Danh mục: Chưa phân loại

  • Hơn 27.200 tổ công nghệ số cộng đồng hỗ trợ người dân chuyển đổi số

    Hơn 27.200 tổ công nghệ số cộng đồng hỗ trợ người dân chuyển đổi số

    Theo thống kê từ Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến ngày 14/6, 34 trong số 63 tỉnh, thành phố trên cả nước đã thành lập hơn 27.200 tổ công nghệ số cộng đồng với trên 130.480 thành viên tham gia để hỗ trợ người dân chuyển đổi số bằng các nền tảng.

    Chú thích ảnh

    Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại, Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn hỗ trợ kết nối, chào bán và đăng thông tin về sản phẩm Hồng Vành Khuyên trên mạng xã hội và trên các sàn giao dịch thương mại điện tử như: Facebook, Zalo, Voso, sàn giao dịch thương mại điện tử tỉnh Lạng Sơn ECLS. Ảnh minh họa: Anh Tuấn/TTXVN

    Đến thời điểm này, 10 địa phương gồm: Bắc Giang, Lạng Sơn, Lai Châu, Hậu Giang, Hải Dương, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Phòng và Thái Nguyên đã hoàn thành 100% cấp xã có tổ công nghệ số cộng đồng. Đại diện Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, các tổ công nghệ số cộng đồng được coi là cánh tay nối dài của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số và tại địa phương là cánh tay nối dài của chính quyền, Ban Chỉ đạo chuyển đổi số tỉnh, để thực hiện các nhiệm vụ chuyển đổi số của quốc gia, của tỉnh, huyện, xã, phường, thôn, phố. Tổ công nghệ số cộng đồng hướng tới thúc đẩy chuyển đổi số, đưa người dân lên môi trường số, người dân tiên phong sử dụng nền tảng số, công nghệ số, qua đó sẽ trở thành tác nhân thúc đẩy chính quyền chuyển đổi số mạnh mẽ.

    Là một trong những địa phương triển khai chương trình Tổ công nghệ số, lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông Lạng Sơn cho biết, từ ngày 12/5 đến nay, Tổ công nghệ số cộng đồng tại Lạng Sơn đã tập trung “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người” hướng dẫn, hỗ trợ người dân cài đặt và sử dụng nền tảng “Công dân số Xứ Lạng” và các ứng dụng thương mại số, thanh toán số. Với sự tham gia của lực lượng này, đến ngày 8/6, Lạng Sơn đã phát triển được hơn 8.140 tài khoản “Công dân số Xứ Lạng”, hơn 19.870 tài khoản thương mại số, hơn 1.370 tài khoản thanh toán điện tử, hơn 126.560 cửa hàng số. Tính đến tháng 6/2022, Lạng Sơn đã lập hơn 1.680 tổ công nghệ cộng đồng, với trên 7.770 thành viên. Tỉnh đã hoàn thành sớm chỉ tiêu 50% số hộ gia đình có cửa hàng số, tài khoản thanh toán điện tử. Đây là kết quả của việc triển khai mô hình Tổ công nghệ số cộng đồng đóng góp vào chuyển đổi số địa phương, nhất là phát triển kinh tế số trên địa bàn.

    Tại Thái Nguyên, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đang triển khai thử nghiệm mô hình Tổ công nghệ số cộng đồng. Đến cuối tháng 5/2022, tỉnh đã thành lập hơn 2.250 tổ công nghệ số cộng đồng, với gần 17.000 thành viên để hỗ trợ người dân trên địa bàn tham gia chuyển đổi số.

    Để thúc đẩy các địa phương triển khai hiệu quả mô hình Tổ công nghệ số cộng đồng, thời gian tới, Cục Tin học hóa sẽ phối hợp chặt chẽ với các địa phương, tiếp tục đôn đốc khẩn trương thành lập Tổ công nghệ số cộng đồng. Đồng thời, Cục Tin học hóa đề nghị các địa phương tuyên truyền kênh Zalo đến các thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng tham gia kênh chuyển đổi số quốc gia; tăng cường phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Phát triển Khoa học, Công nghệ và Tài năng trẻ thuộc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kiến thức, kỹ năng cho thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng và đội ngũ cán bộ Đoàn của tỉnh, thành phố. Đồng thời, Cục Tin học hóa sẽ tiến hành xây dựng tài liệu hướng dẫn các thành viên Tổ Công nghệ số cộng đồng triển khai các nền tảng số quốc gia phục vụ người dân.

    Theo Ngọc Bích TTXVN

  • Khu công nghiệp Việt Nam chưa hấp dẫn các “đại gia” đến từ Châu Âu và Bắc Mỹ

    Khu công nghiệp Việt Nam chưa hấp dẫn các “đại gia” đến từ Châu Âu và Bắc Mỹ

    Hoạt động đầu tư vào các khu công nghiệp của Việt Nam chủ yếu là từ các nước Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc… chưa thu hút được các nhà đầu tư lớn từ Châu Âu và Bắc Mỹ.

    Thông tin được ông  Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa ra tại hội thảo “Lộ trình và những lưu ý cho nhà đầu tư khi đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất”, diễn ra vào ngày 6/9 do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC) phối hợp với Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) tổ chức.

    Thiếu các khu công nghiệp lớn

    Theo ông Đặng Hùng Võ, các khu công nghiệp của Việt Nam đã được nhà nước quan tâm ngay sau khi đất nước thống nhất. Sau đổi mới, phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế được coi là chính sách trọng điểm của Việt Nam, nhất là chủ trương kêu gọi đầu tư nhằm phát triển nền kinh tế mở.

    Kể từ 2001, chính sách phát triển các khu kinh tế cửa khẩu và khu kinh tế ven biển đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều Quyết định. Từ 1987, Luật Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được ban hành cùng với Luật Đất đai được coi là 2 Luật ban hành đầu tiên sau đổi mới. Từ đó đến nay, các chính sách ưu đãi đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp từ nước ngoài được liên tục đổi mới. Đến 2008, Nghị định đầu tiên của Chính phủ về quản lý khu công nghiệp được ban hành, ngày càng được đổi mới, nhất là Nghị định 35 mới được ban hành vào năm 2022.

    a
    Khu chế xuất Tân Thuận được coi như khu chế xuất đầu tiên được thành lập vào năm 1991. Ảnh: Lê Toàn

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Ông Võ cho rằng các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài đang quan tâm đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam. Điều này thể hiện qua tỷ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp đang ngày càng tăng lên.

    Theo ông, nếu như trước căng thẳng Mỹ – Trung, tỷ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp Việt Nam chỉ khoảng 50% thì do nhu cầu chuyển dịch chuyển cung ứng, các nhà đầu tư không đặt nhà máy tại Trung Quốc nữa thì tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp tại Việt Nam tăng lên khoảng 60%, những nơi năng động như Đông Nam Bộ, trong đó có TP.HCM, tỷ lệ lấp đầy có thể lên đến 70%.

    Ngoài ra, giá thuê đất tại các khu công nghiệp cũng tăng khoảng 15%. Đây là các dấu hiệu cho thấy đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam đang khả quan.

    Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện cả nước đã thành lập được 335 khu công nghiệp với tổng diện tích 97,84 nghìn ha, trong đó 260 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động và 75 khu công nghiệp đang trong quá trình xây dựng cơ bản. Tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp đạt 53,5%, riêng các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động có tỷ lệ lấp đầy đạt hơn 76,10%. Bên cạnh đó, cả nước hiện có 17 Khu kinh tế được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước gần 850 nghìn ha.

    Tuy nhiên, khi nhìn lại việc phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, ông Võ cho rằng khu công nghiệp Việt Nam vẫn chưa thu hút được những “đại gia” lớn trên thế giới, nhất là các doanh nghiệp đến từ từ Châu Âu và Bắc Mỹ.

    “Đến nay, đầu tư vào các khu công nghiệp của Việt Nam chủ yếu là từ các nước Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc…, chưa thu hút được các nhà đầu tư lớn từ châu Âu và Bắc Mỹ. Mặt khác, các khu công nghiệp lớn của Việt Nam còn quá ít, nhất là các khu hỗn hợp công nghiệp, đô thị, dịch vụ”, ông Võ nói và dẫn chứng, nếu so sánh với khu công nghiệp SHXIP ở Thượng Hải, thì khu công nghiệp Việt Nam chưa có đầu mối khu vực, chưa có Trung tâm nghiên cứu phát triển; chưa có nhà đầu tư trong danh sách 500 doanh nghiệp của thế giới trong khi khu công nghiệp SHXIP có tới 52 nhà đầu tư trong top 500…

    Chú trọng phát triển hạ tầng dịch vụ, kết nối

    Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) cho rằng, việc phát triển khu công nghiệp của Việt Nam còn gặp nhiều hạn chế, các nhà đầu tư chưa được trợ giúp nhiều trong việc hướng dẫn quy trình để hưởng những chế độ ưu đãi đầu tư, kinh doanh…; khu công nghiệp được quy hoạch khá dàn trải, chưa bám sát nhu cầu thực tiễn, định hướng và khả năng thu hút đầu tư.

    a

    Ông Đặng Hùng Võ cho rằng, đầu tư vào các khu công nghiệp của Việt Nam hiện nay chủ yếu là từ các nước Singapore, Nhật Bản,

    Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc), chưa thu hút được các nhà đầu tư lớn từ châu Âu và Bắc Mỹ. Ảnh: Trọng Tín

    Ngoài ra, ông Lộc cho rằng nhiều địa phương suy nghĩ đơn giản, coi khu công nghiệp chỉ đơn thuần là cung cấp mặt bằng, nhà xưởng chứ chưa xây dựng, có tầm nhìn quy hoạch thành hệ sinh thái bền vững, kết hợp hài hòa kinh tế với môi trường, là khu vực hỗ trợ kinh doanh đạt chuẩn quốc tế… Thúc đẩy phát triển khu công nghiệp thành hệ sinh thái còn là thách thức lớn cho việc đầu tư phát triển, nâng cấp khu công nghiệp tại Việt Nam.

    Trước mắt, để giữ chân và thu hút nhà đầu tư trong tương lai, theo ông Lộc, ban quản lý khu công nghiệp cần rà soát, xem xét các vướng mắc để tháo gỡ cho nhà đầu tư. Chúng ta đang có cơ hội đón nhận nhà đầu tư mới nên cần có những ứng xử tốt hơn, để tranh thủ tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc lại. Cần có nhiều cải cách về thể chế, giải pháp nâng cấp dịch vụ trong khu công nghiệp tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, tận dụng “cơ hội vàng” trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang định vị lại.

    Cùng quan điểm, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC), ông Nguyễn Tuấn, đánh giá với vai trò đầu tàu kinh tế cả nước và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cơ sở hạ tầng đồng bộ, khoa học công nghệ phát triển, lực lượng lao động có tay nghề và trình độ kiến thức chuyên môn cao, tính đến nay TP.HCM là một trong những địa phương có lượng thu hút vốn FDI cao nhất với gần 11.000 dự án và tổng vốn đầu tư đạt gần 54 tỷ USD.

    “Khi nền kinh tế mở lại sau dịch, kinh tế phục hồi như chiếc lò xo bị nén, các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất”, ông Tuấn nói.

    Doanh nghiệp cần nhân lực chất lượng cao

    Ông Kenji Usuda, Tổng giám đốc Công ty Kyouwa cho rằng khi mới bắt đầu đầu tư, các công ty nên xây dựng lộ trình rõ ràng. Bước đầu nên thuê nhà xưởng và mở rộng dần thay vì đầu tư nhà máy.

    Ông Kenji Usuda cho biết trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, công ty cũng phải nhiều khó khăn, nổi bật là vấn đề tiếp cận thông tin đầu tư và nguồn nhân lực. Do đó, để thu hút được các nhà đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất thì Việt Nam cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

    “Đối với các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào Việt Nam, thành công hay không là do có phát triển được đội ngũ nhân lực cốt lõi hay không. Bởi khi đã đầu tư tại đây thì phải làm sao để sử dụng được tất cả các nguồn lực tại chỗ. Phải làm sao để người Việt Nam vận hành được máy móc của Nhật để sản xuất ra sản phẩm tại Việt Nam chứ không phải đem bao nhiêu người Nhật qua”, ông Kenji Usuda nhấn mạnh.

    Theo baodautu.vn

  • Tiếp tục duy trì và cải thiện chỉ số PAR Index, chỉ số SIPAS tỉnh Bắc Giang năm 2022

    Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, năm 2021 chỉ số PAR Index tỉnh Bắc Giang đạt 88,65/100 điểm, đứng thứ 07/63 tỉnh, thành phố, tăng 6 bậc so với năm 2020 (năm 2020 đạt 85,58 điểm, xếp thứ 13/63 tỉnh, thành phố). Chỉ số SIPAS của tỉnh Bắc Giang đạt 90,01%, đứng thứ 8/63 tỉnh, thành phố, giảm 05 bậc so với năm 2020 (năm 2020 đạt 92,54%, đứng thứ 3/63 tỉnh, thành phố).

    Công dân giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh.

    Đạt được kết quả trên là nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự vào cuộc tích cực của các cấp, các ngành. Tuy nhiên, tại một số sở, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện (gọi tắt là cơ quan, địa phương) còn chưa bám sát các nhiệm vụ CCHC, dẫn tới một số tiêu chí, tiêu chí thành phần của chỉ số PAR Index, chỉ số SIPAS năm 2021 bị giảm điểm. Để sử dụng có hiệu quả các Chỉ số này và khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, tại Kế hoạch số 2265/KH-UBND ngày 11/6/2022, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu:

    Thứ nhất, các cơ quan, địa phương chủ động thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh giao đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng. Văn phòng UBND tỉnh có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc và đề xuất các biện pháp, giải pháp đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ 100% nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.

    Sau khi có thông báo kết luận kiểm tra của Đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán các cơ quan, địa phương cần làm báo cáo nêu rõ ràng cách thức khắc phục đối với từng vấn đề đã được Đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chỉ ra trong thông báo kết luận. Báo cáo khắc phục gửi đúng thời gian theo yêu cầu của Đoàn kiểm tra. Trường hợp báo cáo khắc phục chưa rõ ràng, Đoàn kiểm tra có trách nhiệm yêu cầu cơ quan, địa phương báo cáo lại.

    Thứ hai, các sở, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh kịp thời tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh công bố thủ tục hành chính (TTHC), danh mục TTHC đúng quy định và công khai TTHC trên Cổng thông tin điện tử, Cổng dịch vụ.

    Giải quyết hồ sơ TTHC đảm bảo trước và đúng hạn, không để xảy ra tình trạng quá hạn, gây phiền hà, sách nhiễu cho người dân, tổ chức. Trường hợp cơ quan, địa phương để xảy ra tình trạng hồ sơ quá hạn thì người đứng đầu cơ quan, địa phương có trách giải trình đối với từng hồ sơ quá hạn. Hồ sơ khi có kết quả giải quyết phải kết thúc ngay trên phần mềm; trường hợp không kết thúc, để phần mềm báo quá hạn thì coi như hồ sơ quá hạn và phải xem xét trách nhiệm.

    Thứ ba, các cơ quan, địa phương tập trung cao giải ngân vốn ngân sách nhà nước; thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các kiến nghị đã được các cơ quan kiểm toán, thanh tra, kiểm tra tài chính chỉ ra; xây dựng báo cáo khắc phục những tồn tại hạn chế đã được chỉ ra sau khi có thông báo kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.

    Thứ tư, các cơ quan, địa phương tham mưu, đề xuất những giải pháp nhằm thu hút nhà đầu tư và tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích các doanh nghiệp đến đầu tư; nâng cao kỷ luật, kỷ cương của đội ngũ cán bộ, công chức tại Bộ phận Một cửa các cấp; thực hiện nghiêm Thông báo kết luận số 233/TB-UBND ngày 20/5/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh tại buổi làm việc về công tác cải cách TTHC trên địa bàn tỉnh.

    Ngoài ra, thủ trưởng các cơ quan, địa phương căn cứ kết quả từng tiêu chí, tiêu chí thành phần Chỉ số PAR Index và kết quả Chỉ số SIPAS năm 2021 đã được Bộ Nội vụ công bố, tiếp tục cải thiện, phát huy hơn nữa những tiêu chí, tiêu chí thành phần đạt kết quả và điểm số tốt; tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ người dân, tổ chức.

    Xem chi tiết Kế hoạch tại đây./.

  • Nâng cao Chỉ số chuyển đổi số tỉnh Bắc Giang

    Nâng cao Chỉ số chuyển đổi số tỉnh Bắc Giang

    Chủ tịch UBND tỉnh vừa ban hành Kế hoạch số 2663/KH-UBND ngày 11/6/2022 về nâng cao Chỉ số chuyển đổi số tỉnh Bắc Giang năm 2022 và các năm tiếp theo.

    Kế hoạch nhằm đánh giá hiện trạng thực hiện chuyển đổi số hằng năm của tỉnh; thực hiện các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong các nghị quyết, kế hoạch của tỉnh Bắc Giang về chuyển đổi số hằng năm, giai đoạn 2021-2025 và nâng cao Chỉ số chuyển đổi số tỉnh Bắc Giang.

    Ảnh minh họa

    Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức về chuyển đổi số

    Xây dựng chuyên trang cấp tỉnh về chuyển đổi số và cập nhật thông tin trung bình 01 lần/tuần; xây dựng chuyên mục về chuyển đổi số trên Cổng Thông tin điện tử tỉnh và cập nhật tin, bài về chuyển đổi số ít nhất 20 tin, bài/năm.

    Các cơ quan báo chí của tỉnh có chuyên mục riêng về chuyển đổi số; Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh có chuyên mục riêng về chuyển đổi số và tần suất phát sóng chuyên mục riêng về chuyển đổi số từ 01 lần/tuần; Hệ thống truyền thanh cơ sở có chuyên mục riêng về chuyển đổi số và tần suất phát sóng chuyên mục riêng về chuyển đổi số từ 01 lần/tuần.

    Ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản, chính sách về chuyển đổi số

    Xây dựng kế hoạch hành động hằng năm của tỉnh về chuyển đổi số; kiến trúc Chính quyền điện tử phiên bản mới nhất theo Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam; ban hành chính sách tỷ lệ chi Ngân sách nhà nước tối thiểu hằng năm cho chuyển đổi số; ban hành chính sách thuê chuyên gia chuyển đổi số; ban hành chính sách khuyến khích người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến (DVCTT); ban hành chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; ban hành văn bản định kỳ hằng năm nhắc nhở, chấn chỉnh quản lý chi cho chuyển đổi số.

    Bổ sung chức năng nhiệm vụ của Sở Thông tin và Truyền thông phù hợp với nhiệm vụ mới theo chủ trương chuyển đổi số, xây dựng, triển khai hạ tầng số, công nghệ số, nền tảng số.

    Các nền tảng số được triển khai đều ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI)

    Triển khai Trung tâm dữ liệu phục vụ chuyển đổi số theo hướng sử dụng công nghệ điện toán đám mây đạt tiêu chuẩn; các nền tảng số dùng chung trên Trung tâm THDL của tỉnh: (1) Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp tỉnh (LGSP); (2) Nền tảng phân tích, xử lý dữ liệu tổng hợp tập trung; (3) Nền tảng số quản trị tổng thể, thống nhất toàn tỉnh phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành và quản trị nội bộ của cơ quan nhà nước; (4) Nền tảng họp trực tuyến; (5) Nền tảng giám sát trực tuyến phục vụ công tác quản lý nhà nước; (6) Nền tảng trợ lý ảo phục vụ người dân, doanh nghiệp; (7) Nền tảng trợ lý ảo phục vụ công chức, viên chức.  Các nền tảng số được triển khai đều ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI).

    Thực hiện phổ cập điện thoại thông minh giá rẻ cho người dân trên địa bàn tỉnh đảm bảo: 100% dân số trưởng thành có điện thoại thông minh; 100% hộ gia đình có điện thoại thông minh; 100% hộ gia đình có kết nối internet băng rộng.

    Bố trí đủ cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin, chuyển đổi số

    Triển khai thành lập và tổ chức hoạt động các Tổ công nghệ số cộng đồng (CNSCĐ) đến cấp xã, cấp thôn; đảm bảo 100% các xã thành lập Tổ CNSCĐ, khuyến khích cấp thôn thành lập Tổ CNSCĐ.

    Bố trí đủ cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin, chuyển đổi số, an toàn thông tin mạng trong các cơ quan nhà nước để phục vụ triển khai chuyển đổi số.

    Tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về chuyển đổi số,  phổ cập kỹ năng số cơ bản cho người dân trên nền tảng OneTouch, tiển khai bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng số cho người lao động trong độ tuổi lao động.

    Đẩy mạnh chuyển đổi số trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các cơ sở giáo dục từ tiểu học đến trung học phổ thông về chuyển đổi số (hoàn thiện được mô hình quản trị số, hoạt động số, chuẩn hóa dữ liệu số, kho học liệu số mở).

    Bảo đảm an toàn thông tin mạng

    Thực hiện cài đặt phòng, chống mã độc và chia sẻ thông tin với Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia cho 100% máy chủ và máy trạm của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh.

    Tăng cường giám sát, phát hiện và xử lý các sự cố trong các cơ quan nhà nước; thực hiện xử lý, loại bỏ mã độc đối với các IP botnet được phát hiện, cảnh báo trong danh sách blacklist.

    Xây dựng các phương án ứng cứu xử lý sự cố tấn công mạng cho các hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước; tổ chức các cuộc diễn tập xử lý các sự cố tấn công mạng.

    Xây dựng chuyên trang riêng về Chuyển đổi số

    Hoạt động chính quyền số

    Nâng cấp Cổng thông tin điện tử đáp ứng yêu cầu chức năng, tính năng kỹ thuật theo quy định và thực hiện chuyển đổi sang IPv6.

    Triển khai Cổng dữ liệu mở đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo quy định.

    Hợp nhất Cổng Dịch vụ công với Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh tạo thành Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh.

    Triển khai kênh số khác (ngoài Cổng Thông tin điện tử) phục vụ tương tác trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp.

    Tăng cường kết nối, chia sẻ các ứng dụng có dữ liệu dùng chung qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp tỉnh (LGSP). Đồng thời, đưa các dịch vụ dữ liệu có trên Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP) vào sử dụng chính thức tại tỉnh.

    Nâng cao tỷ lệ DVCTT được điền sẵn thông tin; tỷ lệ DVCTT được cá thể hóa; tỷ lệ DVCTT phát sinh hồ sơ trực tuyến; tỷ lệ hồ sơ được xử lý trực tuyến; tỷ lệ tài khoản của người dân doanh nghiệp có sử dụng DVCTT mức độ 3, mức độ 4; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp khi sử dụng DVCTT. Triển khai các nền tảng dữ liệu dùng chung và áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động của chính quyền số.

    Hoạt động kinh tế số

    Nâng cao tỷ trọng kinh tế số trong GRDP đảm bảo đạt tối thiểu 20% GRDP của tỉnh.

    Thúc đẩy các doanh nghiệp công nghệ số (doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông – CNTT), doanh nghiệp nền tảng số hoạt động trên địa bàn tỉnh, đảm bảo tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số đạt tối thiểu 5%, doanh nghiệp nền tảng số đạt tối thiểu 10% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

    Thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận, tham gia chương trình SMEdx đảm bảo đạt tối thiểu 10% số doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh; sử dụng nền tảng số đạt tối thiểu 50% số doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh;

    Bảo đảm 80% số doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử trên địa bàn tỉnh; 100% doanh nghiệp sử dụng thuế điện tử

    Đẩy mạnh các giao dịch trên sàn thương mại điện tử Voso.vn và Postmart.vn, đảm bảo tối thiểu 5% số lượng giao dịch trên tổng số bưu gửi chuyển phát hàng hóa qua Bưu điện Việt Nam và Viettel Post tại địa bàn.

    Hoạt động xã hội số

    Triển khai gắn địa chỉ số đến 100% các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh và phổ cập danh tính số/tài khoản định danh điện tử cho người dân trên địa bàn tỉnh.

    Triển khai cấp tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác cho người dân từ 15 tuổi trở lên đảm bảo tối thiểu 80% người dân được cấp trên tổng số người dân từ 15 tuổi trở lên.

    Tại Kế hoạch, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chuyển đổi số theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh để triển khai thực hiện đảm bảo kịp thời, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của địa phương.

    Xem chi tiết Kế hoạch tại đây./.

    Theo Bacgiang.gov.vn

  • Đoàn giám sát của HĐND tỉnh giám sát việc chấp hành pháp luật trong thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp

    Chiều 10/6, Đoàn giám sát của HĐND tỉnh Bắc Giang do đồng chí Lâm Thị Hương Thành – Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh làm trưởng đoàn đã giám sát việc chấp hành pháp luật trong thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp (KCN-CCN) trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2018 – 2022 Dự buổi giám sát có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn và các thành viên Đoàn giám sát.

    Toàn cảnh buổi làm việc.

    Theo báo cáo của UBND tỉnh, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 08 KCN được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư, UBND tỉnh thành lập. Trong đó, giai đoạn trước năm 2018 có 05 KCN được thành lập với tổng diện tích đất sử dụng 1.260,3 ha bao gồm: KCN Đình Trám diện tích 127,4 ha; KCN Quang Châu diện tích 426 ha; KCN Song Khê – Nội Hoàng diện tích 149,8 ha;  KCN Vân Trung diện tích 349,6 ha; KCN Hòa Phú diện tích 207,5 ha. Giai đoạn từ năm 2018 – 2022 có 03 KCN được thành lập với tổng diện tích đất sử dụng là 532,3 ha bao gồm: KCN Việt Hàn diện tích 50ha; KCN Tân Hưng diện tích 105,3 ha; KCN Yên Lư diện tích 377 ha.

    Tổng diện tích đất công nghiệp khoảng 1.228,7 ha, diện tích đất công nghiệp đã cho thuê khoảng 874,2 ha, tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt khoảng 71,1%. Trong các KCN hiện có 422 dự án đầu tư (gồm 316 dự án FDI và 106 dự án DDI), với số vốn đầu tư đăng ký là 6,716 tỷ USD và 14.202 tỷ đồng. Vốn đầu tư thực hiện ước đạt khoảng 4,18 tỷ USD và khoảng 6.182 tỷ đồng

    Đồng chí Vũ Tấn Cường – Phó Trưởng Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh phát biểu ý kiến tại buổi giám sát.

    Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh hiện nay có 45 CCN, với tổng diện tích 1.728 ha. Trong đó, giai đoạn 2018 – 2022 có 11 CCN được thành lập với diện tích 630,72ha, tổng vốn đầu tư đăng ký là 5.697,5 tỷ đồng; có 08 CCN mở rộng và chuyển đổi từ chủ đầu tư là đơn vị sự nghiệp sang chủ đầu tư là doanh nghiệp với diện tích 406 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.811 tỷ đồng.

    Bắc Giang là tỉnh đầu tiên của cả nước được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo quy hoạch, đến năm 2030 sẽ có 29 KCN dự kiến được thành lập với diện tích khoảng 7.000 ha. Các dự án đầu tư được thu hút vào các KCN đã có sự lựa chọn trên cơ sở quy hoạch chung của các KCN theo từng thời kỳ nhất định và theo định hướng thu hút đầu tư của tỉnh. Các lĩnh vực và ngành nghề thu hút đầu tư đều được lựa chọn đảm bảo về hiệu quả về đầu tư, về sử dụng đất, về kinh tế – xã hội và phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp của tỉnh. Các dự án đầu tư đã góp phần giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm nghèo bền vững ở nông thôn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng thu cho ngân sách nhà nước, tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh…

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn tiếp thu các ý kiến của Đoàn giám sát

    Trao đổi tại buổi giám sát, các đại biểu cho rằng mặc dù kết quả thu hút đầu tư có kết quả tốt song tiến độ đầu tư hạ tầng chậm, chủ đầu tư chỉ quan tâm đến xây dựng phần diện tích đất công nghiệp cho thuê, chưa quan tâm đầu tư cây xanh, bãi đậu xe…

    Có ý kiến cho rằng công tác bồi thường GPMB ở một số KCN còn chậm dẫn đến tiến độ thi công của dự án kéo dài, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất; năng lực tài chính, kinh nghiệm, tổ chức quy hoạch và đầu tư của các nhà đầu tư hạ tầng một số KCN chưa tương xứng với quy mô đầu tư của dự án dẫn đến việc đầu tư chậm so với giấy chứng nhận được cấp phép;…

    Làm rõ một số nội dung các đại biểu nêu, Phó Ban Quản lý các KCN tỉnh Nguyễn Như Long cho biết nguyên nhân các dự án chậm tiến độ là do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và dịch Covid-19 nên nhà đầu tư khó khăn trong huy động vốn, tìm kiếm khách hàng, thị trường tiêu thụ; các dự án giãn tiến độ chủ yếu do gặp khó khăn về việc góp vốn đầu tư.

    Phát biểu tại buổi giám sát, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn khẳng định những tồn tại, hạn chế tại các KCN, CCN trong thời gian qua đã được khắc phục song đến nay vẫn chưa triệt để. Thời gian tới, UBND tỉnh sẽ tập trung cao chỉ đạo các ngành liên quan, các địa phương, chủ đầu tư hạ tầng khu, CCN chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về thu hút đầu tư. Đồng thời chỉ đạo các ngành liên quan tham mưu UBND tỉnh xây dựng kế hoạch khắc phục tồn, bất cập tại các khu, CCN; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, cải thiện môi trường đầu tư để thu hút các dự án đầu tư tiềm năng, đảm bảo phát triển bền vững.

    Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Lâm Thị Hương Thành kết luận buổi giám sát.

    Kết luận tại buổi giám sát, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Lâm Thị Hương Thành ghi nhận thời gian qua UBND tỉnh đã thực hiện tương đối tốt công tác quản lý nhà nước đối với các khu, CCN; tích cực kiểm tra, giám sát, nắm bắt tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, kịp thời nhắc nhở, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định của pháp luật về đầu tư.

    Đồng chí đề nghị thời gian tới UBND tỉnh đẩy nhanh tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng các CCN, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư về thủ tục liên quan đến đất đai. Đặc biệt, cần tăng cường kiểm tra, đánh giá tiến độ triển khai các dự án đầu tư, công tác sử dụng đất đai, bảo vệ môi trường. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và khắc phục các dự án vi phạm về đầu tư, đặc biệt là vi phạm về đầu tư hạ tầng; môi trường… Quan tâm nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí cụ thể về thu hút đầu tư nhằm chọn lọc các nhà đầu tư lớn, tiềm năng, đảm bảo phát triển bền vững; thực hiện phân vùng chức năng nhằm thu hút đầu tư các dự án trọng điểm; giải quyết các vấn đề xã hội quanh KCN; rà soát lại các CCN không còn phù hợp để đưa ra khỏi quy hoạch.

    Bên cạnh đó, đôn đốc các nhà đầu tư hoàn thiện hạ tầng khu bên trong và bên ngoài các khu, cụm CN; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành, tránh chồng chéo; đẩy mạnh cải cách hành chính tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư vào địa bàn tỉnh./.

    Nguồn: bacgiang.gov.vn

  • Thủ tướng gặp gỡ, đối thoại với công nhân: Phát huy khát vọng cống hiến để xây dựng đất nước

    Sáng 12/6, tại TP Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham gia Chương trình gặp gỡ, đối thoại trực tiếp và trực tuyến với công nhân lao động toàn quốc với chủ đề “Công nhân Việt Nam với khát vọng phát triển đất nước” do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức.

    Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại chương trình.

    Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại chương trình.

    Cùng dự tại điểm cầu Bắc Giang có các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Đào Ngọc Dung, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Nguyễn Đình Khang, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; Lương Quốc Đoàn, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Phạm Tất Thắng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Dân vận T.Ư; Thượng tướng Lương Tam Quang, Thứ trưởng Bộ Công an; đại diện lãnh đạo các tỉnh, TP tại các điểm cầu.

    Về phía tỉnh Bắc Giang có các đồng chí: Dương Văn Thái, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; Lê Thị Thu Hồng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Lê Ánh Dương, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh và lãnh đạo các sở, ban, ngành, Ủy ban MTTQ và các đoàn thể, địa phương trong tỉnh.

    Công nhân đề xuất những vấn đề đúng, trúng

    Thủ tướng và các đại biểu chủ trì tại điểm cầu chính Bắc Giang.

    Thủ tướng và các đại biểu chủ trì tại điểm cầu chính Bắc Giang.

    Buổi gặp gỡ, đối thoại đã thu hút 4.500 công nhân lao động tham gia tại điểm cầu chính tỉnh Bắc Giang, 63 điểm cầu các tỉnh, TP và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

    Phát biểu khai mạc Chương trình, đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nhấn mạnh, đây là diễn đàn để đoàn viên, công nhân lao động được gặp gỡ, bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, đề xuất những vấn đề liên quan đến việc làm, đời sống với người đứng đầu Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ lắng nghe, thấu hiểu, chỉ đạo giải quyết các vấn đề được nêu và truyền thông điệp tới người lao động trong cả nước.

    Các đại biểu dự tại điểm cầu Bắc Giang.

    Các đại biểu dự tại điểm cầu Bắc Giang.

    Chương trình Thủ tướng Chính phủ gặp gỡ, đối thoại với công nhân lao động cũng là điểm nhấn quan trọng trong chuỗi các hoạt động của Tháng Công nhân năm 2022 nhằm “tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp quan tâm xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” theo tinh thần của Thông báo số 77-TB/TW ngày 24/2/2012 của Ban Bí thư kết luận về tổ chức Tháng Công nhân; thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị “Người đứng đầu chính quyền các cấp định kỳ đối thoại và chỉ đạo giải quyết nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, người lao động” theo tinh thần Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới”.

    Thủ tướng trao đổi với công nhân, người lao động.

    Thủ tướng trao đổi với công nhân, người lao động.

    Theo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, cơ quan chức năng đã nhận được gần 10.000 câu hỏi, kiến nghị của công nhân lao động, tập trung vào 10 nhóm vấn đề gồm: Đề nghị tăng lương tối thiểu; sửa đổi chính sách bảo hiểm theo hướng tạo được niềm tin lâu dài để người lao động gắn bó với bảo hiểm xã hội (BHXH), hạn chế tình trạng rút BHXH một lần; người lao động chưa được hưởng chính sách hỗ trợ khi bị ảnh hưởng do Covid-19; hỗ trợ học sinh mầm non là con công nhân lao động ở các khu công nghiệp (KCN); hỗ trợ tiền thuê nhà.

    Nhóm vấn đề được công nhân quan tâm và đặt nhiều câu hỏi nhất là nhu cầu về nhà ở, trường học và các thiết chế công đoàn hỗ trợ đời sống công nhân. Bên cạnh đó, người lao động cũng bày tỏ nguyện vọng về các vấn đề hỗ trợ tín dụng cho công nhân, khi có tín dụng tốt sẽ hạn chế được tình trạng vay “tín dụng đen”; vấn đề học nghề, đào tạo nghề và mong muốn được học nghề rất lớn trong công nhân lao động; xử lý doanh nghiệp vi phạm pháp luật lao động như không ký hợp đồng lao động, nợ lương, nợ BHXH.

    Công nhân cũng kiến nghị những vấn đề liên quan đến khám chữa bệnh. Ngoài ra, công nhân cũng mong muốn được bảo đảm về an toàn thực phẩm, nhất là bếp ăn và các điểm chợ quanh KCN; bảo đảm an ninh, an toàn tại nơi ở, nơi làm việc.

    Chương trình thu hút sự quan tâm của đông đảo người lao động.

    Chương trình thu hút sự quan tâm của đông đảo người lao động.

    Phát biểu mở đầu buổi đối thoại, Thủ tướng nhấn mạnh, mục tiêu của Đảng, Nhà nước là chăm lo đời sống nhân dân, công nhân lao động được ấm no, hạnh phúc; con người là trung tâm, chủ thể, động lực phát triển. Đảng, Nhà nước luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, trong đó có giai cấp công nhân lao động để xây dựng chủ trương, chính sách. 

    Chính phủ và các bộ, ngành đã tổ chức nhiều cuộc đối thoại, cả trực tiếp và trực tuyến đối công nhân, người lao động. Tiếp nối hoạt động đó, lần này, Chính phủ muốn nghe những ý kiến thẳng thắn, chân thành, mang tính xây dựng từ phía công nhân để kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc của công nhân hiện nay.

    Thủ tướng thông báo tin vui, ngay sáng nay (12/6), Chính phủ đã ban hành Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/7/2022, giải quyết nhiều bất cập về lương tối thiểu cho người lao động.

    Đồng chí Dương Văn Thái trao đổi về những vấn đề người lao động nêu ra.

    Đồng chí Dương Văn Thái trao đổi về những vấn đề người lao động nêu ra.

    Nêu ý kiến về chính sách BHXH, chị Nguyễn Thị Thúy Hà (TP Hồ Chí Minh) đề nghị xem xét sửa đổi quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động, hạn chế tình trạng công nhân rút BHXH một lần. Công nhân Lê Nguyễn Ngọc Thủy, KCN Thăng Long (Hà Nội) đề nghị Thủ tướng chỉ đạo các bộ, ngành rà soát, có chính sách trợ cấp đối với trẻ mầm non là con công nhân, người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; hỗ trợ tiền thuê nhà cho công nhân, người lao động vì hiện còn nhiều người chưa được hưởng. 

    Anh Nguyễn Mạnh Hùng, Công ty May xuất khẩu Hà Bắc nêu hiện có tình trạng vi phạm pháp luật của chủ doanh nghiệp, sử dụng lao động như không ký hợp đồng, nợ lương, nợ BHXH, vi phạm về vệ sinh an toàn lao động, thời gian làm việc… Anh Bùi Văn Trường (KCN Vân Trung – Việt Yên) đặt vấn đề công nhân gặp khó khăn trong học tập, nâng cao trình độ, tay nghề do vướng mắc về thời gian, kinh phí…

    Giải đáp về những vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho biết, để khắc phục tình trạng người lao động rút BHXH một lần, Bộ đang đề xuất rút ngắn thời gian tham gia BHXH, tăng thêm các nhóm liên kết, bảo đảm quyền lợi người lao động; chia sẻ giữa người đóng nhiều với người đóng ít, người đóng dài với người đóng ngắn, đồng thời xử lý các vi phạm, lợi dụng công nhân khó khăn để mua lại BHXH trục lợi.

    Thời gian qua đã có nhiều nghị quyết, chính sách được ban hành để hỗ trợ công nhân, người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Trong đó có trợ cấp đối với trẻ mầm non là con công nhân làm việc tại các KCN và hỗ trợ về tiền thuê nhà trọ. Mặc dù triển khai khẩn trương, tích cực, công khai nhưng phải thận trọng, không để xảy ra sai sót. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đang phối hợp với Bộ Tài chính để thực hiện đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về thời gian, đối tượng được thụ hưởng. 

    Về vấn đề vi phạm trong sử dụng lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Công an và các bộ, ngành, địa phương rà soát về quy định pháp luật, việc thực thi pháp luật để chấn chỉnh tình trạng vi phạm. Chủ tịch UBND các tỉnh, TP cũng cần đôn đốc việc thực hiện trên địa bàn, kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm. Công nhân, người lao động tiếp tục tham gia giám sát việc thực hiện, chủ động thông báo đến cơ quan chức năng những trường hợp vi phạm.

    Đối với việc học tập, nâng cao trình độ cho công nhân, Bộ đang triển khai song song các hình thức đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo chất lượng cao. Bên cạnh nỗ lực của người lao động về tự học tập, nâng cao trình độ thì Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục bố trí nguồn lực cho đào tạo nghề.

    Trao đổi làm rõ hơn, Thủ tướng cho rằng chính sách pháp luật về những vấn đề công nhân, người lao động nêu ra còn có nhiều bất cập nên thường xuyên phải rà soát, bổ sung, nội dung nào không còn phù hợp thì chỉnh sửa, hoàn thiện, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, hài hòa lợi ích của Nhà nước và sát với thực tế.

    Giai cấp công nhân có đóng góp to lớn cho sự phát triển đất nước

    Đồng chí Nguyễn Đình Khang phát biểu ý kiến.

    Đồng chí Nguyễn Đình Khang phát biểu ý kiến.

    Anh Lê Văn Lượng (TP Bắc Ninh, Bắc Ninh) bày tỏ băn khoăn, một bộ phận người dân còn nhìn nhận chưa đúng về vị trí của đội ngũ công nhân. Chia sẻ với suy nghĩ đó, Thủ tướng khẳng định giai cấp công nhân có đóng góp to lớn vào sự phát triển của đất nước, cho xã hội và gia đình.

    Nếu mỗi người thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, đóng góp bằng năng lực, khả năng thì nghề gì cũng cao quý, “Cháu cần cảm thấy tự hào vì lực lượng công nhân cống hiến rất nhiều cho đất nước, xã hội và mang lại lợi ích chính đáng, hợp pháp cho gia đình, bản thân” – Thủ tướng nói. Câu trả lời của Thủ tướng nhận được sự ủng hộ của các đại biểu.

    Anh Nguyễn Đình Biên, công nhân tỉnh Nghệ An nêu ý kiến: Đề nghị Thủ tướng chỉ đạo về công tác quy hoạch, triển khai xây dựng nhà ở, nhà trẻ, trường học, nơi sinh hoạt văn hóa cho công nhân, nhất là người lao động ở các KCN, khu chế xuất. Ông Phạm Văn Lực, đại diện chủ đầu tư Dự án nhà ở xã hội Evergreen Bắc Giang nêu vướng mắc về giá bán, giá cho thuê nhà ở xã hội cho công nhân. 

    Tại chương trình, đại biểu kiến nghị chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần, nhà ở cho công nhân.

    Tại chương trình, đại biểu kiến nghị chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần, nhà ở cho công nhân.

    Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh trao đổi: Để giải quyết nhu cầu về nhà ở cho công nhân, Thủ tướng đã quyết liệt chỉ đạo về bổ sung, hoàn thiện chính sách đối với phát triển nhà ở công nhân, nhà ở xã hội. Khuyến khích, ưu đãi để thu hút đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho công nhân mua nhà ở xã hội; ưu tiên về lãi suất, vay vốn cho các chủ đầu tư xây dựng nhà ở công nhân, nhà ở xã hội… 

    Đồng chí Dương Văn Thái cho biết, hiện Bắc Giang có khoảng 250 nghìn công nhân đang làm việc ở các KCN, nhu cầu nhà ở rất lớn. Vướng mắc lớn nhất hiện nay là quy định người xây dựng nhà ở phải ký hợp đồng với công nhân, trong khi có sự biến động lớn về lao động, khó quản lý. Chủ tịch Liên đoàn Lao động Việt Nam làm rõ thêm, hiện còn nhiều vướng mắc, chồng chéo trong các quy định pháp luật về đầu tư công, đất đai, kinh doanh bất động sản, nhà ở, thuế… 

    Thủ tướng tán thành với những đề xuất đó, do vậy trong thời gian tới Bộ Xây dựng tiếp thu, xem xét những bất cập về luật pháp để chỉnh sửa, giải quyết căn cơ, triệt để, giúp công nhân, người lao động có nhà ở, an cư lạc nghiệp.

    Từ các điểm cầu, nhiều ý kiến gửi về chương trình, chị Vũ Thị Kim Anh (Vĩnh Phúc) đề nghị quy hoạch phát triển hệ thống khám, chữa bệnh, bệnh viện tại các KCN; cho các cơ sở thực hiện khám, chữa bệnh ngoài giờ, ngày nghỉ, được thanh toán BHXH giúp công nhân được chăm sóc sức khỏe kịp thời.

    Thủ tướng cho biết, Chính phủ đang tiến hành rà soát hệ thống pháp luật về y tế, nhất là y tế cơ sở, y tế dự phòng và tiếp tục đầu tư nguồn lực (khoảng 14 nghìn tỷ đồng) cho mạng lưới y tế. Chính phủ chỉ đạo Bộ Y tế xem xét, chỉnh sửa, bổ sung về cơ chế, chính sách, căn cứ pháp lý theo hướng chăm sóc sức khỏe, phòng, chống dịch bệnh từ sớm, từ xa và tập trung đầu tư hệ thống y tế tại các KCN.

    Chị Trần Thị Toan (Bình Phước) nêu hiện có nhiều công nhân vướng vào vay tín dụng đen, lãi suất cao, đề nghị Chính phủ có chính sách để công nhân, người lao động tiếp cận nguồn tín dụng hợp pháp. 

    Ông Đào Minh Tú, Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trả lời: Mặc dù đã có nhiều biện pháp nhưng tình trạng tín dụng đen vẫn tồn tại. Nguyên nhân do một bộ phận người lao động có nhu cầu vay tiền mà không đáp ứng được điều kiện vay, thậm chí vay phục vụ mục đích không chính đáng… Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều gói tín dụng ưu đãi cho công nhân, hoàn thiện hành lang pháp lý để người vay, công nhân, người lao động dễ tiếp cận; chỉ đạo các ngân hàng tạo điều kiện để công nhân thuận lợi hơn trong vay vốn và các khoản tín dụng. Đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động tăng cường phối hợp, triển khai đúng đối tượng, quản lý tốt vốn và trả nợ đúng hạn.

    Thượng tướng Lương Tam Quang cho rằng tội phạm tín dụng đen hoạt động tinh vi, nhiều thủ đoạn, núp bóng các tổ chức cho vay… Bộ Công an áp dụng nhiều biện pháp ngăn ngừa, triệt phá các ổ nhóm tín dụng đen. Thời gian tới, Bộ Công an tiếp tục tuyên truyền, phổ biến đến các tầng lớp nhân dân, công nhân, người lao động về phương thức, thủ đoạn tội phạm tín dụng đen. Cùng đó nắm chắc tình hình, đấu tranh xử lý loại tội phạm này, ngăn chặn hậu quả do tín dụng đen gây ra.

    Phát biểu trước khi kết thúc buổi đối thoại, Thủ tướng biểu dương Liên đoàn Lao động Việt Nam đã phối hợp tốt với tỉnh Bắc Giang và các địa phương, bộ, ngành tổ chức cuộc đối thoại bổ ích, ý nghĩa này. Các ý kiến được nêu ra đều rất đúng, trúng những vấn đề đang đặt ra cần tập trung giải quyết.

    Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp gỡ các công nhân, người lao động tại điểm cầu Bắc Giang ngay sau buổi đối thoại. 

    Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp gỡ các công nhân, người lao động tại điểm cầu Bắc Giang ngay sau buổi đối thoại.

    Từ buổi đối thoại, trước hết cần rà soát hệ thống luật pháp liên quan đến công nhân, người lao động và có chỉnh sửa, bổ sung kịp thời. Các bộ, ngành, địa phương qua đối thoại nhìn nhận, đánh giá lại kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế để khắc phục. Những băn khoăn, yêu cầu, nguyện vọng của người lao động cần được sớm giải quyết, xử lý thỏa đáng.

    Liên đoàn Lao động tiếp tục làm tốt việc quan tâm chăm sóc đời sống công nhân. Về phía công nhân, người lao động qua thực tế công tác, làm việc tiếp tục đóng góp ý kiến về những bất cập, chưa hợp lý trong chế độ, chính sách để cơ quan quản lý có thông tin kịp thời. 

    Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ tặng 25 suất quà cho các công nhân, lao động hoàn cảnh khó khăn của tỉnh Bắc Giang.

    Thủ tướng tặng quà cho công nhân, người lao động khó khăn tại buổi đối thoại.

    Thủ tướng tặng quà cho công nhân, người lao động khó khăn tại buổi đối thoại.

    Trước đó, đầu giờ sáng, Thủ tướng và đoàn công tác đến thăm, tặng quà gia đình công nhân Sùng Mí Ná và Lù Thị Tịnh, đang ở trọ tại nhà ông Thân Văn Quang, thôn An Thịnh, xã Tiền Phong (Yên Dũng); thăm khu nhà ở xã hội dành cho công nhân của Công ty Fuji (Khu công nghiệp Vân Trung – Việt Yên). Thủ tướng ân cần thăm hỏi sức khỏe, công việc, thu nhập và căn dặn công nhân giữ gìn đoàn kết, kỷ luật lao động, chấp hành quy định của địa phương.

    Thủ tướng và các đại biểu ấn nút khai trương chương trình “Giờ thứ 9+”.

    Cũng trong chương trình, Thủ tướng và các đại biểu ấn nút khai trương chương trình “Giờ thứ 9+”.

    Chiều nay, Thủ tướng và đoàn công tác làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang về kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tiếp tục được hỗ trợ gia hạn thời hạn nộp thuế năm 2022

    Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tiếp tục được hỗ trợ gia hạn thời hạn nộp thuế năm 2022

    Đối tượng gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất năm 2022

    Kế thừa Nghị định số 52/2021/NĐ-CP ngày 19/4/2021 về gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất năm 2021, Nghị định 34/2022/NĐ-CP quy định đối tượng được gia hạn bao gồm:

    Thứ nhất, DN, tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân hoạt động sản xuất trong các ngành kinh tế sau: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; Sản xuất, chế biến thực phẩm; dệt; sản xuất trang phục; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sản xuất kim loại; gia công cơ khí; xử lý và tráng phủ kim loại; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; sản xuất ô tô và xe có động cơ khác; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế; Xây dựng; Hoạt động xuất bản; hoạt động điện ảnh, sản xuất chương trình truyền hình, ghi âm và xuất bản âm nhạc; Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên (không gia hạn đối với thuế TNDN của dầu thô, condensate, khí thiên nhiên thu theo hiệp định, hợp đồng); Sản xuất đồ uống; in, sao chép bản ghi các loại; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị); sản xuất mô tô, xe máy; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị; Thoát nước và xử lý nước thải.

    Thứ hai, DN, tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân hoạt động kinh doanh trong các ngành kinh tế sau: Vận tải kho bãi; dịch vụ lưu trú và ăn uống; giáo dục và đào tạo; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội; hoạt động kinh doanh bất động sản; Hoạt động dịch vụ lao động và việc làm; hoạt động của các đại lý du lịch, kinh doanh tua du lịch và các dịch vụ hỗ trợ, liên quan đến quảng bá và tổ chức tua du lịch; Hoạt động sáng tác, nghệ thuật và giải trí; hoạt động của thư viện, lưu trữ, bảo tàng và các hoạt động văn hóa khác; hoạt động thể thao, vui chơi giải trí; hoạt động chiếu phim; Hoạt động phát thanh, truyền hình; lập trình máy vi tính, dịch vụ tư vấn và các hoạt động khác liên quan đến máy vi tính; hoạt động dịch vụ thông tin; Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai khoáng.

    Thứ ba, DN, tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển; sản phẩm cơ khí trọng điểm.

    Thứ tư, DN nhỏ và siêu nhỏ được xác định theo quy định của Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa.

    Thứ năm, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện các giải pháp hỗ trợ khách hàng là DN, tổ chức, cá nhân chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19 theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    Gia hạn từ 03 đến 06 tháng thời hạn nộp thuế GTGT

    Nghị định quy định cụ thể gia hạn thời hạn nộp thuế đối với số thuế GTGT phát sinh phải nộp (bao gồm cả số thuế phân bổ cho các địa phương cấp tỉnh khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính, số thuế nộp theo từng lần phát sinh) của kỳ tính thuế từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2022 (đối với trường hợp kê khai thuế GTGT theo tháng) và kỳ tính thuế quý I, quý II năm 2022 (đối với trường hợp kê khai thuế GTGT theo quý) của các DN, tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng được gia hạn.

    Thời gian gia hạn là 06 tháng đối với số thuế GTGT từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2022 và quý I năm 2022. Thời gian gia hạn là 05 tháng đối với số thuế GTGT của tháng 6 năm 2022 và quý II năm 2022, thời gian gia hạn là 04 tháng đối với số thuế GTGT của tháng 7 năm 2022, thời gian gia hạn là 03 tháng đối với số thuế GTGT của tháng 8 năm 2022. Thời gian gia hạn tại điểm này được tính từ ngày kết thúc thời hạn nộp thuế GTGT theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

    Theo đó, thời hạn nộp thuế GTGT của kỳ tính thuế tháng 3/2022 được gia hạn đến ngày 20/10/2022; Thời hạn nộp thuế GTGT của kỳ tính thuế tháng 4/2022 được gia hạn đến ngày 20/11/2022; Thời hạn nộp thuế GTGT của kỳ tính thuế tháng 5/2022 được gia hạn đến ngày 20/12/2022; Thời hạn nộp thuế GTGT của kỳ tính thuế tháng 6/2022 được gia hạn đến ngày 20/12/2022; Thời hạn nộp thuế GTGT của kỳ tính thuế tháng 7/2022 được gia hạn đến ngày 20/12/2022; Thời hạn nộp thuế GTGT của kỳ tính thuế tháng 8/2022 được gia hạn đến ngày 20/12/2022; Thời hạn nộp thuế GTGT của kỳ tính thuế quý I/2022 được gia hạn đến ngày 30/10/2022; Thời hạn nộp thuế GTGT của kỳ tính thuế quý II/2022 được gia hạn đến ngày 31/12/2022.

    Gia hạn 03 tháng thời hạn nộp tiền thuế TNDN tạp nộp quý I và quý II năm 2022

    Đối với thuế TNDN, Nghị định quy định gia hạn thời hạn nộp thuế đối với số thuế TNDN tạm nộp của quý I, quý II kỳ tính thuế TNDN năm 2022 của DN, tổ chức thuộc đối tượng được gia hạn. Thời gian gia hạn là 03 tháng, kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp thuế TNDN theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

    Trường hợp DN, tổ chức đủ điều kiện được gia hạn có các chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế TNDN riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp của chi nhánh, đơn vị trực thuộc thì các chi nhánh, đơn vị trực thuộc cũng thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế TNDN. Trường hợp chi nhánh, đơn vị trực thuộc của DN, tổ chức không có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc ngành kinh tế, lĩnh vực được gia hạn thì chi nhánh, đơn vị trực thuộc không thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế TNDN.

    Đối với thuế GTGT, thuế TNCN phát sinh năm 2022 của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đủ điều kiện sẽ được gia hạn thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 30/12/2022.

    Gia hạn 06 tháng thời hạn nộp thuế đối với 50% tiền thuê đất phát sinh năm 2022

    Đối với tiền thuê đất, Nghị định quy định gia hạn thời hạn nộp tiền thuê đất đối với 50% số tiền thuê đất phát sinh phải nộp năm 2022 của DN, tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh cá nhân đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo Quyết định hoặc Hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới hình thức trả tiền thuê đất hàng năm. Theo đó, thời gian gia hạn là 06 tháng kể từ ngày 31 tháng 5 năm 2022 đến ngày 30 tháng 11 năm 2022.

    Để được gia hạn thời hạn nộp thuế, người nộp thuế chỉ cần gửi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất theo mẫu cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp (bằng phương thức điện tử; bản giấy trực tiếp đến cơ quan thuế hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính) một lần cho toàn bộ số thuế, tiền thuê đất phát sinh trong các kỳ tính thuế được gia hạn cùng với thời điểm nộp hồ sơ khai thuế theo tháng (hoặc theo quý) theo quy định pháp luật về quản lý thuế.

    Thời hạn nộp chậm nhất là ngày 30/9/2022, cơ quan quản lý thuế vẫn thực hiện gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất của các kỳ phát sinh được gia hạn trước thời điểm nộp Giấy đề nghị gia hạn.

    Người nộp thuế tự xác định và chịu trách nhiệm về việc đề nghị gia hạn đảm bảo đúng đối tượng được gia hạn theo Nghị định 34. Nếu người nộp thuế gửi Giấy đề nghị gia hạn cho cơ quan thuế sau ngày 30/9/2022 thì không được gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất.

    Theo: Tổng cục Thuế – Bộ Tài chính

  • UBND tỉnh Bắc Giang ban hành kế hoạch tổ chức cuộc thi trực tuyến tìm hiểu và sáng kiến về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh

    Ngày 08/6/2022, UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Kế hoạch tổ chức cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu và sáng kiến về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh Bắc Giang” năm 2022.

    Thi trắc nghiệm trên platform khảo sát trực tuyến có liên kết với Webstie của Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Giang.

    Theo đó, nội dung thi bao gồm:

    – Hiểu biết về các chỉ số: Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số Cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (PAR INDEX), Chỉ số đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS), Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố thuộc tỉnh Bắc Giang (DDCI);

    – Kết quả điểm số và xếp hạng các chỉ số: PCI, PAR INDEX, SIPAS năm 2021 của tỉnh Bắc Giang; kết quả xếp hạng Chỉ số DDCI năm 2021 của các sở, ban, ngành và huyện/thành phố thuộc tỉnh Bắc Giang; mục tiêu phấn đấu và nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị được giao cải thiện các chỉ số: PCI, PAR INDEX, SIPAS năm 2022 của tỉnh Bắc Giang;

    – Đề xuất sáng kiến để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh Bắc Giang trong năm tới và các năm tiếp theo.

    Đối tượng dự thi bắt buộc bao gồm: Toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đang công tác tại các ban, cơ quan của Đảng và tổ chức đoàn thể cấp tỉnh, cấp huyện; các sở, ban, ngành và đơn vị sự nghiệp công lập; các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh; UBND huyện, thành phố (bao gồm: Các phòng, ban, đơn vị trực thuộc và Đảng ủy, UBND các xã, phường, thị trấn).

    Đối tượng khuyến khích gồm: Các Tổ chức hội, Hiệp hội, trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, người lao động làm việc tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và người dân đang sinh sống tại tỉnh Bắc Giang.

    Hình thức thi: Thi trắc nghiệm trên platform khảo sát trực tuyến có liên kết với Webstie của Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Giang (http://ipcbacgiang.com).

    Thời gian: Cuộc thi bắt đầu từ 7h00’ ngày 01/8 và kết thúc lúc 17h00’ ngày 31/8/2022.

    Cuộc thi là cơ hội để phổ biến sâu rộng tới toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đang công tác, làm việc tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh và người dân đang sinh sống tại tỉnh Bắc Giang về mục đích, ý nghĩa, các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thông qua các chỉ số: PCI, PAR INDEX, SIPAS; PAPI, DDCI. Đồng thời phát hiện và nghiên cứu áp dụng sáng kiến hay về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh Bắc Giang trong năm tới và các năm tiếp theo.

    Xem chi tiết Kế hoạch tại đây./.

  • Bắc Giang: Gần 94% doanh nghiệp, tổ chức sử dụng hóa đơn điện tử

    Theo quy định của Chính phủ, Bộ Tài chính, từ ngày 1/4 năm nay, các doanh nghiệp (DN), tổ chức kinh tế, hộ, cá nhân kinh doanh tại 57 tỉnh, TP trực thuộc T.Ư, trong đó có tỉnh Bắc Giang bắt đầu áp dụng hóa đơn điện tử (HĐĐT) thay hóa đơn giấy và bắt buộc thực hiện từ ngày 1/7/2022. 

    Công ty TNHH Siflex Việt Nam, Khu công nghiệp (KCN) Quang Châu) đã sử dụng HĐĐT.

    Công ty TNHH Siflex Việt Nam, Khu công nghiệp (KCN) Quang Châu) đã sử dụng HĐĐT.

    Thực hiện quy định trên, thời gian qua, ngành Thuế tỉnh chỉ đạo các phòng chuyên môn, Chi cục Thuế khu vực các huyện, thành phố tập trung hỗ trợ người nộp thuế tiếp cận, sử dụng HĐĐT thuận lợi, nhanh chóng.

    Theo Cục Thuế tỉnh. tính đến thời điểm này, toàn tỉnh có 5.591 tổ chức, doanh nghiệp đã sử dụng HĐĐT, đạt tỷ lệ gần 94% trong tổng số tổ chức, doanh nghiệp phải áp dụng hóa đơn này. Bên cạnh đó có 854 hộ cá nhân, kinh doanh đã áp dụng HĐĐT, đạt gần 92% trong tổng số hộ, cá nhân, kinh doanh.

    Các địa phương có số tổ chức, doanh nghiệp, hộ, cá nhân kinh doanh sử dụng HĐĐT điện tử nhiều như các huyện: Việt Yên, Hiệp Hòa, Lạng Giang, Lục Nam, Yên Dũng và TP Bắc Giang.

    Đại diện lãnh đạo Cục Thuế tỉnh cho biết, thời điểm này, Cục Thuế tỉnh đang tập trung cao đôn đốc, hướng dẫn các trường hợp còn lại chuyển từ hóa đơn giấy sang áp dụng HĐĐT, phấn đấu hoàn thành vào ngày 30/6 năm nay.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn: Yên Dũng cần đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng khu, cụm công nghiệp và khu dân cư

    Ngày 07/6, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn đã kiểm tra tiến độ thực hiện một số dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, công nghiệp, nhà ở xã hội trên địa bàn huyện Yên Dũng. Cùng dự có đại diện lãnh đạo một số sở, ngành tỉnh.

    Đoàn đã kiểm tra tình hình triển khai một số dự án trên địa bàn huyện Yên Dũng: Khu công nghiệp (KCN) Yên Lư, cụm công nghiệp (CCN) Yên Lư, khu dân cư (KDC) mới Nam Tiến (xã Đồng Việt) và khu nhà ở xã hội (NOXH) thị trấn Nham Biền.

    Toàn cảnh buổi làm việc.

    Theo báo cáo của huyện Yên Dũng, đến nay dự án KCN Yên Lư đã lập hồ sơ GPMB, tổ chức kê khai, kiểm kê đến người sử dụng đất. Tính đến ngày 31/5/2022, đã kê khai được 259 hộ gia đình có đất. Dự án CCN Yên Lư đã thực hiện GPMB xong được 5 đợt, với tổng diện tích 528.601,6 m2, dự án này BND tỉnh đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và giao đất tại thực địa cho chủ đầu tư được 49,19 ha. 

    Dự án KDC mới Nam Tiến có tổng diện tích thu hồi 104.217,4 m2 (~10,422 ha). UBND huyện đã ra Quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ 9,265 ha của 367 hộ gia đình, còn lại 1,156 ha của 27 hộ gia đình chưa thu hồi, bồi thường do người dân chưa đồng thuận. Đối với dự án Khu NOXH thị trấn Nham Biền có tổng diện tích thực hiện là 5,1 ha. Hiện đã tổ chức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ GPMB được 78/78 hộ gia đình, cá nhân và bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư để thực hiện dự án với diện tích 46.969,4 m2, đạt 100%.

    Từ thực tế triển khai dự án tại địa phương, lãnh đạo huyện Yên Dũng đề nghị UBND tỉnh, sở, ngành chức năng sớm hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp thu hồi đất nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp nhưng chưa thực hiện đăng ký biến động đất đai và trường hợp ủy quyền thực hiện thủ tục thu hồi, bồi thường GPMB được thực hiện bằng giấy ủy quyền, đại diện hộ gia đình có đất bị thu hồi ký giấy ủy quyền. Đề nghị UBND tỉnh trình HĐND tỉnh thông qua danh mục cho phép thu hồi đất đối với phần diện tích còn lại dưới 10 ha của các dự án CCN trên địa bàn huyện đã hết hạn cho phép chuyển mục đích đất trồng lúa của Thủ tướng Chính phủ.

    Tại buổi làm việc, các chủ đầu tư đánh giá cao công tác GPMB của huyện Yên Dũng, đồng thời đề nghị UBND huyện Yên Dũng vào cuộc tích cực hơn nữa để đẩy nhanh tiến độ GPMB. Tiếp tục hỗ trợ giải quyết vướng mắc trong công tác đền bù GPMB, tuyên truyền vận động hộ dân có trong danh sách thu hồi chấp hành chủ trương, chính sách của nhà nước để sớm bàn giao mặt bằng. Các sở, ngành hỗ trợ đẩy nhanh công tác thẩm định, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phân khu dự án.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn kiểm tra thực tế các dự án.

    Kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn yêu cầu huyện cần tập trung chỉ đạo tháo gỡ các vướng mắc để đẩy nhanh các dự án, sớm đưa vào khai thác, sử dụng. Trong đó, dự án KCN Yên Lư là dự án trọng điểm của tỉnh, khi dự án hoàn thành sẽ tạo điều kiện thu hút đầu tư vào tỉnh. Đồng chí yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Yên Dũng chỉ đạo các phòng, đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ theo các biểu kế hoạch đề ra, giải quyết dứt điểm vướng mắc; hoàn thiện hồ sơ thuê đất giai đoạn I với diện tích 150 ha trong tháng 11 năm nay và giai đoạn 2 vào tháng 7/2023.

    Cùng đó, cần khẩn trương hoàn thiện hồ sơ đề xuất danh mục thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa đối với  2,5 ha tại dự án CCN Yên Lư; đồng thời hoàn thành GPMB dự án này trong tháng 8/2022. Đối với dự án khu nhà ở xã hội thị trấn Nham Biền có tiến độ thực hiện tốt, đồng chí yêu cầu huyện phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu, sớm giao đất cho chủ đầu tư, khởi công dự án trong tháng 6/2022.  

    Đồng chí cũng yêu cầu các sở, ngành, căn cứ chức năng nhiệm vụ, phối hợp với huyện Yên Dũng để các dự án được triển khai một cách nhanh nhất, thuận lợi nhất. Về phía chủ đầu tư dự án cần tích cực thi công, bảo vệ mặt bằng ngay khi được bàn giao mặt bằng, tránh tình trạng tái lấn chiếm, gây khó khăn cho công tác GPMB./.

    Theo bacgiang.gov.vn

  • Pin mặt trời Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ được miễn thuế

    Việt Nam và 3 nước Đông Nam Á vừa được phía Mỹ miễn áp thuế nhập khẩu sản phẩm pin năng lượng mặt trời vào nước này trong 2 năm.

    Ảnh minh họa

    Ngày 6/6, Tổng thống Mỹ Joe Biden tuyên bố miễn thuế 24 tháng với các tấm pin năng lượng mặt trời nhập khẩu từ 4 nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. 

    Trong thông báo “Tuyên bố về tình trạng khẩn cấp cho phép gia hạn tạm thời và nhập khẩu miễn thuế pin và mô-đun năng lượng mặt trời từ Đông Nam  Á” (do Tổng thống Biden ký đăng trên trên Website của Nhà Trắng) cho biết việc miễn thuế áp dụng với các tấm pin năng lượng mặt trời nhập khẩu của Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia nhằm thúc đẩy sản xuất năng lượng sạch trong nước.

    Với quyết định này, Mỹ có thể bảo đảm được đủ nguồn cung các bộ phận để đáp ứng nhu cầu phát điện trong khi sản xuất điện mặt trời trong nước tăng lên.

    Thông báo cũng  nhấn mạnh các công nghệ năng lượng sạch hiện nay đóng góp một phần quan trọng trong việc giảm chi phí năng lượng cho các gia đình, giảm rủi ro cho nguồn cung cấp điện ở Mỹ.

    Mỹ đặt mục tiêu đến năm 2024 tăng gấp 3 lượng điện mặt trời sản xuất trong nước, từ 7,5 gigawatt lên 22,5 gigawatt, đủ để cung cấp cho 3,3 triệu hộ gia đình trong nước mỗi năm.

    Theo Chinhphu.vn

  • 3 nghìn tỷ đồng hỗ trợ lãi suất các khoản vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội

    Chính phủ vừa ban hành Nghị định 36/2022/NĐ-CP ngày 30/5/2022 về hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội, nguồn vốn cho vay, cấp bù lãi suất và phí quản lý để Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/1/2022 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội.

    3 nghìn tỷ hỗ trợ lãi suất các khoản vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội

    Nghị định nêu rõ, khách hàng vay vốn được ngân sách nhà nước hỗ trợ lãi suất khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

    1. Có khoản vay đáp ứng các điều kiện sau: a) Thuộc các chương trình tín dụng chính sách do Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay theo: Nghị định của Chính phủ; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; văn bản ủy thác của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị – xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân trong và ngoài nước; hiệp định, hợp đồng vay lại từ nguồn vốn ODA và ưu đãi nước ngoài; thỏa thuận tài trợ nước ngoài khác;

    b) Có lãi suất vay vốn trên 6%/năm; 

    c) Được Ngân hàng Chính sách xã hội giải ngân và có phát sinh dư nợ trong thời gian thực hiện hỗ trợ lãi suất.

    2. Khách hàng vay vốn đúng đối tượng vay vốn và sử dụng vốn vay đúng mục đích theo quy định.

    Thời gian thực hiện hỗ trợ lãi suất là từ ngày 1/1/2022 đến ngày 31/12/2023 hoặc khi Ngân hàng Chính sách xã hội thông báo kết thúc thực hiện hỗ trợ lãi suất theo quy định tùy theo thời điểm nào đến trước.

    Thời gian vay được hỗ trợ lãi suất được xác định từ thời điểm giải ngân khoản vay đến thời điểm khách hàng trả hết nợ gốc nhưng không nằm ngoài thời gian thực hiện hỗ trợ lãi suất.

    Mức hỗ trợ lãi suất cho khách hàng vay vốn là 2%/năm tính trên số dư nợ vay của các khoản giải ngân được giải ngân trong thời gian thực hiện hỗ trợ lãi suất và thời gian vay được hỗ trợ lãi suất.

    Tổng nguồn vốn hỗ trợ lãi suất tối đa 3 nghìn tỷ đồng

    Nghị định nêu rõ, việc hỗ trợ lãi suất bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng mục đích, tránh trục lợi chính sách.

    Ngân sách nhà nước bố trí đầy đủ, kịp thời nguồn vốn hỗ trợ lãi suất để Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện hỗ trợ lãi suất đối với khách hàng. Tổng nguồn vốn hỗ trợ lãi suất tối đa là 3 nghìn tỷ đồng.

    Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện hỗ trợ lãi suất đảm bảo đúng quy định, tạo thuận lợi cho khách hàng. Không thực hiện hỗ trợ lãi suất đối với dư nợ quá hạn hoặc được gia hạn nợ.

    Về phương thức hỗ trợ lãi suất, ngân sách nhà nước thực hiện hỗ trợ lãi suất cho khách hàng vay vốn thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội và thực hiện chi trả số tiền hỗ trợ lãi suất cho Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định.

    Hằng tháng, Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện tính số tiền lãi được hỗ trợ và giảm trừ vào số tiền lãi phải trả của khách hàng vay vốn.

    Theo bacgiang.gov.vn

  • Xúc tiến thương mại đầu tư và kết nối tiêu thụ vải thiều và một số nông sản chủ lực đặc trưng của tỉnh Bắc Giang sang thị trường Hoa Kỳ

    Xúc tiến thương mại đầu tư và kết nối tiêu thụ vải thiều và một số nông sản chủ lực đặc trưng của tỉnh Bắc Giang sang thị trường Hoa Kỳ

    Chiều 3/6, tại UBND tỉnh Bắc Giang, đồng chí Phan Thế Tuấn – Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì buổi làm việc với Giáo sư Nguyễn Đình Phú – Chủ tịch Hội doanh nhân người Việt tại Hoa Kỳ, đại diện danh dự của tỉnh Bắc Giang về xúc tiến thương mại đầu tư tại Hoa Kỳ về xúc tiến thương mại đầu tư và kết nối, tiêu thụ vải thiều, một số nông sản của Bắc Giang sang thị trường Hoa Kỳ. Cùng dự buổi làm việc có lãnh đạo một số sở, ngành, huyện Lục Ngạn và một số doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản.

    Quang cảnh buổi làm việc.

    Tại buổi làm việc, đại diện lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương thông tin khái quát về tình hình KT-XH và nhu cầu thu hút đầu tư của tỉnh; tình hình sản xuất, tiêu thụ và các sản phẩm nông sản chủ lực, đặc trưng tỉnh Bắc Giang.

    Về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỉnh Bắc Giang liên tục duy trì trong nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước. Tỉnh đang là điểm đến được nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài lựa chọn. Tỉnh có nhiều cơ chế, chính sách thu hút đầu tư; luôn cam kết tạo lập môi trường đầu tư tốt nhất cho các nhà đầu tư nói chung, các doanh nghiệp đến từ Hoa Kỳ nói riêng.

    Về sản xuất vải thiều, năm nay thời tiết thuận lợi nên vải thiều sinh trưởng và phát triển tốt. Tỉnh đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật chăm sóc vải thiều do đó chất lượng cao hơn năm trước. Sản lượng vải thiều ước đạt 180 nghìn tấn, trong đó, vải sớm khoảng 60 nghìn tấn, vải chính vụ khoảng 120 nghìn tấn. Thời gian thu hoạch vải thiều sớm từ ngày 20/5, vải thiều chính vụ thu hoạch từ ngày 10/6 đến ngày 25/7….

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn phát biểu tại buổi làm việc.

    Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn đề nghị Giáo sư Nguyễn Đình Phú quan tâm hỗ trợ tỉnh trong các hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa của tỉnh sang Hoa Kỳ.

    Tỉnh Bắc Giang xác định, Hoa Kỳ là thị trường tiềm năng, có sức mua lớn đối với nông sản hàng hóa, tuy nhiên đây lại là thị trường khó tính, đòi hỏi chất lượng cao với các yêu cầu về kiểm dịch, an toàn thực phẩm nghiêm ngặt…Trước thực tế đó, tỉnh đề nghị Giáo sư Nguyễn Đình Phú quan tâm giới thiệu các doanh nhân người Việt tại Hoa Kỳ và các doanh nghiệp của Hoa Kỳ hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nông sản để tỉnh cung cấp thông tin, kết nối đến các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh kết nối giao thương, từ đó thúc đẩy trao đổi, hợp tác thu mua, nhập khẩu trái vải tươi và các sản phẩm chế biến từ trái vải, các nông sản đặc sản của tỉnh.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn mong muốn Giáo sư Nguyễn Đình Phú cung cấp thông tin về thị trường, chính sách xuất, nhập khẩu, các yêu cầu, tiêu chuẩn, quy trình thủ tục, chứng nhận an toàn, bao bì đóng gói, truy xuất nguồn gốc và các hàng rào kỹ thuật của Hoa Kỳ đối với vải thiều tươi, các sản phẩm chế biến từ vải thiều. Đồng thời hợp tác, hỗ trợ tỉnh thúc đẩy thương mại, giới thiệu, quảng bá tiềm năng lợi thế, chính sách thu hút đầu tư của tỉnh và kết nối với các tập đoàn, nhà đầu tư có uy tín…

    Giáo sư Nguyễn Đình Phú – Đại diện danh dự của tỉnh Bắc Giang về xúc tiến thương mại đầu tư tại Hoa Kỳ phát biểu tại buổi làm việc.

    Sau khi nghe thông tin của tỉnh, Giáo sư Nguyễn Đình Phú bày tỏ ấn tượng về sự phát triển cũng như lợi thế tiềm năng của tỉnh Bắc Giang, nhất là những thế mạnh về nông sản. Đồng thời, Giáo sư Nguyễn Đình Phú đề nghị Bắc Giang cần xây dựng kế hoạch xúc tiến tiêu thụ nông sản cụ thể, cung cấp thông tin các sản phẩm đặc trưng, chứng nhận sản xuất an toàn… để quảng bá trên hệ thống báo chí, mạng xã hội nhằm giới thiệu rộng rãi đến đông đảo người tiêu dùng Hoa Kỳ về sản phẩm vải thiều và một số nông sản của tỉnh Bắc Giang…Trước mắt sẽ xuất khẩu vải tươi và từng bước là vải chế biến.

    Giáo sư Nguyễn Đình Phú nhấn mạnh, tỉnh cần xem xét, tạo điều kiện hỗ trợ một số doanh nghiệp điển hình về thủ tục để xuất khẩu nông sản chủ lực sang Hoa Kỳ…

    Trước đó, Đoàn công tác khảo sát vùng sản xuất vải thiều xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản; cơ sở đóng gói, xông hơi, khử trùng, hệ thống sơ chế vải thiều xuất khẩu tại Lục Ngạn./.

    Theo bacgiang.gov.vn

  • Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương tiếp và làm việc với Công ty Emission Resource Group INC, Hoa Kỳ (ERG)

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương tiếp và làm việc với Công ty Emission Resource Group INC, Hoa Kỳ (ERG)

    Chiều 07/6, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương có buổi tiếp và làm việc với Công ty Emission Resource Group INC, Hoa Kỳ (ERG) do ông Scott Anh Duong – CEO Công ty ERG làm trưởng đoàn.

    Đoàn công tác của Công ty ERG gồm: Tập đoàn Aladin, Công ty Golden Lotus Group, Công ty đầu tư Tuấn Sơn, Công ty Logistic Việt Nam thuộc Việt Nam Post Log, Công ty Logistic Việt Nam thuộc Việt Nam Post Log, Công ty Logistic Bưu điện Việt Nam.

    Về phía tỉnh Bắc Giang có đại diện lãnh đạo các Sở: Công Thương, Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Ngoại vụ, Nông nghiệp và PTNT, Khoa học và Công nghệ và UBND thành phố Bắc Giang.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương thông tin một số sản phẩm OCOP của tỉnh với Công ty ERG.

    Tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương thông tin khái quát về tình hình sản xuất, tiêu thụ vải thiều năm 2022 và phát triển các sản phẩm OCOP của tỉnh Bắc Giang. Chủ tịch UBND tỉnh cho biết, chất lượng vải thiều năm nay cao hơn năm trước và đến thời điểm này, có thể khẳng định chất lượng vải thiều Bắc Giang năm 2022 cao nhất từ trước đến nay. Do tỉnh đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất vải thiều đảm bảo chất lượng vượt trội, sạch và an toàn. Trong đó, đặc biệt quan tâm chỉ đạo sản xuất trái vải với chất lượng cao nhất để phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ tại các hệ thống bán hàng hiện đại, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu. Đồng chí cũng cho biết thêm, tỉnh Bắc Giang không chỉ có vải thiều mà còn có rất nhiều loại trái cây khác được trồng và thu hoạch các mùa trong năm như: cam, bưởi, ổi, thanh long, dứa, na… Ngoài ra, Bắc Giang còn có đặc sản Sâm Nam núi Dành rất tốt cho sức khỏe.

    Ông Scott Anh Duong phát biểu tại buổi làm việc.

    Tại đây, ông Nguyễn Hữu Thông – Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Golden Lotus Group giới thiệu lĩnh vực hoạt động của Công ty trình bày ý tưởng sẽ đầu tư xây dựng một nhà máy chế biến sâu các sản phẩm từ quả vải thiều tại Bắc Giang, với sản lượng hàng nghìn tấn/năm. Đồng thời đầu tư công nghệ hiện đại sản xuất nước uống lon nhôm và chai PET với sản lượng lớn. Đầu tư dây chuyền sấy và chế biến các thực phẩm chính từ trái vải như vải sấy, vải đóng lon, kẹo vải, bột vải nguyên liệu, mứt vải, vải đông lạnh đóng hộp, nước vải cô đặc,…

    Ông Scott Anh Duong đề xuất tỉnh Bắc Giang tạo điều kiện về đất đai và cho phép Công ty xây dựng nhà máy xử lý rác thải bằng công nghệ hiện đại từ đó tạo ra điện năng phục vụ nhu cầu dùng điện của tỉnh, với cam kết không có ống khói, không gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương phát biểu tại buổi làm việc.

    Phát biểu kết luận buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương cảm ơn các doanh nghiệp đã đồng hành cùng Bắc Giang và thời gian tới mong muốn các doanh nghiệp tiếp tục đồng hành với Bắc Giang.

    Đồng chí giao Sở Công Thương hỗ trợ các doanh nghiệp có ý định và đầu tư chế biến, xây dựng khu logistic tại Bắc Giang. Về xây dựng nhà máy xử lý rác thải, tỉnh sẽ tổ chức Đoàn công tác sang Hoa Kỳ thăm các nhà máy do Công ty ERG đã xây dựng và vận hành. Nếu thấy phù hợp và hiệu quả trong xử lý rác, tỉnh Bắc Giang sẽ xây dựng nhà máy xử lý rác thải của thành phố Bắc Giang với quy mô liên đô thị, liên thành phố, bảo đảm vận hành lâu dài. Đồng thời cho biết tỉnh sẽ bàn thêm về những đề nghị của các doanh nghiệp./.

    Nguồn: Bacgiang.gov.vn

  • Việt Nam không lựa chọn nền kinh tế đóng, tự tin xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả

    Việt Nam không lựa chọn nền kinh tế đóng, tự tin xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả

    Thủ tướng nhấn mạnh, Việt Nam không lựa chọn nền kinh tế đóng mà luôn kiên định đường lối đổi mới, mở cửa, tự tin xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Đây là chủ trương đúng đắn, nhất quán, xuyên suốt, khách quan và có hiệu quả của Đảng, Nhà nước ta.

    Việt Nam không lựa chọn nền kinh tế đóng, tự tin xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Ảnh VGP/Nhật Bắc

    Chiều 5/6, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự phiên toàn thể – tọa đàm cấp cao của Diễn đàn Kinh tế Việt Nam lần thứ 4 với chủ đề “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập kinh tế sâu rộng trong tình hình mới”.

    Phát biểu tại đây, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao Ban Kinh tế Trung ương đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan, địa phương chuẩn bị kỹ lưỡng, nghiêm túc, công phu và tổ chức chu đáo diễn đàn quan trọng này.

    Thủ tướng trân trọng cảm ơn đại diện các cơ quan, tổ chức quốc tế, trong nước, các chuyên gia, nhà khoa học đã tham dự và phát biểu, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm, chân thành, thẳng thắn, có căn cứ khoa học, thực tiễn. Các chủ đề thảo luận của diễn đàn vừa có tính chất cơ bản, lâu dài, vừa thời sự, vừa giai quyết những vấn đề chiến lược, vừa xử lý những vấn đề tình thế.

    Giữ được ổn định trong một thế giới biến động là điều quan trọng nhất

    Theo Thủ tướng, diễn đàn thống nhất cao và khẳng định chủ trương đúng đắn, nhất quán, xuyên suốt, khách quan và có hiệu quả của Đảng, Nhà nước ta là kiên định đường lối đổi mới, tập trung xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế là một trong 9 mối quan hệ lớn được Đảng ta khẳng định.

    Cùng với đó, Việt Nam xác định cách tiếp cận toàn cầu (đề cao đoàn kết, hợp tác quốc tế, chủ nghĩa đa phương) và tiếp cận toàn dân (lấy người dân làm trung tâm, làm chủ thể, mọi chính sách hướng tới người dân và mọi người dân phải tham gia) với các vấn đề như ứng phó dịch bệnh COVID-19, biến đổi khí hậu…

    Việt Nam xác định lấy nội lực (con người, thiên nhiên, truyền thống lịch sử – văn hóa) là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định, kết hợp hài hòa với ngoại lực (như công nghệ, quản trị, tài chính, hỗ trợ đào tạo nhân lực…) là quan trọng, đột phá, thường xuyên.

    Trong hơn 35 năm Đổi mới, chính việc thực hiện hiệu quả các chủ trương nói trên đã góp phần làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

    Chúng ta vẫn giữ được ổn định trong một thế giới biến động, đây là điều quan trọng nhất, khẳng định sự tự tin của chúng ta để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Ảnh VGP/Nhật Bắc

    Qua hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đối diện rất nhiều biến cố từ thế giới bên ngoài và từ nội tại nền kinh tế. Tuy nhiên, đến nay, chúng ta vẫn giữ được ổn định trong một thế giới biến động, đây là điều quan trọng nhất, khẳng định sự tự tin của chúng ta để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả.

    Thủ tướng nhấn mạnh, việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách phải luôn trên cơ sở tôn trọng thực tiễn, bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo.

    Thủ tướng lấy ví dụ, khi chưa đủ vaccine, thuốc chữa bệnh, chưa có kinh nghiệm trước biến chủng Delta hết sức nguy hiểm, lây lan nhanh hơn chủng cũ nhiều lần, chúng ta buộc phải áp dụng các biện pháp hành chính nghiêm ngặt để phòng chống COVID-19.

    Sau đó, khi đạt độ bao phủ vaccine nhất định, tổng kết được các kinh nghiệm chống dịch, nâng cao được năng lực y tế, chúng ta chuyển sang thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh trên cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, tự tin mở cửa trở lại, phục hồi nhanh và phát triển bền vững kinh tế – xã hội.

    Đứng trước dịch bệnh COVID-19, chúng ta tự quyết số phận của mình, nhưng mặt khác, không quốc gia nào, không người nào có thể tự chống dịch, do đó, phải đề cao hợp tác quốc tế và chủ nghĩa đa phương, Thủ tướng nói.

    Người đứng đầu Chính phủ nhắc lại một số quyết định cho thấy sự đúng đắn và tự tin trong các quyết sách phòng chống dịch của Đảng, Nhà nước ta, như thảo luận và quyết định tổ chức SEA Games 31 vừa qua ở thời điểm tháng 10-11 năm 2021 ngay khi chúng ta vừa chuyển trạng thái phòng chống dịch, hay quyết định mở cửa du lịch vào 15/3 khi Hà Nội đang ở đỉnh dịch.

    Nêu rõ tình hình sẽ luôn có khó khăn, thách thức, Thủ tướng nhấn mạnh quan điểm khó khăn, thách thức nhiều hơn là cơ hội và thuận lợi, chúng ta tự tin, không hoang mang, lo sợ, mất bản lĩnh, cũng không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác để ứng phó với mọi diễn biến của tình hình.

    Thủ tướng Phạm Minh Chính: Định hướng “độc lập, tự chủ gắn với hội nhập” xuất phát từ tư tưởng xuyên suốt của Đảng ta về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Ảnh VGP/Nhật Bắc

    Bảo đảm độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia, nâng cao thế và lực của đất nước, giải quyết những vấn đề nội tại

    Chia sẻ một số nội dung có tính chất gợi mở, định hướng để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện về chủ đề quan trọng này, Thủ tướng tập trung phân tích về sự cần thiết, các quan điểm, mục tiêu, tư tưởng chủ đạo, các nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả.

    Về sự cần thiết, Thủ tướng nêu rõ, định hướng “độc lập, tự chủ gắn với hội nhập” xuất phát từ tư tưởng xuyên suốt của Đảng ta về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ theo tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” gắn với mở cửa và hợp tác quốc tế. Cách đây 76 năm, trong Lời kêu gọi Liên Hợp Quốc (tháng 12/1946), Người nêu rõ: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”. 

    Thủ tướng nêu rõ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả là chủ trương nhất quán, xuyên suốt và được xác định rõ trong Cương lĩnh, Hiến pháp, Nghị quyết của Đảng. Đặc biệt, được thể hiện rõ trong Cương lĩnh, Nghị quyết Đại hội Đảng XIII, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030, kế hoạch 5 năm 2021-2025 và Hiến pháp năm 2013 và toàn bộ hệ thống pháp luật.

    Trong bối cảnh hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả là hết sức cần thiết, là tất yếu khách quan. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là một yếu tố then chốt để bảo đảm độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia dân tộc; là cách thức hiệu quả để nâng cao thế và lực của đất nước, phát huy sức mạnh dân tộc gắn với sức mạnh thời đại; là phương thức hữu hiệu góp phần giải quyết những vấn đề nội tại đặt ra đối với nền kinh tế.

    Thủ tướng nhấn mạnh một số điểm như độ mở của nền kinh tế lớn (gần 200% GDP), chịu tác động, ảnh hưởng nhanh, nhạy trước các cú sốc bên ngoài; khả năng hấp thụ, nội lực hóa ngoại lực còn hạn chế; yêu cầu cấp thiết phải xử lý các thách thức đối với phát triển bền vững; sự cần thiết phải huy động hiệu quả các nguồn lực, đa dạng hóa các chuỗi cung ứng nhất là trong bối cảnh thế giới đầy biến động, khó dự báo hiện nay…

    Về quan điểm, Thủ tướng nêu rõ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ phải dựa trên nền tảng bảo đảm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc và thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ dựa trên ý chí tự lực, tự cường và phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc gắn với sức mạnh thời đại.

    Về mục tiêu, Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra mục tiêu chiến lược đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

    Trên cơ sở đó, chúng ta xác định rõ một số mục tiêu chủ yếu như xây dựng nền kinh tế có cơ cấu hợp lý, hiệu quả, bền vững, nhất là phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp nền tảng, chế biến chế tạo, công nghiệp sau thu hoạch. Nâng cao sức chống chịu và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế; thích ứng linh hoạt, hiệu quả với những biến động tình hình quốc tế, khu vực và trong nước; tạo thế đan xen lợi ích trong hội nhập quốc tế. Cùng với đó, tận dụng tốt các cơ hội từ hội nhập quốc tế, tạo động lực thúc đẩy phục hồi nhanh trong ngắn hạn và phát triển bền vững trong trung và dài hạn.

    Đồng thời, cần đặc biệt chú trọng đến tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống người dân, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: Không “hy sinh” tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc về an ninh, quốc phòng; bảo đảm ổn định chính trị – xã hội; thúc đẩy hợp tác và cạnh tranh quốc tế.

    Về tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt, Thủ tướng nhấn mạnh, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả lấy lợi ích quốc gia dân tộc là mục tiêu cao nhất gắn với kết nối hòa bình, hợp tác, phát triển trong khu vực, thế giới; thể hiện rõ vai trò là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế và dựa trên cơ sở 3 trụ cột: Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, xây dựng nền dân chủ XHCN.

    Tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt khác là xác định rõ con người là trung tâm, là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa các yếu tố nền tảng là con người, tài nguyên thiên nhiên và truyền thống lịch sử, văn hóa. Phát huy giá trị văn hóa và tinh thần đoàn kết, trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, tài năng và phẩm chất của con người Việt Nam để thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

    Cùng với đó, khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển; trong đó nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định và ngoại lực là quan trọng, đột phá, thường xuyên; thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển hóa ngoại lực thành nội lực. Tạo chuyển biến rõ nét trong thực hiện các đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và hệ thống kết cấu hạ tầng. Tập trung hoàn thiện thể chế phát triển, cơ cấu lại nền kinh tế và phát triển doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nâng cao khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế, của các ngành, lĩnh vực, của doanh nghiệp và của sản phẩm.

    Trước hết phải tạo môi trường hòa bình, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị -xã hội, ổn định môi trường pháp lý, tạo nền tảng và điều kiện thuận lợi cho phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng. Ảnh VGP/Nhật Bắc

    Các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

    Về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, Thủ tướng nêu rõ, trước hết phải tạo môi trường hòa bình, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị -xã hội, ổn định môi trường pháp lý, tạo nền tảng và điều kiện thuận lợi cho phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

    Chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhà đầu tư, doanh nghiệp, người dân. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, tạo thế đan xen lợi ích; tích cực tham gia sâu, góp phần định hình “luật chơi” trong hội nhập quốc tế.

    Thứ hai, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đồng bộ, hiện đại, hội nhập, phù hợp với cam kết quốc tế. Phát triển đồng bộ các loại thị trường và các yếu tố thị trường hướng tới các chuẩn mực của một nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Tập trung hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp với thông lệ, cam kết quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam. Tuân thủ đầy đủ quy luật của thị trường nhưng có can thiệp của Nhà nước khi cần thiết để bảo vệ thị trường, bảo vệ doanh nghiệp, nhà đầu tư, người dân.

    Thứ ba, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế (thu chi, xuất nhập khẩu, lương thực thực phẩm, năng lượng và lao động). Phối hợp đồng bộ, hiệu quả, linh hoạt các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác. Tăng cường năng lực phân tích, dự báo, chủ động các kịch bản, phương án ứng phó phù hợp, kịp thời với những biến động, cú sốc từ bên ngoài.

    Thủ tướng đánh giá tại phiên chuyên đề thứ hai, Diễn đàn đã tập trung đánh giá thực trạng, tồn tại hạn chế và đề xuất, kiến nghị một số giải pháp phát triển thị trường vốn và thị trường bất động sản. Ông nhấn mạnh cần chú trọng bảo đảm hài hòa giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn; khắc phục bất cập của các thị trường này, xử lý nghiêm các sai phạm nhưng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, nhà đầu tư chân chính, đúng pháp luật.

    Việt Nam không lựa chọn nền kinh tế đóng mà luôn kiên định đường lối đổi mới, mở cửa, chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Ảnh VGP/Nhật Bắc

    Thứ tư, tập trung cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng một cách thực chất, hiệu quả hơn, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số, đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

    Trong đó, chú trọng xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, các ngành công nghiệp công nghiệp nền tảng, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển kinh tế đô thị, liên kết vùng, kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo…

    Tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả 3 trọng tâm cơ cấu lại nền kinh tế (cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công, tránh dàn trải, chia cắt, manh mún, kéo dài; cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng; cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước).

    Thủ tướng yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ để thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới công nghệ, khởi nghiệp, chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)…

    Tập trung thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, phát triển kinh tế xanh, chuyển đổi năng lượng, kinh tế tuần hoàn.

    Thứ năm, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, phát huy vai trò quan trọng của doanh nghiệp trong và ngoài nước.

    Theo đó, phải rà soát, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách tạo môi trường và điều kiện thuận lợi, bình đẳng cho việc huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực từ bên trong và bên ngoài cho phát triển. Tập trung phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng chiến lược. Thúc đẩy hợp tác công tư (PPP); phát triển các mô hình: Lãnh đạo công – quản trị tư; đầu tư công – quản lý tư; đầu tư tư – sử dụng công.

    Phát triển cộng đồng doanh nghiệp lớn mạnh, cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI trở thành lực lượng nòng cốt xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập. Hiện Việt Nam hiện có trên 800 nghìn doanh nghiệp có tính linh hoạt, khả năng thích ứng cao và đang nỗ lực phục hồi, phát triển. Tăng cường gắn kết giữa doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp trong nước; tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.

    Thứ sáu, phát triển nguồn nhân lực và quản trị quốc gia hiện đại.

    Thủ tướng lưu ý các cấp, các ngành cần chú trọng phát triển nhân lực chất lượng cao có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế, chú trọng đào tạo kỹ năng, kiến thức pháp luật, hội nhập, nêu cao bản sắc văn hóa, ý chí, khát vọng phát triển, nhất là nguồn nhân lực có đủ khả năng cạnh tranh và làm việc trong môi trường quốc tế…

    Đẩy mạnh đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo, chuyển mạnh từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

    Chú trọng chuyển từ kế hoạch hóa gia đình sang chiến lược dân số và phát triển, nhấn mạnh vai trò của con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng nhất của quá trình phát triển.

    Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu quả hệ thống quản trị quốc gia; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với phân bổ nguồn lực hợp lý, nâng cao năng lực cấp dưới và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực.

    Không lựa chọn nền kinh tế đóng mà luôn kiên định đường lối đổi mới, mở cửa

    Kết luận bài phát biểu, Thủ tướng một lần nữa nhấn mạnh, việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta trong tình hình mới.

    “Việt Nam khẳng định chủ trương nhất quán: Một là, không lựa chọn nền kinh tế đóng mà luôn kiên định đường lối đổi mới, mở cửa, chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Hai là, tạo môi trường pháp lý phù hợp, ổn định và điều kiện thuận lợi, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các doanh nghiệp, đối tác đầu tư, kinh doanh lâu dài, hiệu quả, bền vững trên nguyên tắc “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ” và tuân thủ pháp luật. Ba là, Việt Nam mong muốn là bạn tốt, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm và sẵn sàng chung tay cùng cộng đồng quốc tế giải quyết các thách thức có tính chất toàn cầu, toàn dân”, Thủ tướng nhấn mạnh.

    Phát huy truyền thống tốt đẹp và những thành tựu, kết quả quan trọng đã đạt được, Thủ tướng mong muốn và tin tưởng rằng, các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước tiếp tục đoàn kết, chung sức, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tập trung khắc phục những hạn chế, bất cập, vượt qua khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và bảo đảm lợi ích của các nhà đầu tư.

    Theo Chinhphu.vn

  • Việt Nam không lựa chọn nền kinh tế đóng, tự tin xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả

    Việt Nam không lựa chọn nền kinh tế đóng, tự tin xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả

    Thủ tướng nhấn mạnh, Việt Nam không lựa chọn nền kinh tế đóng mà luôn kiên định đường lối đổi mới, mở cửa, tự tin xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Đây là chủ trương đúng đắn, nhất quán, xuyên suốt, khách quan và có hiệu quả của Đảng, Nhà nước ta.

    Việt Nam không lựa chọn nền kinh tế đóng, tự tin xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Ảnh VGP/Nhật Bắc

    Chiều 5/6, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự phiên toàn thể – tọa đàm cấp cao của Diễn đàn Kinh tế Việt Nam lần thứ 4 với chủ đề “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập kinh tế sâu rộng trong tình hình mới”.

    Phát biểu tại đây, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao Ban Kinh tế Trung ương đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan, địa phương chuẩn bị kỹ lưỡng, nghiêm túc, công phu và tổ chức chu đáo diễn đàn quan trọng này.

    Thủ tướng trân trọng cảm ơn đại diện các cơ quan, tổ chức quốc tế, trong nước, các chuyên gia, nhà khoa học đã tham dự và phát biểu, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm, chân thành, thẳng thắn, có căn cứ khoa học, thực tiễn. Các chủ đề thảo luận của diễn đàn vừa có tính chất cơ bản, lâu dài, vừa thời sự, vừa giai quyết những vấn đề chiến lược, vừa xử lý những vấn đề tình thế.

    Giữ được ổn định trong một thế giới biến động là điều quan trọng nhất

    Theo Thủ tướng, diễn đàn thống nhất cao và khẳng định chủ trương đúng đắn, nhất quán, xuyên suốt, khách quan và có hiệu quả của Đảng, Nhà nước ta là kiên định đường lối đổi mới, tập trung xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế là một trong 9 mối quan hệ lớn được Đảng ta khẳng định.

    Cùng với đó, Việt Nam xác định cách tiếp cận toàn cầu (đề cao đoàn kết, hợp tác quốc tế, chủ nghĩa đa phương) và tiếp cận toàn dân (lấy người dân làm trung tâm, làm chủ thể, mọi chính sách hướng tới người dân và mọi người dân phải tham gia) với các vấn đề như ứng phó dịch bệnh COVID-19, biến đổi khí hậu…

    Việt Nam xác định lấy nội lực (con người, thiên nhiên, truyền thống lịch sử – văn hóa) là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định, kết hợp hài hòa với ngoại lực (như công nghệ, quản trị, tài chính, hỗ trợ đào tạo nhân lực…) là quan trọng, đột phá, thường xuyên.

    Trong hơn 35 năm Đổi mới, chính việc thực hiện hiệu quả các chủ trương nói trên đã góp phần làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

    Chúng ta vẫn giữ được ổn định trong một thế giới biến động, đây là điều quan trọng nhất, khẳng định sự tự tin của chúng ta để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Ảnh VGP/Nhật Bắc

    Qua hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đối diện rất nhiều biến cố từ thế giới bên ngoài và từ nội tại nền kinh tế. Tuy nhiên, đến nay, chúng ta vẫn giữ được ổn định trong một thế giới biến động, đây là điều quan trọng nhất, khẳng định sự tự tin của chúng ta để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả.

    Thủ tướng nhấn mạnh, việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách phải luôn trên cơ sở tôn trọng thực tiễn, bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo.

    Thủ tướng lấy ví dụ, khi chưa đủ vaccine, thuốc chữa bệnh, chưa có kinh nghiệm trước biến chủng Delta hết sức nguy hiểm, lây lan nhanh hơn chủng cũ nhiều lần, chúng ta buộc phải áp dụng các biện pháp hành chính nghiêm ngặt để phòng chống COVID-19.

    Sau đó, khi đạt độ bao phủ vaccine nhất định, tổng kết được các kinh nghiệm chống dịch, nâng cao được năng lực y tế, chúng ta chuyển sang thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh trên cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, tự tin mở cửa trở lại, phục hồi nhanh và phát triển bền vững kinh tế – xã hội.

    Đứng trước dịch bệnh COVID-19, chúng ta tự quyết số phận của mình, nhưng mặt khác, không quốc gia nào, không người nào có thể tự chống dịch, do đó, phải đề cao hợp tác quốc tế và chủ nghĩa đa phương, Thủ tướng nói.

    Người đứng đầu Chính phủ nhắc lại một số quyết định cho thấy sự đúng đắn và tự tin trong các quyết sách phòng chống dịch của Đảng, Nhà nước ta, như thảo luận và quyết định tổ chức SEA Games 31 vừa qua ở thời điểm tháng 10-11 năm 2021 ngay khi chúng ta vừa chuyển trạng thái phòng chống dịch, hay quyết định mở cửa du lịch vào 15/3 khi Hà Nội đang ở đỉnh dịch.

    Nêu rõ tình hình sẽ luôn có khó khăn, thách thức, Thủ tướng nhấn mạnh quan điểm khó khăn, thách thức nhiều hơn là cơ hội và thuận lợi, chúng ta tự tin, không hoang mang, lo sợ, mất bản lĩnh, cũng không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác để ứng phó với mọi diễn biến của tình hình.

    Thủ tướng Phạm Minh Chính: Định hướng “độc lập, tự chủ gắn với hội nhập” xuất phát từ tư tưởng xuyên suốt của Đảng ta về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Ảnh VGP/Nhật Bắc

    Bảo đảm độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia, nâng cao thế và lực của đất nước, giải quyết những vấn đề nội tại

    Chia sẻ một số nội dung có tính chất gợi mở, định hướng để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện về chủ đề quan trọng này, Thủ tướng tập trung phân tích về sự cần thiết, các quan điểm, mục tiêu, tư tưởng chủ đạo, các nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả.

    Về sự cần thiết, Thủ tướng nêu rõ, định hướng “độc lập, tự chủ gắn với hội nhập” xuất phát từ tư tưởng xuyên suốt của Đảng ta về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ theo tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” gắn với mở cửa và hợp tác quốc tế. Cách đây 76 năm, trong Lời kêu gọi Liên Hợp Quốc (tháng 12/1946), Người nêu rõ: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”. 

    Thủ tướng nêu rõ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả là chủ trương nhất quán, xuyên suốt và được xác định rõ trong Cương lĩnh, Hiến pháp, Nghị quyết của Đảng. Đặc biệt, được thể hiện rõ trong Cương lĩnh, Nghị quyết Đại hội Đảng XIII, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030, kế hoạch 5 năm 2021-2025 và Hiến pháp năm 2013 và toàn bộ hệ thống pháp luật.

    Trong bối cảnh hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả là hết sức cần thiết, là tất yếu khách quan. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là một yếu tố then chốt để bảo đảm độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia dân tộc; là cách thức hiệu quả để nâng cao thế và lực của đất nước, phát huy sức mạnh dân tộc gắn với sức mạnh thời đại; là phương thức hữu hiệu góp phần giải quyết những vấn đề nội tại đặt ra đối với nền kinh tế.

    Thủ tướng nhấn mạnh một số điểm như độ mở của nền kinh tế lớn (gần 200% GDP), chịu tác động, ảnh hưởng nhanh, nhạy trước các cú sốc bên ngoài; khả năng hấp thụ, nội lực hóa ngoại lực còn hạn chế; yêu cầu cấp thiết phải xử lý các thách thức đối với phát triển bền vững; sự cần thiết phải huy động hiệu quả các nguồn lực, đa dạng hóa các chuỗi cung ứng nhất là trong bối cảnh thế giới đầy biến động, khó dự báo hiện nay…

    Về quan điểm, Thủ tướng nêu rõ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ phải dựa trên nền tảng bảo đảm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc và thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ dựa trên ý chí tự lực, tự cường và phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc gắn với sức mạnh thời đại.

    Về mục tiêu, Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra mục tiêu chiến lược đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

    Trên cơ sở đó, chúng ta xác định rõ một số mục tiêu chủ yếu như xây dựng nền kinh tế có cơ cấu hợp lý, hiệu quả, bền vững, nhất là phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp nền tảng, chế biến chế tạo, công nghiệp sau thu hoạch. Nâng cao sức chống chịu và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế; thích ứng linh hoạt, hiệu quả với những biến động tình hình quốc tế, khu vực và trong nước; tạo thế đan xen lợi ích trong hội nhập quốc tế. Cùng với đó, tận dụng tốt các cơ hội từ hội nhập quốc tế, tạo động lực thúc đẩy phục hồi nhanh trong ngắn hạn và phát triển bền vững trong trung và dài hạn.

    Đồng thời, cần đặc biệt chú trọng đến tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống người dân, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: Không “hy sinh” tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc về an ninh, quốc phòng; bảo đảm ổn định chính trị – xã hội; thúc đẩy hợp tác và cạnh tranh quốc tế.

    Về tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt, Thủ tướng nhấn mạnh, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả lấy lợi ích quốc gia dân tộc là mục tiêu cao nhất gắn với kết nối hòa bình, hợp tác, phát triển trong khu vực, thế giới; thể hiện rõ vai trò là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế và dựa trên cơ sở 3 trụ cột: Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, xây dựng nền dân chủ XHCN.

    Tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt khác là xác định rõ con người là trung tâm, là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa các yếu tố nền tảng là con người, tài nguyên thiên nhiên và truyền thống lịch sử, văn hóa. Phát huy giá trị văn hóa và tinh thần đoàn kết, trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, tài năng và phẩm chất của con người Việt Nam để thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

    Cùng với đó, khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển; trong đó nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định và ngoại lực là quan trọng, đột phá, thường xuyên; thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển hóa ngoại lực thành nội lực. Tạo chuyển biến rõ nét trong thực hiện các đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và hệ thống kết cấu hạ tầng. Tập trung hoàn thiện thể chế phát triển, cơ cấu lại nền kinh tế và phát triển doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nâng cao khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế, của các ngành, lĩnh vực, của doanh nghiệp và của sản phẩm.

    Trước hết phải tạo môi trường hòa bình, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị -xã hội, ổn định môi trường pháp lý, tạo nền tảng và điều kiện thuận lợi cho phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng. Ảnh VGP/Nhật Bắc

    Các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

    Về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, Thủ tướng nêu rõ, trước hết phải tạo môi trường hòa bình, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị -xã hội, ổn định môi trường pháp lý, tạo nền tảng và điều kiện thuận lợi cho phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

    Chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhà đầu tư, doanh nghiệp, người dân. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, tạo thế đan xen lợi ích; tích cực tham gia sâu, góp phần định hình “luật chơi” trong hội nhập quốc tế.

    Thứ hai, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đồng bộ, hiện đại, hội nhập, phù hợp với cam kết quốc tế. Phát triển đồng bộ các loại thị trường và các yếu tố thị trường hướng tới các chuẩn mực của một nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Tập trung hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp với thông lệ, cam kết quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam. Tuân thủ đầy đủ quy luật của thị trường nhưng có can thiệp của Nhà nước khi cần thiết để bảo vệ thị trường, bảo vệ doanh nghiệp, nhà đầu tư, người dân.

    Thứ ba, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế (thu chi, xuất nhập khẩu, lương thực thực phẩm, năng lượng và lao động). Phối hợp đồng bộ, hiệu quả, linh hoạt các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác. Tăng cường năng lực phân tích, dự báo, chủ động các kịch bản, phương án ứng phó phù hợp, kịp thời với những biến động, cú sốc từ bên ngoài.

    Thủ tướng đánh giá tại phiên chuyên đề thứ hai, Diễn đàn đã tập trung đánh giá thực trạng, tồn tại hạn chế và đề xuất, kiến nghị một số giải pháp phát triển thị trường vốn và thị trường bất động sản. Ông nhấn mạnh cần chú trọng bảo đảm hài hòa giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn; khắc phục bất cập của các thị trường này, xử lý nghiêm các sai phạm nhưng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, nhà đầu tư chân chính, đúng pháp luật.

    Việt Nam không lựa chọn nền kinh tế đóng mà luôn kiên định đường lối đổi mới, mở cửa, chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Ảnh VGP/Nhật Bắc

    Thứ tư, tập trung cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng một cách thực chất, hiệu quả hơn, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số, đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

    Trong đó, chú trọng xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, các ngành công nghiệp công nghiệp nền tảng, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển kinh tế đô thị, liên kết vùng, kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo…

    Tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả 3 trọng tâm cơ cấu lại nền kinh tế (cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công, tránh dàn trải, chia cắt, manh mún, kéo dài; cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng; cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước).

    Thủ tướng yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ để thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới công nghệ, khởi nghiệp, chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)…

    Tập trung thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, phát triển kinh tế xanh, chuyển đổi năng lượng, kinh tế tuần hoàn.

    Thứ năm, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, phát huy vai trò quan trọng của doanh nghiệp trong và ngoài nước.

    Theo đó, phải rà soát, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách tạo môi trường và điều kiện thuận lợi, bình đẳng cho việc huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực từ bên trong và bên ngoài cho phát triển. Tập trung phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng chiến lược. Thúc đẩy hợp tác công tư (PPP); phát triển các mô hình: Lãnh đạo công – quản trị tư; đầu tư công – quản lý tư; đầu tư tư – sử dụng công.

    Phát triển cộng đồng doanh nghiệp lớn mạnh, cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI trở thành lực lượng nòng cốt xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập. Hiện Việt Nam hiện có trên 800 nghìn doanh nghiệp có tính linh hoạt, khả năng thích ứng cao và đang nỗ lực phục hồi, phát triển. Tăng cường gắn kết giữa doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp trong nước; tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.

    Thứ sáu, phát triển nguồn nhân lực và quản trị quốc gia hiện đại.

    Thủ tướng lưu ý các cấp, các ngành cần chú trọng phát triển nhân lực chất lượng cao có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế, chú trọng đào tạo kỹ năng, kiến thức pháp luật, hội nhập, nêu cao bản sắc văn hóa, ý chí, khát vọng phát triển, nhất là nguồn nhân lực có đủ khả năng cạnh tranh và làm việc trong môi trường quốc tế…

    Đẩy mạnh đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo, chuyển mạnh từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

    Chú trọng chuyển từ kế hoạch hóa gia đình sang chiến lược dân số và phát triển, nhấn mạnh vai trò của con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng nhất của quá trình phát triển.

    Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu quả hệ thống quản trị quốc gia; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với phân bổ nguồn lực hợp lý, nâng cao năng lực cấp dưới và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực.

    Không lựa chọn nền kinh tế đóng mà luôn kiên định đường lối đổi mới, mở cửa

    Kết luận bài phát biểu, Thủ tướng một lần nữa nhấn mạnh, việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta trong tình hình mới.

    “Việt Nam khẳng định chủ trương nhất quán: Một là, không lựa chọn nền kinh tế đóng mà luôn kiên định đường lối đổi mới, mở cửa, chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Hai là, tạo môi trường pháp lý phù hợp, ổn định và điều kiện thuận lợi, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các doanh nghiệp, đối tác đầu tư, kinh doanh lâu dài, hiệu quả, bền vững trên nguyên tắc “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ” và tuân thủ pháp luật. Ba là, Việt Nam mong muốn là bạn tốt, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm và sẵn sàng chung tay cùng cộng đồng quốc tế giải quyết các thách thức có tính chất toàn cầu, toàn dân”, Thủ tướng nhấn mạnh.

    Phát huy truyền thống tốt đẹp và những thành tựu, kết quả quan trọng đã đạt được, Thủ tướng mong muốn và tin tưởng rằng, các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước tiếp tục đoàn kết, chung sức, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tập trung khắc phục những hạn chế, bất cập, vượt qua khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và bảo đảm lợi ích của các nhà đầu tư.

    Theo Chinhphu.vn

  • Vải thiều Bắc Giang lần đầu xuất hiện trong Lễ hội Việt Nam tại Nhật Bản

    Vải thiều Bắc Giang lần đầu xuất hiện trong Lễ hội Việt Nam tại Nhật Bản

    Với sự nỗ lực của cơ quan chức năng, chính quyền tỉnh Bắc Giang và doanh nghiệp, vải tươi Việt Nam, trong đó có vải thiều Bắc Giang lần đầu có mặt trong Lễ hội Việt Nam tại Tokyo năm 2022. 

    Vải thiều Bắc Giang được đông đảo người tiêu dùng Nhật Bản quan tâm. Ảnh CTV.

    Vải thiều Bắc Giang được đông đảo người tiêu dùng Nhật Bản quan tâm. Ảnh CTV.

    Lễ hội Việt Nam tại Tokyo 2022 diễn ra từ ngày 4 đến 5/6. Tại đây, Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản phối hợp với UBND tỉnh Bắc Giang và hai doanh nghiệp là  Công ty cổ phần Ameii Việt Nam, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Toàn Cầu giới thiệu trực tiếp vải tươi tới khách tham quan lễ hội. Du khách được trải nghiệm và có cơ hội ăn thử và cảm nhận vị ngon của trái vải tươi.

    Theo Tham tán Thương mại Tạ Đức Minh (Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản), Lễ hội Việt Nam tại Tokyo được Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản tổ chức thường niên kể từ 2008, là một sự kiện nằm trong chiến dịch quảng bá hình ảnh Việt Nam ở Nhật Bản, qua đó góp phần tăng cường giao lưu văn hóa, sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước. 

    Được biết, sau thời gian dài đàm phán, quả vải tươi Việt Nam được Chính phủ Nhật Bản chính thức cho phép nhập khẩu từ ngày 15/12/2019. Trong hơn hai năm qua, Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản đã tổ chức nhiều hoạt động quảng bá, giới thiệu quả vải tươi Việt Nam. 

    “Vào thời điểm mùa hè thì trái vải Việt Nam là một trong những loại hoa quả nhập khẩu được người tiêu dùng Nhật Bản mong chờ nhất. Trong vụ thu hoạch năm 2020 và 2021, trái vải tươi Việt Nam đã thâm nhập thị trường Nhật Bản rất thành công, lượng nhập khẩu năm đầu tiên đạt khoảng 40 tấn và tăng cao trong năm tiếp theo, đạt khoảng 300 – 400 tấn” – Tham tán Thương mại Tạ Đức Minh cho biết.  

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Điện khí tự nhiên hóa lỏng thu hút nhà đầu tư

    Điện khí tự nhiên hóa lỏng thu hút nhà đầu tư

    Điện khí tự nhiên hóa lỏng vẫn là một phần quan trọng trong câu chuyện chuyển đổi năng lượng của Việt Nam. Các nhà đầu tư liên tục thể hiện sự quan tâm mạnh mẽ đến lĩnh vực này.

    heo dự thảo mới nhất của Quy hoạch Phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2045 (Quy hoạch điện VIII), nhiệt điện sử dụng khí sản xuất trong nước (gồm nhà máy điện tua-bin khí) và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) – không bao gồm các nguồn điện tua-bin khí linh hoạt sử dụng LNG – đến năm 2030 có tổng công suất lắp đặt khoảng 29.700-38.800 MW, chiếm 24-29% tổng sản lượng điện quốc gia.

    Đến năm 2045, tổng công suất LNG lắp đặt khoảng 43.300-46.300 MW, sản xuất 233,6-246 tỷ kWh và chiếm 20-24% tổng sản lượng điện.

    Xu hướng chính sách đó đã được chứng minh bằng tuyên bố của Việt Nam tại Hội nghị lần thứ 26 Các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26) hồi tháng 11 năm 2021 về việc đặt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trong đó, LNG được coi là một giải pháp giảm phát thải khí nhà kính đầy tiềm năng, đồng thời giúp huy động và thu hút nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước.

    Tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) hồi đầu năm, Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ (AmCham) nhấn mạnh, khí đốt có thể đóng vai trò là nhiên liệu chuyển đổi quan trọng và giúp Việt Nam xây dựng cầu nối hướng tới năng lượng sạch. Quá trình chuyển đổi sẽ mất nhiều thời gian và trong tương lai gần, sự phát triển của các dự án khí đốt thành điện ngoài khơi và những dự án khác có tiềm năng mang lại lợi ích cả về kinh tế và môi trường.

    Theo đại diện các doanh nghiệp và hiệp hội tại VBF, việc đưa ra quyết định chính xác và công nghệ mới với hỗn hợp khí đốt và năng lượng tái tạo có thể giúp Việt Nam giải quyết các mối quan tâm ngày càng cao về môi trường và tránh được nhiều vấn đề môi trường mà các nước như Hoa Kỳ và Trung Quốc đã trải qua.

    Một số giao dịch đã được triển khai thực hiện trong lĩnh vực này. Trong cuộc họp giữa Tập đoàn AES (Hoa Kỳ) và Tổng công ty Khí Việt Nam (PV Gas) cuối năm ngoái, ông Bernerd Da Santos, Phó chủ tịch điều hành, kiêm Tổng giám đốc AES cho biết, việc ký kết thỏa thuận liên doanh phát triển Dự án Kho cảng Sơn Mỹ LNG giữa AES và PetroVietnam là “một dấu mốc quan trọng cho sự phát triển nguồn năng lượng LNG của Việt Nam”, đồng thời góp phần quan trọng trong việc giảm phát thải tại Việt Nam theo cam kết tại COP26.

    Tập đoàn AES đã duy trì cam kết đối với sự tăng trưởng kinh tế và xã hội của Việt Nam bằng cách đầu tư vào các giải pháp năng lượng bền vững và đáng tin cậy, như phát triển nhà máy điện tua-bin khí Sơn Mỹ 2 (tổng công suất 2,2 GW, tổng vốn đầu tư 1,9 tỷ USD) và liên doanh Kho cảng Sơn Mỹ LNG (công suất 3,6 triệu tấn/năm, tổng vốn đầu tư 1,31 tỷ USD) tại tỉnh Bình Thuận.

    Việt Nam có gần 20 nhà máy nhiệt điện LNG đang được triển khai trên toàn quốc, bao gồm Dự án Nhà máy Nhiệt điện khí LNG Bạc Liêu 3.200 MW của Delta Offshore Energy và LNG Quảng Ninh do PV Power, Colavi, Tokyo Gas, ExxonMobil triển khai thực hiện. Tuy nhiên, một số sáng kiến này vẫn chưa xác định rõ nguồn nhiên liệu.

    Mặc dù Việt Nam đã đặt mục tiêu bắt đầu nhập khẩu LNG trong năm nay, nhưng vẫn thiếu cơ sở hạ tầng hỗ trợ. Do đó, các nhà đầu tư tham gia lĩnh vực này có thể cần đầu tư cho tất cả các khâu trong chuỗi LNG và đảm bảo hoạt động trơn tru của các dự án của họ. Điều này sẽ kéo theo các quy trình phê duyệt quy định phức tạp và kéo dài liên quan đến từng thành phần của chuỗi.

    Theo PV Gas, trong năm 2021, Tổng công ty đã ký 8 thỏa thuận mua bán tổng thể với các nhà cung cấp đến từ châu Mỹ, châu Âu, châu Úc, Trung Đông, châu Á – Thái Bình Dương và đang tiếp tục đàm phán, thống nhất và ký kết các thỏa thuận với nhiều nhà cung cấp LNG khác trên thế giới. Việc đa dạng hóa nhà cung cấp tạo cho PV Gas lợi thế có nhiều sự lựa chọn về nguồn cung với giá cả và chất lượng cạnh tranh.

    Nhu cầu mạnh, sản xuất trong nước yếu và các chính sách hỗ trợ đồng nghĩa với việc châu Á sẽ chiếm 95% tăng trưởng nhu cầu LNG toàn cầu từ năm 2020 đến cuối năm 2022. Trong khi đó, châu Á là điểm đến hàng đầu cho các dự án LNG của Hoa Kỳ kể từ khi nước này bắt đầu xuất hàng vào năm 2016. 

    Theo baodautu.vn

  • Môi trường pháp lý công bằng, minh bạch là tiền đề hút vốn từ Hoa Kỳ

    Môi trường pháp lý công bằng, minh bạch là tiền đề hút vốn từ Hoa Kỳ

    Theo quan điểm của hầu hết nhà đầu tư Hoa Kỳ, yếu tố quan trọng với hoạt động kinh doanh và duy trì tăng trưởng của chuỗi cung ứng sản xuất là môi trường pháp lý công bằng, minh bạch.

    hà đầu tư nhận thấy, cải cách trong lĩnh vực tài chính sẽ tạo sức hút đối với đầu tư nước ngoài. Họ cũng khuyến khích cải cách để đạt được mức xếp hạng tín nhiệm cho Việt Nam. Cả hai điều này đều là các bước quan trọng để thu hút vốn của Hoa Kỳ.

    Tính minh bạch và khả năng dự đoán trong hệ thống thuế của Việt Nam sẽ củng cố thêm môi trường đầu tư, đặc biệt là tránh các phán quyết và đánh giá có hiệu lực hồi tố.

    Trong thế giới ngày nay, chuyển đổi số đã làm giảm đáng kể chi phí, cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho nhiều người tiêu dùng và doanh nghiệp hơn, đồng thời tăng khả năng tiếp cận các thị trường mới. Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực thương mại điện tử, fintech, edtech và nền kinh tế sáng tạo. Để phát huy hết tiềm năng của mình, Việt Nam cần đảm bảo một môi trường pháp lý thuận lợi, phù hợp với các thông lệ quốc tế.

    Công ty Hoa Kỳ mong muốn có những đối thoại liên tục giữa khu vực tư nhân Hoa Kỳ và Chính phủ, các bộ, ban, ngành để đảm bảo các quy định mới khuyến khích các chính sách mở, minh bạch và nhất quán, bảo vệ sở hữu trí tuệ…

    Để phát huy hết tiềm năng của mình, Việt Nam cần đảm bảo một môi trường pháp lý thuận lợi, phù hợp với các thông lệ quốc tế.

    Các tập đoàn Hoa Kỳ cũng đang gia tăng nhu cầu về năng lượng sạch cho các hoạt động trong tương lai tại Việt Nam. Quá trình chuyển đổi năng lượng của Việt Nam sẽ tạo ra lợi ích cho nền kinh tế rộng lớn hơn và giúp Việt Nam thực hiện các cam kết mạnh mẽ đã đưa ra tại Hội nghị lần thứ 26 Các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26).

    Dự thảo Quy hoạch Điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045 (Quy hoạch Điện VIII) áp dụng một số cải tiến mới, như hydro, khả năng lưu trữ và các loại năng lượng tái tạo khác, theo đó sẽ thúc đẩy hợp tác đầu tư và thương mại giữa hai nước. Đây là lĩnh vực được các nhà đầu tư Hoa Kỳ ưu tiên hàng đầu.

    Để thu hút các nhà đầu tư của Hoa Kỳ và giảm bớt nhiệt điện than, Việt nam cần có chính sách cho việc thực hiện Quy hoạch Điện VIII với khả năng vay vốn và tiếp cận từ các ngân hàng, tính khả thi về mặt kinh tế và phát thải thấp hơn.

    Các công ty Hoa Kỳ rất mong muốn tham gia vào quá trình thảo luận của khu vực tư nhân với các cơ quan chức năng của Việt Nam trong việc tạo khung khổ pháp lý cho các dự án năng lượng chất lượng cao tiếp cận nguồn vốn từ các thị trường tài chính quốc tế, đồng thời, giúp phát triển các nhà phát triển, công ty điện lực Việt Nam thu hút nguồn tài chính quốc tế cần thiết và đáp ứng các quá trình thẩm định tài chính quốc tế.

    Giá điện FIT đã đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư và sản xuất năng lượng tái tạo, đưa Việt Nam trở thành quốc gia dẫn đầu về năng lực năng lượng tái tạo trong khu vực Đông Nam Á.

    Tuy nhiên, các nhà đầu tư Hoa Kỳ cho rằng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) không thể tiếp tục trả các khoản trợ cấp và chịu lỗ từ việc bán điện. EVN mạnh về tài chính là điều kiện tiên quyết để phát triển điện bền vững cho các khoản đầu tư của Hoa Kỳ. Ngoài ra, EVN mạnh về tài chính và các hợp đồng mua bán điện dễ tiếp cận vốn sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tư nhân Hoa Kỳ có thể tiếp cận nguồn tài chính xanh với chi phí thấp hơn và giảm phát thải CO2.

    Đại dịch cũng cho thấy tầm quan trọng của các hạ tầng như cảng, sân bay, đường sá, cầu… Các dự án hạ tầng góp phần tạo ra không khí sạch, nước sạch và môi trường trong lành, có thể mang lại lợi ích cho đầu tư, thương mại và du lịch, trong đó các nhà đầu tư Hoa Kỳ có thế mạnh về công nghệ, bí quyết và tài chính.

    Nguồn nhân lực cũng rất quan trọng và các nhà đầu tư Hoa Kỳ cam kết giúp phát triển lực lượng lao động cạnh tranh toàn cầu tại Việt Nam. Các nhà đầu tư đã và đang hỗ trợ nâng cấp các chương trình đào tạo nghề như chìa khóa cho nhu cầu lao động có kỹ năng. Các lĩnh vực quan trọng cần được đào tạo và cung cấp thêm thông tin như năng lượng, hạ tầng và môi trường.

    Các công ty Hoa Kỳ muốn đầu tư hơn nữa vào hệ thống chăm sóc sức khỏe Việt Nam như một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bao gồm chuyển giao công nghệ thuốc và giảm gánh nặng pháp lý để đảm bảo cung cấp các loại thuốc quan trọng và hỗ trợ đầu tư phát triển lĩnh vực dược phẩm.

    Các nhà đầu tư Mỹ lạc quan về tương lai tại Việt Nam. Chúng tôi tin rằng, những tiến bộ thực chất trong các vấn đề nêu trên sẽ tạo điều kiện cho môi trường đầu tư lành mạnh và linh hoạt, đồng thời thúc đẩy cạnh tranh kinh tế.

    Theo baodautu.vn

  • Thứ trưởng Trần Duy Đông: Việt Nam vẫn là điểm sáng trên bản đồ thu hút FDI

    Thứ trưởng Trần Duy Đông: Việt Nam vẫn là điểm sáng trên bản đồ thu hút FDI

    Ông Trần Duy Đông, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư phát biểu tại Diễn đàn Bất động sản Công nghiệp 2022, do Báo Đầu tư phối hợp với Công ty BW Industrial đồng tổ chức ngày 24/5.

    Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Duy Đông cho hay, kể từ khi Diễn đàn bất động sản công nghiệp lần thứ nhất được Báo Đầu tư và BW Industrial tổ chức vào tháng 10/2020 đến nay, quy mô và xu hướng của dòng vốn đầu tư toàn cầu tiếp tục có sự thay đổi mạnh mẽ do ảnh hưởng của các yếu tố địa chính trị trên thế giới và đặc biệt là đại dịch Covid-19.

    Ông Trần Duy Đông, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư phát biểu tại Diễn đàn Bất động sản Công nghiệp 2022 (ảnh: Lê Toàn)

     

    Theo ông Đông, dịch bệnh đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng, gián đoạn các hoạt động luân chuyển hàng hóa, làm trì hoãn tiến độ thực hiện các dự án, khiến các tập đoàn, tổng công ty đa quốc gia buộc phải tính toán chiến lược đầu tư, các nước đều phải nghiên cứu thay đổi chính sách thu hút đầu tư cho phù hợp với bối cảnh mới.

    Trong bối cảnh đó, Việt Nam vẫn là điểm sáng trên bản đồ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Các nhà đầu tư đến từ châu Á, châu Âu, Hoa Kỳ và ASEAN tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam.

    Trong năm 2021, mặc dù dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều địa phương phải thực hiện giãn cách xã hội nhưng vốn FDI vào Việt Nam vẫn đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020. Vốn đầu tư đăng ký mới và điều chỉnh đều tăng, đặc biệt vốn đầu tư mở rộng tăng mạnh tới 40,5%.

    Ông Lê Trọng Minh, Tổng Biên tập Báo Đầu tư khai mạc Diễn đàn (ảnh Lê Toàn)

    Bốn tháng đầu năm 2022, đã có 10,8 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam. Trong đó, vốn đầu tư tăng thêm là 5,29 tỷ USD, tăng 92,5% so với cùng kỳ. Vốn điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần tăng mạnh, lần lượt là 92,5% và 74,5% so với cùng kỳ, cho thấy sự tin tưởng của các nhà đầu tư tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư kinh doanh và các giải pháp, chính sách phục hồi kinh tế sau dịch Covid-19. 

    “Việc đại biểu, nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục coi Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn có nguyên nhân quan trọng từ những giải pháp rất hiệu quả của cả Chính phủ, doanh nghiệp và người dân trong việc kiểm soát linh hoạt, hiệu quả dịch Covid-19 để thúc đẩy sản xuất – kinh doanh và phục hồi phát triển kinh tế”, ông Trần Duy Đông nói và cho biết thêm, Chính phủ đã thực hiện đồng bộ các giải pháp để tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh, thương mại dịch vụ, đời sống nhân dân trở lại bình thường. 

    Đặc biệt, cùng với việc đẩy nhanh tỷ lệ tiêm phủ vaccine, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 11 thực hiện Nghị quyết 43 của Quốc hội về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội.

    Toàn cảnh Diễn đàn
    Toàn cảnh Diễn đàn

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Với môi trường chính trị ổn định và quyết tâm cao của Chính phủ trong việc triển khai các giải pháp nêu trên, Quý I/2022, GDP của Việt Nam tăng trưởng 5,03% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng trưởng 4,7% của quý I/2021 và mức 3,7% của quý I/2020, cho thấy đà phục hồi kinh tế đã trở nên rõ nét hơn. 

    Đặc biệt, hoạt động xuất nhập khẩu trở thành điểm sáng. Bốn tháng đầu năm 2022, tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước đạt 242,43 tỷ USD, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục có đóng góp quan trọng khi khu vực này đạt tổng trị giá xuất nhập khẩu  168,37 tỷ USD, tăng 14,9%. 

    Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA tiếp tục đóng vai trò là động lực tích cực cho tăng trưởng kinh tế nói chung và hoạt động giao thương của Việt Nam với quốc tế nói riêng trong giai đoạn sau dịch. 

    Việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu trong bối cảnh nhu cầu hàng hóa của thế giới tăng cao sẽ càng tăng cường vị thế của Việt Nam như một điểm đến hấp dẫn cho các nhà sản xuất, là một phần của chuỗi cung ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay. 

    Chẳng hạn, mới đây, các nhà đầu tư Nhật Bản đã chọn Việt Nam là mắt xích quan trọng trong hình thành chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ đó nhu cầu đối với bất động sản công nghiệp cũng sẽ tăng theo.

    Mặc dù có nhiều cơ hội như nêu trên, nhưng cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư FDI cũng đang diễn ra quyết liệt, đặc biệt là giữa các nước trong khu vực trong bối cảnh hoạt động đầu tư vẫn đang chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch cũng như những căng thẳng địa chính trị trên thế giới.  

    Chính vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam cần tập trung thực hiện biện pháp phát triển các ngành dịch vụ theo chiều sâu; tăng năng suất khu vực dịch vụ và khu vực sản xuất kinh doanh, hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống kết cấu hạ tầng; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; bổ sung chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ; bổ sung các chính sách nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư FDI hiệu quả, chất lượng cao. 

    Đồng thời, sự phát triển theo cấp số nhân của thương mại điện tử, đặc biệt là sự gia tăng đột biến của hình thái giao thương hiện đại này trong thời kỳ đại dịch đã thúc đẩy nhu cầu rất lớn về bất động sản kho bãi, dịch vụ logistics… Trong bối cảnh đó, cần có thêm những chính sách, cơ chế để ngành công nghiệp hậu cần và kho bãi trở thành một cấu phần quan trọng của ngành bất động sản công nghiệp.

    Các nhà đầu tư trao đổi trước khi Diễn đàn bất động sản Công nghiệp Việt Nam 2022 khai mạc
    Các nhà đầu tư trao đổi trước khi Diễn đàn Bất động sản Công nghiệp Việt Nam 2022 khai mạc

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Theo ông Trần Duy Đông, Việt Nam đã và đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết để sẵn sàng đón nhận làn sóng chuyển dịch đầu tư mới, trở thành cứ điểm sản xuất quan trọng của thế giới bằng cách tiếp tục hoàn thiện thể chế, môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng để thu hút có chọn lọc, ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường.

    Các khu công nghiệp, khu kinh tế được hoàn thiện kết cấu hạ tầng, nhà xưởng và chất lượng quốc tế, nghiên cứu thí điểm một số cụm liên kết ngành nhằm hình thành mạng sản xuất, chuỗi cung ứng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu tại một số địa phương.

    Hiện nay, cả nước có 335 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 100.000 ha đang tiếp tục phát triển mạnh để đáp ứng nhu cầu đầu tư, sản xuất của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các khu công nghiệp đang từng bước chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững hơn về kinh tế, xã hội và môi trường.

    Từ năm 2015 đến nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với UNIDO và một số tổ chức quốc tế thực hiện thí điểm chuyển đổi khu công nghiệp truyền thống sang khu công nghiệp sinh thái, chuyển đổi không gian phát triển công nghiệp từ chiều ngang sang chiều sâu và đảm bảo nhu cầu cho người lao động. 

    Tại các khu công nghiệp sinh thái, các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, liên kết hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp. 

    “Để hoàn thiện các định hướng chiến lược, quy hoạch phát triển mô hình khu công nghiệp mới thời gian tới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư mong muốn được lắng nghe ý kiến các nhà đầu tư trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến việc phát triển các mô hình khu công nghiệp…”, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói và cho rằng, những ý kiến trao đổi, thảo luận của quý vị tại diễn đàn này sẽ là những thông tin hữu ích để Bộ Kế hoạch và Đầu tư tham khảo trong quá trình trình Chính phủ tham mưu cho các cơ quan có thẩm quyền định hướng, chiến lược, những giải pháp cụ thể để đón nhận làn sóng chuyển dịch mới của dòng vốn đầu tư toàn cầu. 

    “Thay mặt lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tôi đánh giá cao Báo Đầu tư và Công ty BW đã có sáng kiến tổ chức diễn đàn lần thứ 2 này. Tôi mong rằng, diễn đàn sẽ có những thảo luận sôi nổi, sâu sắc, thiết thực về các chủ đề đã đặt ra”, ông Trần Duy Đông, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói.

    Theo baodautu.vn