuật công trình gồm: Hệ thống điện, chống sét, chiếu sáng; hệ thống thông tin truyền thông; hệ thống thu gom rác; hệ thống thông gió và điều hòa không khí; hệ thống cấp nước và thoát nước; hệ thống phòng cháy chữa cháy.

    – Xây dựng sân đường nội bộ, cây xanh cảnh quan, hệ thống công trình kỹ thuật ngoài nhà trong phạm vi lô đất OXH-04 hoàn chỉnh đồng bộ, tổng diện tích 7.735 m2.

    * Quy mô dân số: Dự án đáp ứng nhu cầu ở cho khoảng 7.600 người.

    * Sơ bộ phương án quản lý hạ tầng trong phạm vi dự án:

    Nhà đầu tư thực hiện đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác và sửa chữa, bảo trì nhằm duy trì hoạt động của toàn bộ công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội thuộc phạm vi dự án trong thời gian hoạt động của dự án theo đúng quy định của pháp luật có liên quan.

    Sơ bộ cơ cấu sản phẩm của dự án:

    – Nhà ở chung cư xã hội: Bán và cho thuê khoảng 3.598 căn hộ chung cư để ở, tương ứng với khoảng 173.430 m2 sàn sử dụng căn hộ ở (trong đó diện tích sàn căn hộ ở để cho thuê tối thiểu bằng 20% tổng diện tích sàn sử dụng của các căn hộ ở).

    – Nhà ở chung cư thương mại hỗn hợp: Bán và cho thuê khoảng 540 căn hộ ở, tương ứng với khoảng 39.427m2 sàn sử dụng căn hộ ở; sàn thương mại, dịch vụ để chuyển nhượng (50 năm) khoảng 5.881m2.

      3. Tổng vốn đầu tư của dự án, nguồn vốn và cơ cấu vốn

        a. Sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án: 3.238.488.967.000 đồng

    (Bằng chữ: Ba nghìn hai trăm ba mươi tám tỷ, bốn trăm tám mươi tám triệu, chín trăm sáu mươi bảy nghìn đồng)

    b. Nguồn vốn, cơ cấu nguồn vốn của dự án

    Nhà đầu tư dùng vốn chủ sở hữu và vốn vay thương mại, vốn huy động hợp pháp khác để đầu tư toàn bộ dự án. Cơ cấu nguồn vốn như sau:

    – Vốn chủ sở hữu (tối thiểu 20%):                     647.697.793.000 đồng;

    – Vốn vay, vốn hợp pháp khác (tối đa 80%): 2.590.791.174.000  đồng.

    c. Chi phí bồi thường, hỗ trợ tái định cư: 14.111.563.000 đồng.

    4. Thời hạn hoạt động của dự án

    Thời gian hoạt động của dự án 50 năm kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền chấp thuận nhà đầu tư dự án.

    5. Địa điểm, ranh giới, diện tích thực hiện dự án

    a. Địa điểm thực hiện dự án: Xã Vân Trung, huyện Việt Yên được, tỉnh Bắc Giang.

    b. Ranh giới của dự án:

    – Ranh giới: Phía Tây Bắc giáp đường gom Quốc lộ 1A (Hà Nội – Lạng Sơn); phía Đông Bắc giáp trục chính đường quy hoạch rộng 40,5m của khu đô thị và nhà ở xã hội Vân Trung; phía Đông Nam giáp với đường quy hoạch rộng 56m của khu đô thị và nhà ở xã hội Vân Trung; phía Tây Nam giáp ranh giới Khu công nghiệp Quang Châu. Dự án được đầu tư trên khu vực không thuộc phạm vi bảo vệ của di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt; không thuộc khu vực hạn chế phát triển hoặc nội đô lịch sử..

    – Vị trí: Dự án được thực hiện trên lô OXH-01, OXH-04 thuộc Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu đô thị và nhà ở xã hội Vân Trung, huyện Việt Yên được, tỉnh Bắc Giang.

    c. Diện tích thực hiện dự án: Dự án được xây dựng trên lô OXH-01, OXH-04 có tổng diện tích 56.535m2 (OXH-01 có diện tích 45.214m2 và OXH-04 có diện tích 11.321m2) thuộc Quy hoạch chi tiết Khu đô thị và nhà ở xã hội Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

    6. Tiến độ thực hiện dự án

    a. Tiến độ góp vốn và huy động các nguồn vốn: Vốn chủ sở hữu bố trí trước để thực hiện dự án, khi giải ngân hết vốn chủ sở hữu mới huy động vốn vay thương mại. Tiến độ huy động vốn theo yêu cầu tiến độ xây dựng công trình.

    b. Tiến độ thực hiện các mục tiêu hoạt động của dự án; xây dựng công trình đưa công trình vào sử dụng:

    – Hoàn thành các thủ tục về đất đai, xây dựng; hoàn thành xây dựng công trình: 42 tháng kể từ ngày chấp thuận nhà đầu tư.

    – Đưa dự án vào vận hành, kinh doanh: Từ tháng thứ 43 đến hết thời hạn hoạt động của dự án.

    7. Mục đích sử dụng đất: Thực hiện dự án nhà ở xã hội theo quy hoạch chi tiết được phê duyệt.

    8. Thời hạn, địa điểm nộp hồ sơ đăng ký thực hiện dự án:

    – Thời hạn: 30 ngày, kể từ ngày danh mục dự án được đăng tải trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

    – Địa điểm: Trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

    9. Thông tin liên hệ:

    – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Giang;

    – Địa chỉ: Đường Nguyễn Gia Thiều, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

    – Số điện thoại: 0204-3858617; số fax:0204-3854923

     

    Tải về thông báo tại đây

    Tải về Quyết định phê duyệt hồ sơ yêu cầu tại đây

    Tải về hồ sơ yêu cầu tại đây

  • Bắc Giang cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh

    Thời gian qua, môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh Bắc Giang đã có bước cải thiện tích cực và mạnh mẽ, được giới doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đánh giá cao. Mặc dù vẫn chịu sự tác động từ tình hình dịch Covid-19, song kết quả thu hút đầu tư của tỉnh Bắc Giang 6 tháng đầu năm 2022 vẫn đạt được những kết quả khá tích cực. Hiện tỉnh đang thực hiện nhiều giải pháp để tiếp tục nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, xây dựng môi trường đầu tư an toàn, ổn định, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

    Bắc Giang đứng thứ 7 cả nước về kết quả thu hút đầu tư nguồn vốn FDI.

    Thu hút đầu tư FDI đứng thứ 7 cả nước

    Tính đến hết ngày 20/6/2022, toàn tỉnh đã thu hút được 628,9 triệu USD tổng vốn đầu tư quy đổi (chưa bao gồm các dự án khu đô thị, khu nhà ở), bằng gần 83% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó cấp mới 19 dự án đầu tư trong nước với số vốn đăng ký đạt 4.844 tỷ đồng, gấp 3,27 lần so với cùng kỳ và 13 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với số vốn đăng ký đạt 158,7 triệu USD, bằng 26% so với cùng kỳ.

    Trong bối cảnh khó khăn chung, tổng vốn thu hút đầu tư toàn tỉnh thấp hơn cùng kỳ song Bắc Giang vẫn duy trì và đứng trong top các tỉnh dẫn đầu cả nước về tổng vốn thu hút đầu tư FDI (đứng thứ 7 cả nước về kết quả thu hút đầu tư nguồn vốn FDI). Bên cạnh đó, làn sóng dịch chuyển đầu tư sau dịch Covid-19 đã tác động tích cực, mở ra cơ hội thu hút được các dự án đầu tư chất lượng cao; đã có trên 500 doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia tìm hiểu và mong muốn đầu tư vào tỉnh.

    Đồng thời, với sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và sự vào cuộc tích cực của các cấp, các ngành nên Bắc Giang đã tạo được niềm tin từ các Nhà đầu tư, doanh nghiệp mong muốn được mở rộng đầu tư thông qua việc 6 tháng đầu năm 2022, tổng vốn điều chỉnh bổ sung toàn tỉnh của các dự án cao gấp 3,2 lần so với cùng kỳ.

    Trong 6 tháng đầu năm Bắc Giang đã thu hút được một số dự án có số vốn đầu tư lớn như: Dự án “Đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp Yên Lư” tại xã Yên Lư, huyện Yên Dũng với số với đăng ký là 2.692 tỷ đồng; dự án “Đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp Hòa Phú mở rộng giai đoạn 1” tại xã Mai Đình và xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa với số vốn đăng ký là 1.093 tỷ đồng.

    Những khó khăn cần tháo gỡ

    Nhìn nhận về công tác thu hút đầu tư, bên cạnh các kết quả đạt được thì công tác thu hút đầu tư của tỉnh trong thời gian qua còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế đó là, mặc dù tổng số vốn đăng ký mới của các dự án đầu tư trong nước cao hơn cùng kỳ nhưng số vốn đăng ký mới của các dự án FDI giảm nhiều so với cùng kỳ. Việc thu hút đầu tư chỉ được tập trung vào các khu công nghiệp (KCN) và một số huyện, thành phố ở địa bàn trung tâm và rất hạn chế ở khu vực các huyện miền núi như: Yên Thế, Sơn Động, Lục Ngạn. Bên cạnh đó, việc xem xét chấp thuận các dự án thuộc lĩnh vực thương mại, dịch vụ còn hạn chế. Thời gian giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) ở một số lĩnh vực liên quan, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư, đất đai còn kéo dài. Giá thuê hạ tầng trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh khá cao, phần nào hạn chế việc tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

    Việc thu hút đầu tư mới chỉ tập trung vào các khu công nghiệp và một số huyện, thành phố ở địa bàn trung tâm.

    Công tác phối hợp giữa các cơ quan trong việc giải quyết thực hiện các TTHC trong lĩnh vực đầu tư còn nhiều hạn chế. Vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, nhất là ở cấp huyện, cấp xã trong quá trình giải quyết, hỗ trợ cho doanh nghiệp, nhà đầu tư triển khai dự án, đặc biệt là trong công tác bồi thường, GPMB. Công tác bồi thường, GPMB của nhiều dự án còn gặp nhiều khó khăn, nhất là các dự án không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất.

    Bên cạnh đó, hiện nay quỹ đất công nghiệp sạch để thu hút đầu tư vào các KCN cơ bản đã hết; trong khi đó, công tác bồi thường, GPMB thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng các KCN tiến độ chậm so với kế hoạch. Môi trường đầu tư, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đã có nhiều cố gắng song chưa thực sự được cải thiện. Chưa thu hút được nhiều các dự án đầu tư lớn của các tập đoàn đa ngành, hoạt động xuyên quốc gia, có thương hiệu quốc tế.

    Nguyên nhân là do thời gian qua dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến chuỗi cung ứng sản xuất của các dự án cũng như việc thu hút các nhà đầu tư mới. Bên cạnh đó, tình hình căng thẳng về an ninh chính trị trên thế giới đang diễn ra cũng như cú sốc về việc tăng giá xăng, dầu những tháng gần đây đã ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các Nhà đầu tư, doanh nghiệp.

    Công tác cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh thời gian qua đã có nhiều cải thiện nhưng tốc độ cải thiện còn chậm. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền một số cơ quan, địa phương chưa thực sự nắm rõ, quyết liệt trong công tác cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

    Bên cạnh đó, vẫn còn hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm trong giải quyết TTHC, đặc biệt là những tình huống phát sinh ngoài quy định của pháp luật. Hiện nay, chưa có cơ chế kiểm soát giá cho thuê hạ tầng các khu, cụm công nghiệp làm hạn chế khả năng tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

    Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh

    Để tăng cường thu hút đầu tư, tỉnh Bắc Giang quyết tâm cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao thứ hạng chỉ số PCI. Tổ chức các hoạt động tiếp xúc, đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp, trong đó quan tâm tới doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tăng cường công tác vận động thu hút các đầu tư chất lượng. Tập trung đổi mới mạnh mẽ về tư duy, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức. Đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo hướng thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

    Đẩy nhanh tiến độ đầu tư, xây dựng hạ tầng các các KCN, CCN trên địa bàn tỉnh.

    Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng chính quyền điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình giải quyết các TTHC. Thực hiện nghiêm công tác kiểm soát việc tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC, đảm bảo công khai, minh bạch, đúng tiến độ, đúng quy định.

    Tập trung hoàn thành một số dự án trọng điểm; đẩy nhanh tiến độ triển khai các tuyến đường giao thông mang tính kết nối, mở rộng không gian mới để phát triển công nghiệp, dịch vụ.

    Đẩy nhanh tiến độ đầu tư, xây dựng hạ tầng các các KCN, CCN trên địa bàn tỉnh theo Quy hoạch tỉnh Bắc Giang đã được Thủ tướng phê duyệt, sớm đưa vào hoạt động, thu hút đầu tư, tạo động lực thúc đẩy phát triển KT-XH của tỉnh trong năm 2022 và thời gian tiếp theo. Trong đó tập trung bồi thường, GPMB các KCN Hòa Phú mở rộng giai đoạn 1, Quang Châu, Tân Hưng, Yên Lư theo kế hoạch đề ra; đẩy nhanh tiến độ chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN Yên Sơn – Bắc Lũng.

    Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư. Tích cực triển khai hỗ trợ đầu tư tại chỗ thông qua tìm hiểu, chia sẻ, trao đổi và cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư qua nhiều kênh thông tin. Đồng thời hướng dẫn và hỗ trợ các doanh nghiệp đang hoạt động đầu tư và kinh doạnh tại các KCN về các TTHC đảm bảo thuận lợi, nhanh chóng, kịp thời; tiếp nhận, xem xét và giải quyết theo thẩm quyền hoặc kiến nghị các ngành chức năng của tỉnh giải quyết các kiến nghị, phản ánh của doanh nghiệp.

    Tập trung hỗ trợ các nhà đầu tư tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư, nhất là đối với các dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, các dự án lớn trên địa bàn. Xác định quan điểm, thái độ làm việc rõ ràng đối với doanh nghiệp. Xử lý nghiêm các vi phạm, song luôn đồng hành, hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển. Tập trung tháo gỡ khó khăn về TTHC, trên cơ sở đó đẩy nhanh tiến độ thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức, doanh nghiệp nhằm đầu tư theo đúng quy định.

    Trong phiên họp thường kỳ UBND tỉnh tháng 6, sau khi đánh giá những kết quả đạt được và những khó khăn, hạn chế trong công tác thu hút đầu tư, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương đã chỉ đạo các ngành, địa phương cần quyết liệt trong chỉ đạo, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, khó khăn để thu hút đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và đầu tư xây dựng các khu, cụm công nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn./.

    Theo Bacgiang.gov.vn

  • Bắc Giang tăng tốc giải phóng mặt bằng các khu công nghiệp

    Hiện nay, các khu công nghiệp (KCN) cũ trong tỉnh Bắc Giang cơ bản được lấp đầy, thiếu quỹ đất sạch để thu hút đầu tư, nhất là thu hút các dự án lớn. Trước thực tế này, tỉnh chỉ đạo các địa phương có KCN mới hình thành và mở rộng dồn lực đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, bảo đảm lộ trình đề ra. 

    GPMB hàng trăm ha đất

    Theo Ban Quản lý Các KCN tỉnh, toàn tỉnh hiện có 8 KCN được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư. Trong đó 5 KCN đi vào hoạt động gồm: Đình Trám, Vân Trung, Quang Châu (Việt Yên), Song Khê – Nội Hoàng (Yên Dũng, TP Bắc Giang); KCN Hòa Phú (Hiệp Hòa). Cơ bản các KCN trên đã được lấp đầy, thiếu quỹ đất sạch thu hút đầu tư mới.

    Khu công nghiệp Hòa Phú đang được tiếp tục giải phóng mặt bằng phần mở rộng giai đoạn 1.

    Khu công nghiệp Hòa Phú đang được tiếp tục giải phóng mặt bằng phần mở rộng giai đoạn 1.

    Khắc phục tình trạng này, các địa phương tập trung phối hợp với chủ đầu tư hạ tầng đẩy nhanh tiến độ GPMB các KCN mới thành lập như: Tân Hưng (Lạng Giang), Yên Lư (Yên Dũng) và KCN Việt Hàn (Việt Yên), KCN Hòa Phú (mở rộng). Cuối tháng 11 năm ngoái, KCN Tân Hưng được Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng, quy mô hơn 105 ha thuộc địa bàn các xã: Xương Lâm và Tân Hưng. 

    Công ty cổ phần Lideco 1 (Hà Nội) là chủ đầu tư. Ngay sau khi được phê duyệt chủ trương đầu tư, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành quyết định thành lập KCN này, chỉ đạo huyện Lạng Giang phối hợp với cơ quan chức năng, chính quyền các cấp, người dân thực hiện GPMB. 

    Ông Nguyễn Văn Bằng, Chủ tịch UBND huyện cho biết, đến nay địa phương đã GPMB được 102,9 ha, trong đó UBND tỉnh đã cho thuê đất đợt đầu 72,6 ha. Tiến độ GPMB KCN Tân Hưng đáp ứng yêu cầu đề ra. Đối với phần diện tích “xôi đỗ” còn lại, huyện yêu cầu các phòng liên quan và chính quyền xã tuyên truyền, vận động người dân đồng thuận để bàn giao mặt bằng xong trong năm nay.

    Tại KCN Việt Hàn, đến nay huyện Việt Yên đã GPMB được 49,5/50 ha, đạt 99% tổng diện tích. Phần còn lại chưa GPMB liên quan đến 13 hộ có mộ cần di dời. Đại diện lãnh đạo huyện Việt Yên cho biết, trong số này có hộ chưa có quỹ đất di dời mộ và chưa đồng thuận di dời. Địa phương đang tháo gỡ vướng mắc, vận động các hộ di chuyển mộ ra khỏi diện tích đất công nghiệp. Chủ đầu tư san lấp mặt bằng 43/46 ha đất được thuê, phấn đấu thi công các hạng mục hạ tầng kỹ thuật để đưa KCN vào hoạt động, thu hút nhà đầu tư vào tháng 9 năm nay.

    Tương tự, huyện Yên Dũng bắt tay ngay vào việc GPMB KCN Yên Lư quy mô 377 ha ngay sau khi được phê duyệt. Theo lộ trình, giai đoạn 1 địa phương GPMB 163 ha đất thuộc các thôn: Yên Hồng, Yên Tập Bắc, Yên Tập, Yên Tập Bến, Long Trùng Vân xong trước ngày 30/9 năm nay. 

    Thời điểm này, huyện rà soát, kiểm đếm được 552/775 hộ, đồng thời xác minh chủ sử dụng và nguồn gốc đất của các hộ thuộc dự án để GPMB nhanh nhất. Ở mỗi thôn đều có tổ công tác đến từng nhà tuyên truyền, vận động bà con kê khai diện tích, kiểm đếm tài sản. Địa phương dự kiến bàn giao đất đợt 1 cho chủ đầu tư là Công ty cổ phần Bất động sản Capella (Hà Nội) vào tháng 10 năm nay.

    Quyết tâm thực hiện đúng lộ trình đề ra

    Tại phiên họp thường kỳ UBND tỉnh tháng 6 vừa qua, đồng chí Lê Ánh Dương, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ rõ, những tháng đầu năm nay, do thiếu quỹ đất tại các KCN nên trên địa bàn tỉnh không thu hút được dự án quy mô lớn. Trước thực tế này, đồng chí yêu cầu các địa phương dồn lực, tập trung cao đẩy nhanh tiến độ GPMB phần diện tích còn lại của dự án KCN mới thành lập và KCN mở rộng, sớm bàn giao quỹ đất cho nhà đầu tư.

    Đại diện chủ đầu tư và chính quyền địa phương trao đổi về công tác GPMB KCN Tân Hưng. Ảnh: Thành Nam.

    Đại diện chủ đầu tư và chính quyền địa phương trao đổi về công tác GPMB KCN Tân Hưng. Ảnh: Thành Nam.

    Theo đó, các giải pháp được tỉnh tập trung chỉ đạo như: Đối với từng KCN, UBND tỉnh đều ban hành kế hoạch GPMB cụ thể theo hình thức cuốn chiếu và chia làm một số đợt; định kỳ họp kiểm điểm tiến độ. Tỉnh thành lập Ban chỉ đạo (BCĐ) và tổ giúp việc BCĐ để theo dõi, đôn đốc kết quả triển khai các dự án, kịp thời nắm bắt khó khăn, vướng mắc, đề xuất với tỉnh xem xét có biện pháp xử lý từng trường hợp. 

    Thông thường, ở hầu hết các dự án hiện vẫn có các trường hợp khó xác định nguồn gốc; đất tranh chấp, chuyển nhượng không đúng quy định của pháp luật. Nhiều hộ dân chưa đồng thuận vì yêu cầu giá bồi thường cao hơn quy định. Tháo gỡ vướng mắc này, tỉnh đã yêu cầu các huyện, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp tuyên truyền, xác định nguồn gốc đất bảo đảm chính xác để GPMB.

    Về phía các địa phương có dự án KCN đều thành lập BCĐ GPMB do đồng chí Chủ tịch UBND huyện hoặc Bí thư Huyện ủy làm trưởng ban, trực tiếp nắm bắt, chỉ đạo thực hiện. Các huyện giao cho Trung tâm Phát triển quỹ đất và cụm công nghiệp huyện chủ trì công tác GPMB. 

    Ở các xã thành lập tiểu ban GPMB, thành phần gồm đồng chí bí thư, trưởng thôn, các ban, ngành, đoàn thể có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động tới người dân hiểu về mục đích, ý nghĩa của dự án để đồng thuận. 

    Các tiểu ban này phối hợp với xã, cơ quan chuyên môn của huyện rà soát, kiểm đếm, xác định nguồn gốc đất của hộ dân nhằm rút ngắn thời gian, đẩy nhanh tiến độ GPMB.

    Theo ông Hoàng Công Bộ, Chủ tịch UBND huyện Hiệp Hòa, thời điểm này cùng với việc chỉ đạo cơ quan chuyên môn, các xã tích cực vào cuộc GPMB phần diện tích “xôi đỗ” còn lại của KCN Hòa Phú, phấn đấu xong trong đầu quý III năm nay. Huyện đang thực hiện quyết liệt các giải pháp, phân công rõ nhiệm vụ cho các xã, phòng chuyên môn chủ trì, phấn đấu hoàn thành GPMB 85 ha diện tích mở rộng giai đoạn 1 của KCN này xong trước ngày 30/11 năm nay .

    Theo Báo Bắc Giang./.

  • Khởi công xây dựng cầu Đồng Việt và đường dẫn lên cầu nối Bắc Giang – Hải Dương

    Sáng nay 24/6, UBND tỉnh Bắc Giang tổ chức lễ khởi công dự án xây dựng cầu Đồng Việt và đường dẫn lên cầu thuộc gói thầu số 7, nối hai tỉnh Bắc Giang và Hải Dương.

    Tới dự có các đồng chí: Phan Thế Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo TP Chí Linh (Hải Dương), huyện Yên Dũng, chủ đầu tư, các nhà thầu thi công dự án, UBND các xã, thôn có dự án đi qua.

    Các đại biểu động thổ xây dựng cầu Đồng Việt.

    Cầu Đồng Việt có tổng mức đầu tư gần 1.500 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách tỉnh và trái phiếu chính quyền địa phương. Dự án do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh Bắc Giang làm chủ đầu tư.

    Cầu do liên danh Công ty cổ phần Phát triển xây dựng và Thương mại Thuận An – Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Trung Chính – Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và XNK 168 Việt Nam thi công; dự kiến hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2024.

    Cây cầu có thiết kế, quy mô thuộc diện hiện đại nhất tỉnh Bắc Giang và các tỉnh trong khu vực; điểm đầu (Km0+00) giao với đường ĐH.5B tại Km0+754,51 thuộc địa phận xã Cảnh Thụy (Yên Dũng) và đi qua Khu công nghiệp đô thị, dịch vụ Đức Giang, Khu công nghiệp đô thị, dịch vụ Đồng Phúc, vượt sông Thương (cách bến phà Đồng Việt khoảng 2,4 km về phía hạ lưu).

    Điểm cuối (Km8+590) kết nối với đường quy hoạch thuộc địa phận xã Hưng Đạo, TP Chí Linh (khớp nối với dự án đầu tư xây dựng đường dẫn cầu Đồng Việt kết nối với quốc lộ 37, TP Chí Linh do UBND tỉnh Hải Dương đầu tư).

    Cầu Đồng Việt dài hơn 730 m, kết cấu bê tông cốt thép và bê tông cốt thép dự ứng lực, tải trọng thiết kế HL93, mặt cầu rộng 22,5 m; mố, trụ cầu bằng bê tông cốt thép đặt trên hệ móng cọc khoan nhồi. Phần cầu chính gồm 2 nhịp dây văng, một mặt phẳng, phần cầu dẫn gồm 14 nhịp Super T.

    Phần đường dẫn lên cầu hai bên dài khoảng 7,86 km, quy mô đường cấp II đồng bằng, nền 22 m, mặt đường 21,5 m.

    Để xây dựng cầu Đồng Việt cần thu hồi hơn 32 ha đất nông nghiệp, đất ở thuộc 4 xã: Đồng Việt, Cảnh Thuỵ, Tư Mại, Đồng Phúc (Yên Dũng). Về phía Hải Dương cần thu hồi 1,5 ha đất nông nghiệp thuộc xã Hưng Đạo (TP Chí Linh).

    Đồng chí Nguyễn Văn Thạo, Giám đốc Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh tuyên bố khởi công cầu Đồng Việt.

    Đồng chí Nguyễn Văn Thạo, Giám đốc Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh cho biết, nhờ sự vào cuộc, quyết liệt, tích cực, tạo điều kiện của các cấp uỷ, chính quyền địa phương của huyện Yên Dũng và TP Chí Linh trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (GPMB), đến nay dự án được khởi công theo đúng kế hoạch. Thời gian thi công là 30 tháng.

    Đây là dự án đặc biệt quan trọng, công trình trọng điểm của tỉnh giai đoạn 2022-2025, là cây cầu dây văng đầu tiên và lớn nhất của tỉnh. Cây cầu được kỳ vọng thúc đẩy lưu thông hàng hóa, phát triển du lịch; tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp của tỉnh Bắc Giang. Đồng thời góp phần hoàn thiện hạ tầng giao thông theo định hướng quy hoạch phát triển giao thông – vận tải tỉnh Bắc Giang đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Mở rộng kết nối giữa tỉnh Bắc Giang với Hải Dương và các tỉnh, TP trong khu vực. 

    Đồng chí Phan Thế Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang phát biểu tại Lễ khởi công cầu Đồng Việt (Yên Dũng).

    Tại buổi lễ, đồng chí Phan Thế Tuấn cho biết, xác định đây là dự án quan trọng, UBND tỉnh đã chỉ đạo chủ đầu tư cùng các sở, ngành địa phương đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa công trình vào sử dụng. 

    Đồng chí biểu dương cán bộ và nhân dân huyện Yên Dũng, đồng thời cảm ơn cán bộ và nhân dân TP Chí Linh đã phối hợp với chủ đầu tư trong bồi thường, GPMB, chuẩn bị khởi công công trình.

    Đồng chí yêu cầu chủ đầu tư nêu cao trách nhiệm, chỉ đạo triển khai dự án theo đúng kế hoạch đề ra; chủ động phối hợp với các địa phương, nhà thầu giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc. Nhà thầu thi công cần chuẩn bị đầy đủ nhân lực, nguồn lực phục vụ thi công.

    UBND huyện Yên Dũng có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi giữ an ninh trật tự để các nhà thầu hoàn thành đúng tiến độ đã được phê duyệt; tiếp tục chỉ đạo cơ quan chuyên môn, các xã tích cực phối hợp với chủ đầu tư tuyên truyền vận động nhân dân ủng hộ, đồng thuận, sớm hoàn thành GPMB phần còn lại, bàn giao cho nhà thầu thi công.

    Phối cảnh cầu Đồng Việt.

    Đồng chí đề nghị lãnh đạo tỉnh Hải Dương và TP Chí Linh quan tâm hỗ trợ chủ đầu tư, các đơn vị tư vấn, thi công để dự án sớm hoàn thành; triển khai thi công phần đường dẫn phía Hải Dương đồng thời với các hạng mục phía Bắc Giang để bảo đảm kết nối giao thông liên tục, đồng bộ, nâng cao hiệu quả khai thác, đầu tư.

    Đồng chí tin tưởng, với sự quyết tâm từ các nhà thầu, chủ đầu tư cùng sự quan tâm từ lãnh đạo hai tỉnh, các sở ngành, TP Chí Linh, huyện Yên Dũng, chính quyền các xã và quan trọng hơn nữa là sự ủng hộ của nhân dân các địa phương liên quan, dự án sẽ sớm hoàn thành, bảo đảm chất lượng và vượt kế hoạch đề ra.

    Theo BGĐT

  • Bắc Giang quyết tâm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

    Bắc Giang quyết tâm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

    Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh phải là nhiệm vụ trọng tâm, từ cấp tỉnh đến cơ sở đều phải quyết tâm thực hiện và phải quyết liệt trong lãnh đạo chỉ đạo.

    Đó là khẳng định của ông Lê Ánh Dương Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang tại hội nghị “Phân tích chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2021 và giải pháp nâng cao chỉ số PCI năm 2022”.

    Hội nghị được tổ chức trực tiếp và trực tuyến 3 cấp, từ tỉnh tới các huyện, thành phố và tất cả các xã, thị trấn trong tỉnh. Đây là cơ hội tạo ra sức lan tỏa sâu rộng tới từng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động… về nhận thức và hành động trong việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

    Đây cũng là cơ hội để các cấp lãnh đạo đưa ra được các giải pháp tối ưu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, kiến tạo môi trường kinh doanh thực sự thông thoáng, minh bạch, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển và đặc biệt là xây dựng, củng cố được niềm tin giữa cộng đồng doanh nghiệp với các cấp chính quyền tỉnh Bắc Giang.

    Theo đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2021, Bắc Giang đạt 64,74 điểm, tăng 0,76 điểm so với năm 2020 (63,98 điểm), tuy nhiên thứ hạng PCI 2021 giảm 04 bậc (xếp hạng 31/63 tỉnh, thành phố).

    Ông Lê Ánh Dương – Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang

    Ông Lê Ánh Dương Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang cho biết, với mục tiêu xây dựng chính quyền liêm chính, kiến tạo, phục vụ, thân thiện, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân, doanh nghiệp đầu tư, sản xuất, kinh doanh, để Bắc Giang thực sự là điểm đến hấp dẫn, an toàn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, Bắc Giang đã đặt quyết tâm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2022 tối thiểu xếp thứ 25/63 tỉnh, thành phố.

    Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn nhận thì việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh còn chậm so với mức trung bình của cả nước và chưa thực sự đáp ứng yêu cầu. Những nỗ lực cải thiện chưa thực sự phát huy hiệu quả thực tiễn, còn rào cản, điểm nghẽn, bất cập trong quản lý, điều hành, thực thi công vụ, ông Lê Ánh Dương nêu rõ.

    Để cải thiện chỉ số PCI trong năm nay và những năm tiếp theo ông Dương cho rằng, các sở, ban, ngành địa phương cần có quyết tâm cao không thể chần chừ hay bằng lòng với kết quả hiện có. Năm 2022 Bắc Giang đặt ra mục tiêu nâng chỉ số PCI của tỉnh tối thiểu đứng thứ 25/63 tỉnh, thành phố và phấn đấu đến năm 2025 đứng trong top 15 cả nước. Theo ông Dương, để đạt được top 15, các đơn vị phải có sự đột phá trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

    Ông Đậu Anh Tuấn – Ủy viên ban thường trực, Phó tổng Thư ký VCCI

    Ông Đậu Anh Tuấn – Ủy viên ban thường trực, Phó tổng Thư ký VCCI cho biết, thời gian gần đây Bắc Giang có nhiều sự thay đổi tích cực, có thể nhìn thấy từ công tác lập quy hoạch và xây dựng kế hoạch hay dòng đầu tư từ nước ngoài vào Bắc Giang trong những năm gần đây tăng vọt. Đây là những chuyển biến rất nổi bật của Bắc Giang.

    Với kế hoạch đồng bộ và quyết tâm cao trong cải thiện môi trường đầu tư thì ông Đậu Anh Tuấn tin tưởng, Bắc Giang sớm trở thành điểm sáng trên bản đồ đầu tư của Việt Nam.

    Ông Hà Ngọc Hoa – Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Bắc Giang

    Với góc nhìn từ doanh nghiệp ông Hà Ngọc Hoa, Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Bắc Giang cho rằng, trong những năm qua, chính quyền tỉnh Bắc Giang đã không ngừng nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh.

    “Thông qua hội nghị này chúng tôi tin rằng, các cấp chính quyền cũng như các doanh nghiệp hiểu rõ hơn và có cái nhìn tổng quan hơn về môi trường đầu tư kinh doanh tại tỉnh. Chúng tôi kỳ vọng những năm tới chỉ số PCI sẽ được nâng cao và môi trường đầu tư kinh doanh tại Bắc Giang thực sự sẽ được cải thiện. Điều này giúp cho cộng đồng doanh nghiệp chúng tôi thuận lợi hơn trong công việc, qua đó có nhiều cống hiến tốt hơn cho sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà”, ông Hoa nói.

    Theo Tạp chí Diễn đàn doanh nghiệp./.

  • Chuyển đổi số – Chìa khoá phát triển ngành logistics

    Được xem là ngành xương sống của nền kinh tế, các doanh nghiệp logistics tại Hải Phòng đang tập trung ứng dụng chuyển đổi số để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số và hội nhập kinh tế, quốc tế.

    Xu hướng tất yếu

    Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, hiện nay các doanh nghiệp logistics Việt Nam đang cung cấp từ 2-17 dịch vụ logistics khác nhau. Trong đó chủ yếu là dịch vụ giao nhận, vận tải kho hàng, chuyển phát nhanh và khai báo hải quan. Hiện 50%-60% doanh nghiệp đang ứng dụng các loại hình công nghệ khác nhau, tuỳ theo quy mô và tính chất dịch vụ của từng doanh nghiệp.

    Hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào logsitics đã được chứng minh trong thực tế như tại các công ty trong lĩnh vực cảng biển, sau khi áp dụng công nghệ điều hành quản lý sản xuất tiên tiến đã giúp giảm trên 50% thời gian tàu nằm bến, giảm 3/4 thời gian giao nhận hàng hoá.

    Các doanh nghiệp logistics Việt Nam đang cung cấp từ 2-17 dịch vụ logistics khác nhau

    Các doanh nghiệp logistics Việt Nam đang cung cấp từ 2-17 dịch vụ logistics khác nhau

    Còn tại Hải Phòng, logistics được xem là ngành dịch vụ thiết yếu, mũi nhọn; là nền tảng cho phát triển thương mại. Để phát triển ngành dịch vụ này, 3 trọng tâm logistics của Hải Phòng là dịch vụ cảng; kho bãi, xử lý; trung chuyển – dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ cao, đội ngũ vận hành chuyên nghiệp.

    Hiện nay, trước tình trạng cạnh tranh và bùng nổ kinh tế số, cùng với thương mại điện tử ngày càng phát triển mạnh, các doanh nghiệp logistics tại Hải Phòng đã phần nào nhận thức, đẩy nhanh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ 4.0 vào hoạt động kinh doanh. Qua đó, tối ưu hoá trong các dây chuyền sản xuất, cung ứng sản phẩm.

    Theo ông Cáp Trọng Cường – Giám đốc Công ty CP Cảng xanh VIP: Chỉ có chuyển đổi số thì các nhà hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động trong chuỗi cung ứng logistics mới có thể giảm chi phí được. Nếu chúng ta số hoá được thì sẽ tiến tới chuyển đổi số tốt. Như vậy, tất cả các doanh nghiệp đều được hưởng lợi từ việc này bởi vì chúng ta sẽ tiết kiệm được nhân lực, thời gian.

    Doanh nghiệp ứng dụng chuyển đổi số vào việc quản lý phương tiện ra vào cảng

    Các phương tiện ra vào cảng Tân Vũ làm hàng đều được kiểm soát chặt chẽ thông qua phần mềm quản lý thông minh

    Còn theo đại diện Công ty CP Cảng Hải Phòng: Thời gian vừa qua, công ty đã đẩy mạnh việc phục vụ khách hàng thông qua các phần mềm điện tử như e-Port. Với việc áp dụng phần mềm điện tử này, quá trình giao nhận, thanh toán điện tử và giao nhận hàng hóa thuận tiện theo hướng đơn giản, nhanh chóng. Từ đó, giảm thời gian khách hàng trực tiếp đến giao dịch tại cảng; giảm thời gian xe dừng đỗ tại các cổng cảng làm thủ tục và giảm ách tắc giao thông tại cổng cảng.

    Trong thời gian tới, khi các chi nhánh cảng khác trong công ty được đầu tư hệ thống công nghệ thông tin đồng bộ và đáp ứng được yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật cũng như kết nối thông tin, Cảng Hải Phòng sẽ xây dựng kế hoạch để triển khai ePort rộng rãi trong toàn công ty.

    Cần sự kết nối đồng bộ

    Từ năm 2019, TP Hải Phòng đã phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống dịch vụ logistics TP Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, đến năm 2030, Hải Phòng sẽ có 6 trung tâm logistics. Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị cũng đã đặt mục tiêu xây dựng và phát triển TP Hải Phòng thành trung tâm dịch vụ logistics trọng điểm quốc gia và quốc tế. Theo đó, đến năm 2025, sản lượng hàng hoá thông qua các cảng trên địa bàn TP Hải Phòng đạt 300 triệu tấn; có từ 1-3 khu dịch vụ logistics cấp quốc gia; tăng trưởng dịch vụ logistics đạt khoảng 30% – 35%/năm…

    Tuy nhiên, theo các chuyên gia nhận định, để Hải Phòng trở thành trọng điểm dịch vụ logistics quốc gia và trung tâm dịch vụ logistics quốc tế, địa phương này cần tiếp tục phát triển đồng bộ về hạ tầng giao thông và chuyển đổi số mạnh mẽ hơn nữa.

    Theo ông Ngô Trung Hiếu – Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng, để hiện thực hóa mục tiêu đưa hàng hóa từ các trung tâm logistics thuộc khu vực kinh tế phía Bắc đến và rời cảng Hải Phòng nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm, TP Hải Phòng cần triển khai mạnh mẽ cơ chế một cửa quốc gia, cải cách thủ tục hành chính. Đồng thời, hỗ trợ kết nối cho doanh nghiệp với các chủ hàng, phát triển sàn giao dịch vận tải nhằm kết nối tốt nhất các chủ hàng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics, tạo cơ sở cho doanh nghiệp logistics Việt Nam tham gia nhiều hơn vào chuỗi cung ứng.

    Việc ứng dụng chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất kinh doanh giúp giảm chi phí, thời gian đi lại cho các doanh nghiệp

    Việc ứng dụng chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất kinh doanh giúp giảm chi phí, thời gian đi lại cho các doanh nghiệp logisitics

    Thực tế hiện nay, việc chuyển đổi số trong lĩnh vực logistics đang gặp không ít các khó khăn. Hầu hết các vấn đề cản trở sự chuyển động của ngành logistics là sự thiếu tính kết nối trong hệ thống, chất lượng dịch vụ không cao. Ngoài ra, khoảng hơn 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong việc lựa chọn công nghệ phù hợp với hoạt động dịch vụ của doanh nghiệp.

    Theo ông Lê Mạnh Cương – Phó Chủ tịch Hiệp hội logistics Hải Phòng: “Công tác chuyển đổi số bao hàm rất lớn, rộng chứ không đơn thuần chỉ dùng máy tính hay điện thoại để chuyển đổi số. Chúng tôi đã ý kiến lên cấp lãnh đạo thành phố và các sở, ban, ngành, đặc biệt là thông qua cầu nối Sở Thông tin và Truyền thông Hải Phòng làm thế nào để tạo điều kiện cho phía doanh nghiệp có nhiều buổi toạ đàm, chia sẻ, thậm chí là nhiều buổi để được đi truyền thông trực tiếp từ các doanh nghiệp với các doanh nghiệp. Bởi qua những buổi thực tế đó, chúng tôi sẽ hiểu rõ hơn về việc chuyển đổi số, công tác chuyển đổi số”.

    Khu vực trung tâm điều khiển thuộc cảng Tân Vũ, Hải Phòng

    Khu vực trung tâm điều khiển thuộc cảng Tân Vũ, Hải Phòng

    Ông Hoàng Minh Cường – Phó chủ tịch UBND TP Hải Phòng cho biết, đón đầu xu hướng chuyển đổi số, Ban Thường vụ Hải Phòng đã ban hành nghị quyết, đặt mục tiêu đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 kinh tế số chiếm 35% GRDP thành phố; năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 16%; tạo ra các giá trị tăng trưởng mới từ kinh tế số với ba trụ cột kinh tế, gồm: công nghiệp công nghệ cao, cảng biển logistics và du lịch – thương mại.

    “Vừa qua, TP Hải Phòng đã triển khai hàng loạt các hoạt động truyền thông, hội thảo, hội nghị, chương trình xúc tiến giới thiệu, liên kết trên nhiều lĩnh vực để thúc đẩy chuyển đổi số mạnh mẽ trên cả 3 trụ cột chính quyến số, kinh tế số, xã hội số”, ông Cường cho biết cho biết thêm.

    Theo Tạp chí Diễn đàn doanh nghiệp.

  • Mời tham dự “Phân tích chỉ số PCI năm 2021 và giải pháp nâng cao chỉ số PCI năm 2022 tỉnh Bắc Giang”

    Mời tham dự “Phân tích chỉ số PCI năm 2021 và giải pháp nâng cao chỉ số PCI năm 2022 tỉnh Bắc Giang”

    Trong những năm qua, chính quyền tỉnh Bắc Giang đã không ngừng nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh. Những quyết tâm ấy được thể hiện qua Nghị quyết số 105/NQ-TU của Ban thường vụ Tỉnh ủy về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giai đoạn 2021-2025 với mục tiêu đến năm 2025 quy mô GRDP và xếp hạng chỉ số PCI nằm trong nhóm 15 tỉnh/thành phố dẫn đầu cả nước.

    Với tinh thần quyết tâm cao độ, tỉnh Bắc Giang đã liên tục bứt phá vươn lên để đạt được nhiều thành tựu nổi bật như: Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2021 nằm trong nhóm 10 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước; 6 tháng đầu năm 2022 cao nhất cả nước, đạt 24,03%.

    Để đạt được những con số ấn tượng trên, đó là kết quả của sự vào cuộc quyết liệt và đồng bộ của các cấp ủy đảng, chính quyền trong quản lý, điều hành, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đồng hành cùng doanh nghiệp thông qua nhiều việc làm cụ thể, thiết thực. Qua đó, điểm số PCI của tỉnh trong những năm trở lại đây liên tục tăng và nằm trong nhóm tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành khá trên bảng xếp hạng. Tuy vậy, những con số này vẫn chưa đạt được kỳ vọng của chính quyền tỉnh.

    Với mong muốn tạo sự chuyển biến sâu sắc hơn nữa về nhận thức và hành động của các cấp, các ngành trong thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh và tạo lập môi trường kinh doanh thực sự thông thoáng, minh bạch nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển; xây dựng được niềm tin giữa cộng đồng doanh nghiệp với các cấp chính quyền; nâng cao ý thức về vai trò và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong nhận thức và hành động về cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao thứ hạng, điểm số PCI của tỉnh Bắc Giang, ngày 24/6 tới đây, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang phối hợp với Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội nghị Phân tích chỉ số PCI năm 2021 và giải pháp nâng cao chỉ số PCI năm 2022 tỉnh Bắc Giang”.

    Hội nghị dự kiến được tổ chức trực tiếp và trực tuyến trên nền tảng zoom với quy mô lớn nhất từ trước tới nay, lên tới trên 5.000 đại biểu với hơn 200 điểm cầu. Có thể nói, đây là hội nghị với sự tham gia của toàn thể bộ máy chính quyền từ cấp tỉnh tới cấp thôn, tổ dân phố cùng cộng động doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

    Trân trọng kính mời các cán bộ, công nhân viên chức, người lao động, các quý doanh nghiệp và toàn thể nhân dân tham dự hội nghị qua nền tảng trực tuyến zoom tại địa chỉ: Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại Trung tâm hội nghị tỉnh và trực tiếp trên nền tảng zoom tại địa chỉ sau: https://us02web.zoom.us/j/81038167947?pwd=a3d4OFZpcytIbC9vUWVKQmFibERsQT09

    Meeting ID: 810 3816 7947

    Passcode: Pci@123

    Hoặc quét mã QR tại trên ảnh.

    Trân trọng cảm ơn.