Danh mục: Tin tức kinh tế

  • [Infographic] Kết quả kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2025

    Trong tháng 10, trên địa bàn tỉnh mặc dù phải chịu tác động nặng nề của thiên tai, bão lũ, song tỉnh Bắc Ninh đã nỗ lực vượt qua khó khăn, chủ động khắc phục hậu quả thiên tai, sớm ổn định tình hình, bảo đảm đời sống Nhân dân. Nhờ đó, kinh tế – xã hội tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2025 tiếp tục duy trì ổn định, nhiều lĩnh vực đạt kết quả tích cực.

    Nguồn: bacninh.gov.vn

  • Việt Nam trở thành đối tác thặng dư thương mại lớn nhất của Hàn Quốc

    Số liệu thống kê của Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc (MOTIE) công bố ngày 4/1 cho thấy kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc sang Việt Nam trong năm 2022 là 60,98 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu là 26,72 tỷ USD, theo đó thặng dư thương mại là 34,26 tỷ USD. Đây là lần đầu tiên Việt Nam trở thành đối tác thặng dư thương mại lớn nhất của Hàn Quốc tính theo năm.

    Lắp ráp điện thoại thông minh tại Công ty Samsung Electronic Việt Nam Thái Nguyên - Khu công nghiệp Yên Bình (Thái Nguyên). 

    Lắp ráp điện thoại thông minh tại Công ty Samsung Electronic Việt Nam Thái Nguyên – Khu công nghiệp Yên Bình (Thái Nguyên). 

    Một quan chức của MOTIE cho biết: “Trong số các nước ASEAN, Việt Nam đang nổi lên như một cơ sở sản xuất cho các công ty toàn cầu. Việc Việt Nam trở thành quốc gia đối tác thặng dư thương mại lớn nhất của Hàn Quốc là do kết quả các doanh nghiệp Hàn Quốc không ngừng thâm nhập thị trường Việt Nam và trở thành đối tác kinh tế thân thiết của nhau”.

    Sau Việt Nam, các quốc gia và vùng lãnh thổ mà Hàn Quốc ghi nhận thặng dư thương mại lớn lần lượt là Mỹ với mức thặng dư 28,04 tỷ USD, Hong Kong (Trung Quốc) với 25,79 tỷ USD, Ấn Độ với 9,98 tỷ USD và Singapore với 9,86 tỷ USD. Riêng xuất khẩu của Hàn Quốc sang Mỹ năm 2022 tăng 14,5% so với năm 2021 và là năm thứ 6 liên tiếp duy trì đà tăng kể từ năm 2017. Xuất khẩu của Hàn Quốc sang Mỹ trong năm 2022 đạt 109,82 tỷ USD – lần đầu tiên vượt mốc 100 tỷ USD. Trong khi đó, xuất khẩu của Hàn Quốc sang Ấn Độ (thị trường thương mại mới nổi tiêu biểu) đạt mức cao kỷ lục 18,88 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2021.

    Đáng chú ý, Trung Quốc vốn đứng đầu về thặng dư thương mại của Hàn Quốc vào năm 2018, đứng thứ hai vào năm 2019 và liên tục đứng thứ ba vào các năm 2020 và 2021, song đã lùi xuống thứ 22 vào năm 2022, với mức thặng dư 1,25 tỷ USD. Một trong những nguyên nhân chính là xuất khẩu sang Trung Quốc giảm mạnh do ảnh hưởng của chính sách phòng chống dịch Covid-19 của Trung Quốc và tăng trưởng kinh tế chậm lại sau các lệnh phong tỏa trong khu vực. Ngược lại, nhập khẩu từ Trung Quốc tăng do giá nguyên liệu thô công nghiệp, bao gồm lithium (nguyên liệu quan trọng trong sản xuất pin), tăng vọt.

    Năm 2022, kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc đạt mức cao kỷ lục 683,9 tỷ USD, nhảy vọt lên vị trí lớn thứ 6 thế giới (dựa trên số liệu 9 tháng đầu năm). Tuy nhiên kim ngạch nhập khẩu cũng tăng vọt trong bối cảnh giá năng lượng tăng cao do ảnh hưởng của cuộc xung đột ở Ukraine. Theo đó, thâm hụt thương mại ở mức cao kỷ lục 47,2 tỷ USD.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Lao động trong các khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang tăng hơn 27 nghìn người

     

    Theo Ban Quản lý Các khu công nghiệp (KCN) tỉnh Bắc Giang, tính đến thời điểm này trong các KCN của tỉnh có hơn 174 nghìn lao động đang làm việc, tăng hơn 27 nghìn người so với thời điểm tháng 7 năm trước.

    Công nhân của Công ty TNHH Siflex Việt Nam làm việc trong nhà xưởng.

    Công nhân của Công ty TNHH Siflex Việt Nam làm việc trong nhà xưởng.

    Các lao động này đang làm việc tại 395 doanh nghiệp ở KCN: Vân Trung, Đình Trám, Quang Châu, Song Khê – Nội Hoàng, Hòa Phú. Trong đó, người lao động địa phương chiếm gần 70%, còn lại là lao động ngoại tỉnh và người nước ngoài.

    Được biết. lao động tại KCN tăng là do đầu năm nay, dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát, tình hình sản xuất của các DN trong KCN ổn định nên nhiều DN mở rộng quy mô, tăng đơn hàng và tuyển dụng thêm nhiều lao động. Ngoài ra, trong tháng 7, tại các KCN có thêm 7 DN được thành lập và đi vào hoạt động, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động.

    Một số đơn vị có số công nhân tăng nhiều như: Tập đoàn Luxshare – ICT hiện có hơn 43 nghìn lao động, tăng hơn 13 nghìn lao động; Tập đoàn Khoa học Kỹ thuật Hồng Hải hiện có hơn 42 nghìn lao động, tăng gần 10 nghìn lao động; Công ty TNHH Siflex Việt Nam có gần 6 nghìn lao động, tăng khoảng 500 lao động…

    Các DN hoạt động sản xuất ổn định nên tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh từ đầu năm đến nay ước đạt hơn 130 nghìn tỷ đồng; thuế phát sinh nộp ngân sách khoảng 2,5 nghìn tỷ đồng.

                                                                                                                                                                       Theo Baobacgiang.gov.vn

  • Tiếp tục đẩy mạnh chỉ đạo chuyển đổi số trong giai đoạn mới

    Tiếp tục đẩy mạnh chỉ đạo chuyển đổi số trong giai đoạn mới

     


    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    (MPI) – Theo Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng đến 2025, Ban Chỉ đạo xây dựng Chính phủ điện tử/chính quyền điện tử được đổi tên thành Ban Chỉ đạo chuyển đổi số nhằm đẩy mạnh chỉ đạo chuyển đổi số trong giai đoạn mới.

    Tại Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 12/2021 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương (Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 10/01/2022), Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử (CPĐT) hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 và Chương trình chuyển đổi số quốc gia; tiếp tục duy trì, phát triển các hoạt động trực tuyến, ứng dụng công nghệ số, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

    Tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2022 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2022, Chính phủ quyết nghị nhiều nhiệm vụ về chuyển đổi số như thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia; đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục, phát triển nguồn nhân lực.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công Thương, Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế, Văn phòng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Ủy ban Dân tộc, Đài truyền hình Việt Nam, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và một số tỉnh, thành phố đã kiện toàn và đổi tên Ban Chỉ đạo xây dựng CPĐT/chính quyền điện tử thành Ban Chỉ đạo chuyển đổi số theo Quyết định số 1619/QĐ-TTg ngày 24/9/2021 của Thủ tướng Chính phủ để đẩy mạnh chỉ đạo chuyển đổi số trong giai đoạn mới.

    Về việc xây dựng các hệ thống thông tin đổi mới lề lối, phương thức làm việc, phục vụ người dân, doanh nghiệp, các hệ thống thông tin đổi mới lề lối, phương thức làm việc bao gồm: trục liên thông văn bản quốc gia; hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet); hệ thống thông tin báo cáo Quốc gia, Trung tâm thông tin chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    Trong tháng 01/2022, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mức độ 3,4. Tính đến ngày 20/01/2022, tỷ lệ DVCTT đủ điều kiện đưa lên mức độ 4 là 96,74% (chiếm 51,65% tổng số thủ tục hành chính).

    Để thúc đẩy tiến độ triển khai CPĐT, phát triển Chính phủ số, chuyển đổi số theo chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai ngay các nhiệm vụ được giao tại Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 theo Công văn số 2304/BTTTT-THH ngày 29/6/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông. Hoàn thành xây dựng, tổ chức triển khai ngay các chiến lược, chương trình kế hoạch, đề án chuyển đổi số cho giai đoạn mới; thực hiện các nhiệm vụ theo Chương trình chuyển đổi số quốc gia.

    Tổ chức triển khai ngay các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030./.

                                                                                                                   Theo Bộ kế hoạch và Đầu tư

  • Bắc Giang: 22 doanh nghiệp đầu tư vào Khu công nghiệp Hòa Phú

     

    Thời gian qua, chủ đầu tư Khu công nghiệp Hòa Phú (huyện Hiệp Hòa) phối hợp với chính quyền địa phương tập trung hoàn thành giải phóng mặt bằng, triển khai xây dựng hạ tầng và đẩy mạnh công tác xúc tiến, thu hút đầu tư vào khu công nghiệp.

    Khu công nghiệp Hòa Phú đã thu hút 22 doanh nghiệp đầu tư.

    Đến nay, diện tích đã giải phóng mặt bằng khoảng 203,9 ha. Ngay sau khi  được bàn giao mặt bằng, chủ đầu tư đã hoàn thiện 100% hệ thống hạ tầng, đảm bảo các nhà đầu tư thứ cấp triển khai thực hiện dự án; hoàn thiện đưa vào vận hành nhà máy nước sạch công suất 4.000 m3/ngđ; hoàn thiện và đưa vào vận hành nhà máy xử lý nước thải giai đoạn I và II với công suất 4.000 m3/6.000 m3/ngđ.

    Bên cạnh đó, quan tâm đẩy mạnh công tác xúc tiến, thu hút đầu tư vào khu công nghiệp. Đến nay, Khu công nghiệp Hòa Phú đã thu hút 22 doanh nghiệp đầu tư, trong đó có 15 dự án FDI và 07 dự án DDI, với tổng diện tích 105 ha/140 ha đất công nghiệp, tổng vốn đầu tư hơn 400 triệu USD. Trong số đó đã có 18/22 nhà đầu tư đã được cấp phép đầu tư, 12/22 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động sản xuất với ước tính khoảng 1.500 lao động.

    Hiện chủ đầu tư Khu công nghiệp Hòa Phú tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương, các sở, ngành liên quan giải phóng nốt mặt bằng còn lại, đồng thời đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư. Đối với các nhà đầu tư thứ phát nhanh chóng lấp đầy hạ tầng, thúc đẩy phát triển sản xuất.

    Hiện nay, chủ đầu tư Khu công nghiệp Hòa Phú tiếp tục hoàn thiện hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định chủ trương đầu tư mở rộng Dự án Khu công nghiệp Hòa Phú thêm 85 ha./.

                                                                                                                                                               Theo Bacgiang.gov.vn

  • Cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022

    Cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022

     

     Ngày 10/01/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Từ năm 2014, Chính phủ đã xác định cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hướng tới phát triển bền vững là một trọng tâm cải cách, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Qua 8 năm nỗ lực cải cách, vị trí của Việt Nam trên các bảng xếp hạng uy tín toàn cầu đã được nâng lên. Chất lượng môi trường kinh doanh cải thiện tích cực cũng được thể hiện rõ qua kết quả đánh giá Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Từ năm 2020, do tác động của đại dịch COVID-19 nên việc cải thiện vị trí trên các bảng xếp hạng ngày càng khó khăn và đòi hỏi nỗ lực cao hơn, cần sự vào cuộc mạnh mẽ, quyết liệt và tăng tốc hơn nữa của các Bộ, ngành, địa phương cũng như sự chia sẻ và hợp tác từ phía cộng đồng doanh nghiệp, người dân.

    Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra tại Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021-2025, Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2022 theo các nghị quyết của Quốc hội, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, thích ứng linh hoạt, hiệu quả với bối cảnh dịch COVID-19, Chính phủ ban hành Nghị quyết tiếp nối các Nghị quyết số 02/NQ-CP, Nghị quyết số 19/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức liên quan tập trung triển khai thực hiện.

    Mục tiêu tổng quát là cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, nâng cao vị trí của nước ta trên các bảng xếp hạng quốc tế về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh nhằm thích ứng với xu thế phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tăng sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh dịch COVID-19; tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp mới thành lập; giảm tỉ lệ doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động; giảm chi phí đầu vào, chi phí không chính thức cho doanh nghiệp và người dân. Đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19; kịp thời hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, thích ứng linh hoạt, hiệu quả với dịch bệnh.

    Đến năm 2025, phấn đấu thứ hạng năng lực cạnh tranh như sau: Năng lực cạnh tranh 4.0 (của WEF) thuộc Nhóm 50 nước đứng đầu; Phát triển bền vững (của UN) thuộc Nhóm 40 nước đứng đầu; Năng lực đổi mới sáng tạo (của WIPO) thuộc Nhóm 40 nước đứng đầu; Chính phủ điện tử (của UN) thuộc Nhóm 60 nước đứng đầu; Quyền tài sản (của Liên minh quyền tài sản) thuộc Nhóm 60 nước đứng đầu; Hiệu quả logistics (của WB) tăng ít nhất 4 bậc; Năng lực cạnh tranh du lịch (của WEF) thuộc Nhóm 50 nước đứng đầu; An toàn an ninh mạng (của ITU) tăng ít nhất 3 bậc.

    Mục tiêu cụ thể năm 2022 cải thiện chất lượng, nâng cao thứ hạng các chỉ số môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh đồng bộ với cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Moody’s, S&P và Fitch; về cải thiện Năng lực cạnh tranh 4.0 (GCI 4.0) theo xếp hạng của WEF: Nâng cao điểm số và duy trì thứ hạng chỉ số Chi phí tuân thủ pháp luật (gọi tắt là B1); nâng xếp hạng chỉ số Kiểm soát tham nhũng (B2) lên 10 bậc; nâng xếp hạng chỉ số Chất lượng quản lý hành chính đất đai (B3) lên ít nhất 1 bậc; nâng xếp hạng chỉ số Vốn hóa thị trường chứng khoán (B7) lên 2-3 bậc; nâng xếp hạng chỉ số Tăng trưởng về doanh nghiệp đổi mới sáng tạo (B9) lên 2-3 bậc;…

    Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Nghị quyết đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu: Tiếp tục tăng cường trách nhiệm, tính chủ động của các bộ được phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện các bộ chỉ số và các bộ, cơ quan được phân công chủ trì, chịu trách nhiệm đối với các nhóm chỉ số, chỉ số thành phần.

    Các bộ được phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện các bộ chỉ số và các bộ, cơ quan được phân công chủ trì, chịu trách nhiệm đối với các nhóm chỉ số, chỉ số thành phần có trách nhiệm: Cập nhật, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp liên quan tại các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; kịp thời đề xuất, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, giải pháp, nhiệm vụ phát sinh để cải thiện các chỉ số được phân công. Chủ động kết nối với các tổ chức quốc tế; tạo lập kênh phối hợp để cung cấp, cập nhật đầy đủ, kịp thời thông tin nhằm đánh giá, xếp hạng khách quan, chính xác. Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ và các bộ, cơ quan liên quan xây dựng chế độ báo cáo, theo dõi tình hình, kết quả cải thiện đối với các bộ chỉ số, chỉ số được phân công; cập nhật trên hệ thống thông tin báo cáo của bộ, ngành, kết nối với Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ phục vụ chỉ đạo, điều hành.

    Các bộ, cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm cải thiện các yếu tố môi trường kinh doanh tiếp tục thực hiện các giải pháp theo hướng giảm số lượng thủ tục, thời gian, chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp, bao gồm: Khởi sự kinh doanh; nộp thuế và bảo hiểm xã hội; cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan; tiếp cận tín dụng; bảo vệ nhà đầu tư; tiếp cận điện năng; đăng ký tài sản; giao dịch thương mại qua biên giới; giải quyết tranh chấp hợp đồng; và giải quyết phá sản doanh nghiệp.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và các bộ, ngành, địa phương liên quan nghiên cứu điều chỉnh chỉ tiêu thống kê công bố trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo để bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế.

    Chú trọng thực hiện 10 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Một là, cắt giảm danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và cải cách điều kiện kinh doanh. Hai là, tập trung dỡ bỏ rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh do chồng chéo, mâu thuẫn, không hợp lý, khác biệt của các quy định pháp luật. Ba là, tiếp tục thúc đẩy cải cách quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Bốn là, đẩy mạnh cải cách về đăng ký đất đai và đổi mới quản lý hành chính đất đai. Năm là, thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chuyển đổi số theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đồng bộ với thực hiện cải cách hành chính.

    Sáu là, tăng cường cải cách, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định kinh doanh gắn với đẩy mạnh phân cấp, trao quyền cho địa phương và kiểm tra, giám sát. Bảy là, đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nhằm tạo chuyển biến vững chắc đối với các chỉ tiêu phát triển bền vững. Tám là, tiếp tục chú trọng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, khắc phục các tác động tiêu cực của dịch bệnh COVID-19. Chín là, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Mười là, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế gắn với thực hiện cải cách trong nước về môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

    Về tổ chức thực hiện, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh là nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên; trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện Nghị quyết này và các Nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trước ngày 20/01/2022, xây dựng, ban hành Chương trình, Kế hoạch hành động, văn bản cụ thể triển khai thực hiện Nghị quyết này, trong đó xác định cụ thể mục tiêu, nhiệm vụ, tiến độ thực hiện, dự kiến kết quả đối với từng nhiệm vụ và phân công đơn vị chủ trì thực hiện, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Văn phòng Chính phủ.

    Thường xuyên kiểm tra, giám sát tiến độ và kết quả thực hiện Chương trình, Kế hoạch thực hiện các Nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; đồng thời công khai các kết quả kiểm tra, giám sát. Phân công đơn vị làm đầu mối thực hiện tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp tình hình cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của bộ, ngành và địa phương.

    Thường xuyên tổ chức đối thoại, trao đổi với người dân và doanh nghiệp để kịp thời nắm bắt các phản hồi chính sách và giải quyết các khó khăn, vướng mắc. Đảm bảo kỷ luật, kỷ cương đối với cán bộ, công chức trong thực thi công vụ; xử lý nghiêm cán bộ nhũng nhiễu, gây phiền hà cho doanh nghiệp. Tổ chức công tác truyền thông về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh thuộc phạm vi trách nhiệm của mình.

    Trước ngày 10/6 và ngày 10/12/2022, báo cáo tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết 06 tháng và 01 năm gửi Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Văn phòng Chính phủ để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và cuối năm.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững và Nâng cao năng lực cạnh tranh theo dõi, đánh giá về tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết, kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các khó khăn, vướng mắc để được giải quyết. Định kỳ hằng năm công khai kết quả theo dõi, đánh giá./.

                                                                                                                                                          Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Bắc Giang triển khai nhiệm vụ năm 2022

     

    Chiều ngày 13/01, Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Bắc Giang tổ chức hội nghị tổng kết công tác năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022. Dự và chỉ đạo hội nghị có đồng chí Phan Thế Tuấn – Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Cùng dự có đại diện lãnh đạo một số sở, ngành là thành viên Hội đồng quản lý Quỹ Phát triển đất, Hội đồng quản lý Quỹ Đầu tư phát triển.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn phát biểu chỉ đạo hội nghị.

    Theo báo cáo tại hội nghị, Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh đang quản lý tổng nguồn vốn 2 quỹ (Quỹ Đầu tư phát triển và Quỹ Phát triển đất) với hơn 1 nghìn tỷ đồng. Doanh thu năm 2021 là hơn 72,5 tỷ đồng, đạt 105% kế hoạch năm.

    Trong năm, Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện 4 dự án đầu tư trực tiếp gồm: Khu đô thị mới, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên; Khu dịch vụ Song Khê – Nội Hoàng; Khu 2 thuộc Khu dân cư số 3 trên đường 295B, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang; Khu dân cư tổ dân phố Trung, thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên.

    Về hoạt động cho vay đầu tư, đến nay dư nợ cho vay đạt 64,2 tỷ đồng. Quỹ đã thực hiện cho vay 24 tỷ đồng, đạt 80% kế hoạch. Việc đôn đốc thu hồi nợ gốc, lãi vay đạt kết quả tích cực, số nợ gốc thu hồi là 3,7 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch năm; thu lãi vay trên 4,6 tỷ đồng, đạt 102,6 kế hoạch; không để phát sinh nợ gốc quá hạn, nợ lãi quá hạn.

    Đối với hoạt động về ứng vốn, Quỹ đã thực hiện ứng vốn cho các huyện, thành phố và các đơn vị đạt 531 tỷ đồng, đạt 71,1% kế hoạch năm; hoàn thành công tác kiểm tra giám sát việc quản lý, sử dụng vốn ứng theo kế hoạch năm 2021 của Hội đồng quản lý Quỹ phát triển đất tại 02 huyện Lục Nam và Yên Dũng. 

    Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn ghi nhận, biểu dương những kết quả mà Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh đã đạt được trong năm 2021. Đồng chí cũng thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, hạn chế mà Quỹ cần khắc phục như: Công tác cho vay đầu tư năm 2021 chưa hoàn thành kế hoạch giao; một số dự án đề xuất kinh phí ứng vốn vượt với tỷ lệ tương đối cao so với kinh phí bồi thường, GPMB…

    Đồng chí đề nghị năm 2022, Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh cần triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm. Thực hiện rà soát các quy định pháp luật, đối chiếu với thực tiễn tại địa phương để chủ động phát hiện những vấn đề bất cập, gây khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của 02 Quỹ để kịp thời tham mưu ban hành tạo ra cơ chế chủ động, linh hoạt hơn trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, phát huy hiệu quả sử dụng nguồn vốn 02 Quỹ.

    Đổi mới, năng động, sáng tạo, sử dụng linh hoạt nguồn vốn 02 Quỹ để phát huy hiệu quả; hạn chế nguồn vốn tồn đọng, gửi ngân hàng. Nghiên cứu thêm các hình thức hợp tác đầu tư để có điều kiện mở rộng hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và quy định pháp luật cho phép. Tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp. Đổi mới hoạt động cho vay đầu tư theo hướng hợp tác với Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh và các ngân hàng thương mại uy tín.

    Đồng chí đề nghị Hội đồng quản lý Quỹ tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan điều hành nghiệp vụ Quỹ, Ban kiểm soát Quỹ, các đơn vị, UBND các huyện, thành phố trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và theo Quy chế hoạt động của Quỹ.

    Thành viên Ban kiểm soát Quỹ bố trí và dành thời gian phù hợp cho công tác giám sát, kiểm tra việc hoạt động của Cơ quan điều hành Quỹ phát triển đất và Quỹ Đầu tư phát triển. Tích cực trao đổi kinh nghiệm theo chuyên đề về tăng cường học tập, trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh, thành phố trong thực hiện công tác kiểm tra, giám sát./.

                                                                                                                                                                   Theo Bacgiang.gov.vn

  • Ngành Công Thương cần tiếp tục đột phá về thể chế chính sách, khơi thông nguồn lực để phát triển

    Ngành Công Thương cần tiếp tục đột phá về thể chế chính sách, khơi thông nguồn lực để phát triển

    Ngày 09/01, Bộ Công Thương tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022. Chủ trì hội nghị tại điểm cầu Trung ương có: Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành; Bộ Trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên. Cùng dự có đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị Trung ương.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn chủ trì hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang; cùng dự có đại diện lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị của tỉnh.

    Quang cảnh hội nghị.

    Báo cáo tại hội nghị, lãnh đạo Bộ Công Thương cho biết, năm 2021 là năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2021-2030 và Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2021-2025 trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức; đặc biệt là tác động nghiêm trọng, chưa từng có do đại dịch Covid-19 gây ra. Cùng với cả nước, ngành Công Thương đã tích cực, chủ động và sáng tạo trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, bảo đảm lưu thông, cung ứng kịp thời hàng hóa thiết yếu, đẩy mạnh xuất nhập khẩu và đã đạt được những kết quả quan trọng, tích cực.

    Năm 2021, mặc dù dịch bệnh khiến chuỗi cung ứng hàng hóa có thời điểm bị đứt gãy, song sản xuất công nghiệp tiếp tục được mở rộng và duy trì mức tăng trưởng gần 5%, cao hơn cùng kỳ năm trước; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,37%, tiếp tục khẳng định vai trò động lực cho tăng trưởng của toàn ngành, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội.

    Trong năm với sự nỗ lực của Bộ Công Thương cùng sự phối hợp của các Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương, doanh nghiệp… cung cầu hàng hóa đã được bảo đảm, chuỗi cung ứng trong và ngoài nước cơ bản được giữ vững, cung ứng đầy đủ, kịp thời các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống Nhân dân với giá cả tương đối ổn định.

    Ngoài ra, công tác quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực được tổ chức triển khai đồng bộ, kịp thời, đóng góp tích cực vào thành tích chung của toàn ngành. Trong năm 2021, lực lượng Quản lý thị trường phát hiện xử lý 41.375 vụ vi phạm; ước thu nộp ngân sách gần 430 tỷ đồng; tăng cường kiểm soát các hoạt động kinh doanh hàng hóa nhập lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ; các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; chất lượng và giá sản phẩm, an toàn thực phẩm…

    Cùng đó, hoạt động thương mại điện tử được phát triển; hoạt động phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, kết nối giao thương tại các địa phương được duy trì tốt, góp phần phát triển công nghiệp và thương mại tại các địa phương.

    Tại hội nghị, đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành, đơn vị Trung ương và lãnh đạo các địa phương đã thảo luận làm rõ những khó khăn, thách thức của ngành Công Thương trong năm qua. Đồng thời, thống nhất mục tiêu triển khai năm 2022 ngành Công Thương quyết tâm phấn đấu đạt các chỉ tiêu như: Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng khoảng 7 – 8%; kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 6 – 8%; cán cân thương mại duy trì trạng thái thặng dư; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khoảng 7 – 8%; tổng điện năng sản xuất và nhập khẩu tăng 7,88%; điện thương phẩm tăng 7,1 – 9,1%.

    Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành biểu dương, ghi nhận các kết quả đạt được của ngành Công Thương trong năm 2021, cùng với cả nước, ngành Công Thương đã nỗ lực, tích cực, chủ động và sáng tạo “vượt bão” đại dịch, “về đích” vượt mức nhiều chỉ tiêu.

    Năm 2022, tiếp tục dự báo là năm kinh tế gặp nhiều khó khăn, thách thức, Để thực hiện thắng lợi, toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2022 được Quốc hội và Chính phủ giao, Bộ Công Thương cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng thể chế.

    Tập trung thực hiện tốt công tác quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia, quy hoạch điện lực; rà soát lại cơ cấu ngành điện, có cơ chế điều phối điện, đầu tư cơ sở vật chất, sẵn sàng đi trước đón đầu đối với các dự án năng lượng tái tạo mặt trời; không để thiếu điện làm ảnh hưởng tới đời sống sản xuất của Nhân dân, đáp ứng đủ điện sản xuất kinh doanh của các địa phương, hạn chế ô nhiễm môi trường, bảo vệ tài nguyên quốc gia.

    Với tinh thần “tiến công”, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành đề nghị ngành Công Thương cần tiếp tục có những đột phá về thể chế chính sách, nhằm khơi thông mọi nguồn lực để phát triển KT-XH. Khẩn trương xây dựng Kế hoạch hành động và tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ được giao trong Chương trình tổng thể phòng, chống đại dịch Covid-19; Chương trình phục hồi, phát triển KT-XH và Nghị quyết 01, 02 của Chính phủ, góp phần cùng cả nước thực hiện thành công các Chương trình, nhiệm vụ đã đề ra.

    Đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm cơ cấu lại ngành Công Thương dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tiếp tục bám sát thị trường, hoạt động xuất nhập khẩu phải được đánh giá toàn diện nhằm đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc; giải quyết hiệu quả giao thương hàng hóa, không để ùn ứ hàng hóa tại cửa khẩu như thời gian qua.

    Phát triển mạnh thương mại nội địa để khai thác có hiệu quả thị trường gần 100 triệu dân với sự gia tăng cao của tầng lớp trung lưu. Chú trọng phát triển thương mại điện tử để khai thác có hiệu quả hơn sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng số hóa nền kinh tế; tăng cường hơn nữa chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường; đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận xuất xứ, cạnh tranh không bình đẳng, phòng vệ thương mại… bảo đảm môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, bình đẳng cho doanh nghiệp./.

                                                                                                                                                                      Theo Bacgiang.gov.vn

  • Ngành Thuế tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu ngân sách

    Ngành Thuế tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu ngân sách

     

    Ngày 07/01, Cục Thuế tỉnh Bắc Giang tổ chức Hội nghị trực tuyến với Chi cục Thuế các huyện, thành phố tổng kết công tác thuế năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022.

    Chủ trì hội nghị tại điểm cầu Cục Thuế tỉnh có các đồng chí: Đặng Ngọc Minh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế; Phan Thế Tuấn – Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Lê Bá Ngọc – Cục trưởng Cục Thuế tỉnh. Tham dự hội nghị có đại diện các cơ quan, đơn vị của tỉnh.

    Quang cảnh hội nghị.

    Năm 2021, nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn tỉnh được triển khai trong bối cảnh nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và Tổng cục Thuế trong việc thực hiện đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả các giải pháp vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa phục hồi và phát triển KT-XH, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH. Tổng thu nội địa trong năm 2021 đạt 20.214,4 tỷ đồng, bằng 267,9% so với dự toán Trung ương, bằng 226,2% dự toán UBND tỉnh và tăng 66,8% so với cùng kỳ năm 2020.

    Trong đó có một số lĩnh vực vượt cao so dự toán như: Thu tiền sử dụng đất được 13.057,6 tỷ đồng, đạt 435,3% dự toán Trung ương, bằng 297,4% dự toán UBND tỉnh và tăng 105,1% so với cùng kỳ năm 2020; thu thuế, phí được 7.156,8 tỷ đồng, đạt 157,4% dự toán Trung ương và UBND tỉnh giao, tăng 24,4% so với cùng kỳ năm 2020; 10/10 huyện, thành phố thực hiện hoàn thành vượt mức dự toán được giao năm 2021.

    Bên cạnh đó, các chính sách thuế mới, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân bị ảnh hưởng dịch Covid-19 được triển khai, phổ biến kịp thời; công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách, xử lý nợ thuế được tăng cường, đã có trọng tâm trọng điểm; kỷ luật, kỷ cương hành chính tiếp tục được giữ vững; các chương trình cải cách, hiện đại hóa ngành thuế được triển khai đạt hiệu quả tích cực… Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh, của ngành góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH của tỉnh.

    Thảo luận tại hội nghị, đại diện lãnh đạo các đơn vị trong ngành Thuế đã thảo luận làm rõ những tồn tại, hạn chế trong công tác thu ngân sách năm 2021. Phát huy những kết quả đạt được trong năm 2021, lãnh đạo Cục thuế tỉnh Bắc Giang đã phát động phong trào thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2022 tới toàn thể cán bộ ngành Thuế tỉnh.

    Theo đó, năm 2022, ngành Thuế Bắc Giang sẽ tập trung triển khai các giải pháp hỗ trợ người nộp thuế, góp phần giúp người nộp thuế duy trì, phục hồi sản xuất kinh doanh, đồng thời tăng cường quản lý thu ngân sách ngay từ đầu năm, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước năm 2022 đã được Trung ương và UBND tỉnh giao là 12.550 tỷ đồng.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. 

    Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Đặng Ngọc Minh và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn ghi nhận, đánh giá cao những nỗ lực, cố gắng của tập thể lãnh đạo, công chức, người lao động ngành Thuế tỉnh. Ngay từ đầu năm các cơ quan thuế tỉnh Bắc Giang đã triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp nghiệp vụ của ngành, nhất là công tác thanh tra, kiểm tra, chống chuyển giá. Trong năm, ngành Thuế cũng đã tham mưu, đề xuất với Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành nhiệm vụ thu ngân sách đạt hiệu quả thiết thực.

    Năm 2022, tình hình kinh tế thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; rủi ro và bất ổn gia tăng, đặc biệt dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tiếp tục đặt ra những thách thức lớn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Đặng Ngọc Minh và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn đề nghị ngay từ đầu năm, ngành Thuế tỉnh cần triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao trong năm 2022, nhất là các nhiệm vụ trọng tâm được Tổng cục Thuế và Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh giao; tập trung cao chỉ đạo, tổ chức thực hiện đạt và vượt kế hoạch đề ra.

    Tăng cường công tác phối kết hợp giữa các cơ quan, đơn vị để thực hiện nhiệm vụ. Chủ động đề xuất cơ chế, chính sách, ý tưởng trong chỉ đạo, điều hành; tích cực tham gia cho ý kiến các dự án đầu tư vào tỉnh, đảm bảo tiêu chí phát sinh thu ngân sách là tiêu chí quan trọng trong lựa chọn dự án đầu tư. Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, chính trị và đạo đức công vụ cho mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động; giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong nội bộ và duy trì kỷ luật, kỷ cương.

    Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu ngân sách tỉnh; nghiên cứu tham mưu và tổ chức thực hiện để cơ cấu lại các khoản thu theo hướng tăng số thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Quyết liệt chống thất thu, chuyển giá, trốn lậu thuế, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào ngân sách nhà nước. Triển khai thực hiện tốt biện pháp nghiệp vụ đối với những trường hợp người nộp thuế thuộc đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi. Làm tốt công tác quản lý rủi ro đối với người nộp thuế, quan tâm đặc biệt đối với những đơn vị đã đi vào hoạt động nhiều năm nhưng không có số nộp hoặc số nộp thấp.

    Tăng cường đôn đốc, yêu cầu các doanh nghiệp chủ đầu tư dự án khu đô thị, khu dân cư thực hiện nghiêm túc, đầy đủ việc kê khai, nộp thuế theo quy định. Phối hợp làm tốt kế hoạch triển khai hóa đơn điện tử trên địa bàn tỉnh; tăng cường khai thác dữ liệu cơ quan thuế, giảm thời gian thanh tra, kiểm tra tại các doanh nghiệp.

    Tập trung biện pháp xử lý nợ đọng thuế, tìm nguyên nhân dẫn đến nợ đọng để xử lý từ gốc, phải giao chỉ tiêu xử lý thu hồi nợ đọng thuế cùng với giao chỉ tiêu thu ngân sách. Cùng với đó, xử lý tốt nợ thuế tồn đọng, quan tâm đôn đốc thu kịp thời số thuế phát sinh, hạn chế thấp nhất việc chuyển sang nợ đọng.

    Cục Thuế tỉnh tuyệt đối không được chủ quan, lơ là trong công tác phòng, chống dịch Covid-19, coi đây là nhiệm vụ quan trọng để bảo đảm sức khỏe, an toàn đời sống Nhân dân và cán bộ, người lao động ngành Thuế./.

                                                                                                                                                               Theo Bacgiang.gov.vn

  • Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư

    Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư

     

    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 122/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Theo đó, việc xây dựng Nghị định nhằm kịp thời sửa đổi, bổ sung những quy định đã được quy định tại các luật, nghị định mới được ban hành, đảm bảo các văn bản quy phạm pháp luật về kế hoạch và đầu tư được tổ chức thi hành đồng bộ, hiệu quả trên thực tế. Đồng thời, bãi bỏ một số quy định không còn phù hợp, không có căn cứ để xử phạt. Đồng thời, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư, tạo cơ sở pháp lý, áp dụng thống nhất trong công tác xử phạt vi phạm hành chính của toàn ngành.

    Nghị định quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

    Vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư là hành vi vi phạm pháp luật có lỗi do tổ chức, cá nhân thực hiện mà không phải là tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự và được quy định tại Nghị định này, bao gồm: Vi phạm quy định trong lĩnh vực đầu tư (bao gồm: đầu tư công, đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài, đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP)); Vi phạm quy định trong lĩnh vực đấu thầu; Vi phạm quy định trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp; Vi phạm quy định trong lĩnh vực quy hoạch. Các hành vi vi phạm hành chính có liên quan đến lĩnh vực kế hoạch và đầu tư không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan.

    Nghị định được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư; Người có thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này; Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này.

    Nghị định quy định rõ mức phạt tiền tối đa đối với từng lĩnh vực, theo đó: lĩnh vực đầu tư là 300.000.000 đồng; lĩnh vực đấu thầu là 300.000.000 đồng; lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp là 100.000.000 đồng; lĩnh vực quy hoạch là 500.000.000 đồng.

    Nghị định cũng quy định cụ thể về thời hiệu và thời điểm xác định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với lĩnh vực đầu tư, đấu thầu, đăng ký doanh nghiệp là 01 năm; đối với lĩnh vực quy hoạch là 02 năm…

    Sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền xử phạt của các chức danh đảm bảo phù hợp với mức xử phạt tối đa của từng lĩnh vực; phân định thẩm quyền xử phạt của các cơ quan đảm bảo khách quan, minh bạch.

    Nghị định gồm 07 Chương 82 Điều và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư có công điện về phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2022

    Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư có công điện về phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2022

    Ngày 24/12/2021, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư có Công điện số 08/CĐ-BKHĐT điện Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2022.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Căn cứ Luật Đầu tư công và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật; Căn cứ quy định tại khoản 5, Điều 3, Quyết định số 2048/QĐ-TTg ngày 06/12/2021 về việc giao kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2021, ngày 09/12/2021, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Văn bản số 8691/BKHĐT-TH gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn việc phân bổ chi tiết kế hoạch vốn NSNN năm 2022.

    Đến nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nhận được Quyết định phân bổ kế hoạch vốn NSNN năm 2022 của 15/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó có 07 tỉnh, thành phố chưa phân bổ 100% kế hoạch vốn ngân sách trung ương được Thủ tướng Chính phủ giao theo Quyết định số 2048/QĐ-TTg ngày 06/12/2021.

    Nội dung về phân bổ chi tiết vốn đầu tư nguồn NSNN năm 2022 sẽ là mội trong các nội dung được báo cáo trong phiên họp của Chính phủ với các địa phương (dự kiến đầu tháng 01/2022) và phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 01/2022.

    Để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2022 góp phần thúc đẩy phục hồi tăng trưởng kinh tế, đề nghị đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tham mưu giao chi tiết kế hoạch vốn NSNN năm 2022 trước ngày 31/12/2021; gửi báo cáo kết quả về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trước ngày 10/01/2022 và cập nhật toàn bộ phương án lên Hệ thống thông tin về đầu tư sử dụng vốn NSNN theo quy định.

    Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện các nội dung tại Công điện này và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ việc chậm triển khai các nhiệm vụ về giao chi tiết kế hoạch đầu tư công năm 2022 theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Lễ ra mắt Cổng thông tin doanh nghiệp

    Lễ ra mắt Cổng thông tin doanh nghiệp

     

    Ngày 23/12/2021, Cổng thông tin doanh nghiệp chính thức ra mắt tại địa chỉ https://business.gov.vn. Tham dự buổi Lễ có Tham tán thứ nhất Đại sứ quán Đức tại Việt Nam Debastian Paust, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Nguyễn Văn Thân. Về phía Bộ Kế hoạch và Đầu tư có Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp Lê Mạnh Hùng, Giám đốc Trung tâm Tin học Nguyễn Như Sơn cùng đại diện lãnh đạo một số đơn vị liên quan.

    Buổi Lễ còn có sự tham dự của đại diện các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các nước trong khu vực ASEAN qua hình thức trực tuyến.

    Cục trưởng Lê Mạnh Hùng phát biểu tại buổi Lễ. Ảnh: MPI

    Phát biểu tại buổi Lễ, Cục trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, Cổng thông tin doanh nghiệp là nền tảng hiện đại, miễn phí cung cấp thông tin, dịch vụ nhằm hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp tiếp cận thông tin một cách chính thống và minh bạch phục vụ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Lễ ra mắt Cổng thông tin doanh nghiệp có ý nghĩa, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc đổi mới phương thức cung cấp thông tin, dịch vụ cũng như giao tiếp với cộng đồng doanh nghiệp trên một nền tảng công nghệ hiện đại.

    Nhu cầu tra cứu, tìm kiếm thông tin về cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kết nối kinh doanh luôn là mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế số, công nghệ số đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Sự bùng nổ về thông tin luôn mang lại cả cơ hội và thách thức, do đó, việc hình thành, phát triển một kênh thông tin đa chiều, phong phú, kịp thời, có tính chính xác cao giữa Nhà nước và doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp đầu chuỗi hay với doanh nghiệp FDI cũng như doanh nghiệp nhà nước là một yêu cầu cấp thiết. Đây là một vấn đề đặt ra nhằm thực hiện mục tiêu hỗ trợ về thông tin cho cộng đồng doanh nghiệp theo quy định tại Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; tạo một nền tảng công nghệ hiện đại để doanh nghiệp nhà nước công bố thông tin rộng rãi và có giá trị khai thác cao theo quy định tại Luật doanh nghiệp và Nghị định số 47/2021/NĐ-CP của Chính phủ.

    Bên cạnh đó, Cổng thông tin doanh nghiệp còn là một kênh thông tin để kịp thời ghi nhận các khó khăn, giải pháp, sáng kiến của doanh nghiệp với Chính phủ, nhất là trong giai đoạn bị tác động nặng nề bởi đại dịch Covid-19. Đồng thời, trong quá trình hội nhập, nhất là việc hợp tác chặt chẽ với các nước ASEAN. Cổng thông tin doanh sẽ làm cầu nối giữa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam với cộng đồng doanh nghiệp các nước bạn, thể hiện vai trò thành viên tích cực của Việt Nam trong việc vận hành Cổng kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa ASEAN, góp phần đưa doanh nghiệp Việt Nam kết nối và phát triển thị trường tới các khu vực khác trên toàn cầu.

    Cục trưởng Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, cùng với việc quyết tâm thúc đẩy công tác hỗ trợ doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng thông qua các hoạt động triển khai Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị thì việc đầu tư xây dựng, phát triển Cổng thông tin doanh nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thể hiện sự quyết tâm của Bộ trong việc đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, phát triển bền vững.

    Cổng thông tin doanh nghiệp được xây dựng trên nền tảng mở, kêu gọi tất cả các bên liên quan tham gia trực tiếp, từ các bộ ngành, địa phương, cơ quan hỗ trợ đến các tổ chức phát triển, mạng lưới tư vấn viên, các đơn vị nghiên cứu ngành thị trường chuyên nghiệp sẽ tạo ra một hệ thống thông tin thông suốt, đa chiều và huy động được tất cả mọi nguồn lực từ Nhà nước đến tư nhân tham gia vào công tác hỗ trợ doanh nghiệp. Trong thời gian tới, Cổng sẽ cần tiếp tục được đầu tư nâng cấp, phát triển trên cơ sở huy động nguồn vốn đầu tư công cũng như sự hỗ trợ của các tổ chức phát triển quốc tế. Qua đó, giúp cộng đồng doanh nghiệp sẽ được tham gia trải nghiệm Cổng thông tin hiện đại và tiện lợi để góp phần vào sự phát triển vững mạnh của cộng đồng doanh nghiệp.

    Tham tán thứ nhất Đại sứ quán Đức tại Việt Nam Debastian Paust phát biểu tại buổi Lễ. Ảnh: MPI

    Phát biểu tại buổi Lễ, Tham tán thứ nhất Đại sứ quán Đức tại Việt Nam Debastian Paust chúc mừng Chính phủ Việt Nam vì những kết quả đạt được trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam đã đưa ra những mục tiêu vô cùng mạnh mẽ nhưng hoàn toàn khả thi. Điều này càng có ý nghĩa khi trong quá trình thực hiện các mục tiêu có sự tham gia của doanh nghiệp nhỏ và vừa, là nền tảng, xương sống của nền kinh tế.

    Việc ra mắt Cổng thông tin doanh nghiệp là đánh dấu quan trọng, đảm bảo nhu cầu cấp thiết về thông tin, dịch, xử những vấn đề doanh đang gặp phải trong quá trình hội nhập, tận dụng, khai thác thị trường trong khu vực và thế giới. Điều này cũng là biện pháp ứng phó vô cùng thực tiễn, thể hiện cam kết của Chính phủ trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cổng là nền tảng toàn diện, thân thiện với người sử dụng, là chính sách một cửa để doanh nghiệp tìm kiếm thông tin quan trọng và có giá trị cao; cung cấp điểm tiếp cận như mạng lưới tư vấn, tìm kiếm đối tác, nghiên cứu thị trường, tận dụng tốt nhất cơ sở dữ liệu từ cấp độ quốc gia và khu vực ASEAN.

    Ông Debastian Paust cho biết, Cổng thông tin doanh nghiệp sẽ được kết nối với Cổng kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa ASEAN (ASEAN Access) là cổng thông tin trực tuyến miễn phí kết nối doanh nghiệp trong và ngoài ASEAN, cung cấp cho các doanh nghiệp những thông tin liên quan đến thương mại, thị trường và cơ hội tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ cần thiết để thâm nhập các thị trường mới và tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu. Đồng thời khẳng định, Đức mong muốn tăng hơn nhiều cơ hội hợp tác với Việt Nam, đặc biệt là tận dụng Hiệp định EVFTA để thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới.

    Ảnh: MPI

    Cổng thông tin doanh nghiệp do Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) triển khai xây dựng, là nền tảng dịch vụ công hiện đại, miễn phí của Nhà nước, áp dụng các công nghệ tiên tiến nhất hiện nay nhằm cung cấp thông tin nhanh chóng, có tính xác thực, độ tin cậy cao./.

     

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Diễn đàn Xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp và khu kinh tế của Việt Nam 

    Diễn đàn Xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp và khu kinh tế của Việt Nam 

     

    Ngày 21/12/2021, trong khuôn khổ Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia năm 2021, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức Diễn đàn Xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp và khu kinh tế của Việt Nam nhằm chia sẻ, lắng nghe các ý kiến, đóng góp từ các tổ chức quốc tế, các cơ quan nhà nước, các nhà đầu tư trong và ngoài nước để xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh của các khu công nghiệp, khu kinh tế (KCN, KKT) Việt Nam thuận lợi hơn và là điểm đến tin cậy của các nhà đầu tư.

    Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế Lê Thành Quân phát biểu khai mạc Diễn đàn.
    Ảnh: MPI

    Phát biểu tại Diễn đàn, Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lê Thành Quân cho biết, Việt Nam đã và đang tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh để kêu gọi và thu hút các nhà đầu tư, trong đó trọng tâm là hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhất là hệ thống giao thông kết nối thị trường trong nước và quốc tế; xây dựng cơ chế, chính sách về đầu tư, sản xuất kinh doanh thông thoáng, hấp dẫn và phù hợp với thông lệ quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng nền hành chính minh bạch, thân thiện và đồng hành với doanh nghiệp, nhà đầu tư.

    Việc phát triển các KCN, KKT là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược, định hướng thu hút đầu tư của Việt Nam. Qua gần 30 năm xây dựng và phát triển, hiện nay trên cả nước có 395 KCN được thành lập tại 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với tổng diện tích gần 123 nghìn ha; 26 KKT cửa khẩu được thành lập tại 21 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biên giới đất liền với tổng diện tích khoảng 766 nghìn ha và 18 KKT ven biển được thành lập tại 17 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khu vực ven biển, với tổng diện tích mặt đất và mặt nước khoảng 871,5 ngàn ha. Các KCN, KKT đã trở thành những khu vực trọng điểm thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước, hiện là điểm đến của nhiều tập đoàn hàng đầu trên thế giới như Samsung, Sumitomo, Foxcon, LG, Hyosung, Canon, Robert Bosch, … với nhiều sản phẩm được xuất khẩu sang thị trường toàn cầu, góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế của khu vực và thế giới. Nhiều doanh nghiệp trong nước với khởi đầu là nhà đầu tư phát triển và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN đã phát triển thành những tập đoàn đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực, dần vươn tới các thị trường ngoài nước, khẳng định vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế. Hệ thống các KKT ven biển đã tận dụng và phát huy được lợi thế về địa chính trị kinh tế. Các KKT như Chu Lai, Dung Quất, Vũng Áng, Nghi Sơn …. đã thu hút được các dự án công nghiệp nặng quy mô lớn trong lĩnh vực cơ khí, hóa dầu, nhiệt điện, sản xuất thép, lắp ráp ô tô …

    Các KCN, KKT đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam; chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng gia tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, giá trị công nghệ; thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; giải quyết việc làm; phát triển đô thị; thúc đẩy liên kết ngành và liên kết vùng; bảo vệ môi trường sinh thái; mở rộng quan hệ đối ngoại ….

    Trình bày tổng quan về phát triển và định hướng thu hút đầu tư vào KCN, KKT, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế Trần Quốc Trung cho biết, tính đến cuối tháng 10/2021, đã có 10.996 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 230,2 tỷ USD, vốn đầu tư thực hiện khoảng 69%. 10.211 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 2,54 triệu tỷ đồng, vốn thực hiện khoảng 46,5%. Năm 2020, các doanh nghiệp trong KCN, KKT đóng góp giá trị kim ngạch xuất khẩu 138 tỷ USD, tương đương tỷ trọng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đóng góp vào ngân sách 137 nghìn tỷ đồng, tạo việc làm cho 4 triệu lao động.

    Về một số định hướng phát triển KCN, KKT trong thời gian tới, phát triển về số lượng và quy mô KCN, KKT phải đảm bảo bền vững, tuân thủ nguyên tắc phát huy thế mạnh địa phương, tạo điều kiện liên kết phát triển kinh tế vùng, cụm liên kết ngành. Hình thành hệ thống KCN nòng cốt, các KKT trọng điểm với vai trò dẫn dắt sự phát triển các ngành công nghiệp quốc gia. Phát triển các loại hình KCN sinh thái, KCN hỗ trợ, KCN chuyên ngành, KCN công nghệ cao tại khu vực đồng bằng để phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, công nghệ cao, liên kết chuỗi giá trị. Phát triển các KCN có quy mô vừa và nhỏ tại khu vực nông thôn, miền núi để phát triển các ngành công nghiệp chế biến (lương thực, thực phẩm, nông, lâm, thủy, hải sản), các ngành sử dụng nhiều lao động (dệt may, da giày). Tiến tới cân bằng trong phát triển KCN, KKT để giảm áp lực về giao thông, đô thị, môi trường và hạ tầng xã hội. Hạn chế phát triển KCN trên đất nông nghiệp có năng suất ổn định. Thúc đẩy phát triển KCN, KKT theo chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Chuyển dịch cơ cấu dự án trong KCN, KKT thông qua đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng và thân thiện với môi trường; sử dụng ít tài nguyên (đất đai, nước, …), năng lượng, lao động. Đa dạng hóa các phương thức hợp tác đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN, KKT. Khuyến khích huy động nguồn lực tư nhân trong xây dựng, phát triển KCN, KKT.

    Các ngành, lĩnh vực thu hút đầu tư vào KCN, KKT đó là thiết bị, linh kiện điện tử; năng lượng; công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp ô tô, cơ khí chế tạo; logistics (cảng biển, hàng không, kho bãi); thiết bị y tế, chế biến lương thực, thực phẩm; Dệt may, da giầy; hàng tiêu dùng và bán lẻ; công nghệ cao; khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo; Chuyển giao công nghệ; Nhà ở, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng; công nghệ thông tin; Bất động sản nghỉ dưỡng; nghiên cứu và phát triển; Cơ sở hạ tầng.

    Để thực hiện định hướng này, Chính phủ đang có nhiều chính sách ưu đãi đầu tư vào KCN, KKT như ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi thuế nhập khẩu, ưu đãi đất đai, hỗ trợ của nhà nước đối với đầu tư xây dựng hạ tầng KCN, KKT, chính sách nhà ở công nhân…

    Hình ảnh Diễn đàn tại điểm cầu Hà Nội. Ảnh: MPI

    Tại Diễn đàn, các đại biểu đến từ Công ty phát triển hạ tầng KCN Nam Cầu Kiền, Hải Phòng; Công ty cổ phần KCN An Phát; Công ty TNHH VSIP Bắc Ninh; Tập đoàn Tân Hoàng Minh; … đã chia sẻ về mô hình KCN sinh thái gắn với phát triển bền vững; phát triển KCN kỹ thuật cao; KCN, KKT gắn với phát triển quy hoạch đô thị và dịch vụ tiện ích cho người lao động; mô hình KCN chuyên sâu; …

    Kết luận Diễn đàn, Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế Lê Thành Quân nhấn mạnh, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới toàn diện và mạnh mẽ để trở thành một đất nước phát triển và hiện đại, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, tránh tụt hậu so với các quốc gia trong khu vực. Điều đó đặt ra yêu cầu đối với sự phát triển KCN, KKT cần có thay đổi để đảm bảo hiệu quả và bền vững hơn nữa. Định hướng, chủ trương của Đảng, Chính phủ Việt Nam gần đây yêu cầu về nâng cao hiệu quả hoạt động của KCN, KKT, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, trong đó lấy tăng trưởng theo chiều sâu là hướng chủ đạo, xác định rõ trọng tâm phát triển và cơ chế, chính sách vượt trội phù hợp với đặc thù của từng mô hình và phát triển KCN, KKT sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh.

    Để tiếp tục nâng cao sức hấp dẫn của môi trường đầu tư kinh doanh của KCN, KKT, với vai trò cơ quan đầu mối, tham mưu về quản lý nhà nước đối với KCN, KKT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã và đang tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển KCN, KKT, trong đó xác định một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới đó là hoàn thiện mô hình quản lý và ưu đãi đầu tư của KCN, KKT; phát triển các mô hình KCN, KKT với chất lượng quy hoạch, trình độ quản lý và cơ sở hạ tầng kỹ thuật cao hơn; nâng cao tính liên kết, hợp tác giữa các KCN, KKT.

    Vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 14/3/2018 về quản lý KCN và KKT, trong đó đã bổ sung, hoàn thiện các quy định về việc phát triển mô hình KCN, KKT mới. Thời gian tới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cam kết sẽ cùng các Bộ, ngành và các địa phương tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế chính sách và đồng hành cùng nhà đầu tư để xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh của KCN, KKT ngày càng thông thoáng, minh bạch, hiệu quả xây dựng các KCN, KKT của Việt Nam tiếp tục trở thành điểm đến tin cậy của các nhà đầu tư trong và ngoài nước./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp về tình hình kinh tế – xã hội năm 2021

    Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp về tình hình kinh tế – xã hội năm 2021

    Ngày 28/12/2021, Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 352/TB-VPCP về Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về tình hình kinh tế – xã hội năm 2021; dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022; dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Thông báo nêu rõ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá cao Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tích cực phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương để chuẩn bị các dự thảo Báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội năm 2021; dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022 (dự thảo Nghị quyết 01); dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022 (dự thảo Nghị quyết 02).

    Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có ý kiến góp ý trực tiếp vào các dự thảo Báo cáo, dự thảo Nghị quyết 01; dự thảo Nghị quyết 02; chuẩn bị nội dung thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý, nhất là về đánh giá các kết quả đạt được năm 2021, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan, dự báo tình hình, xác định nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần tập trung triển khai thực hiện trong năm 2022 và phụ lục các nhiệm vụ cụ thể gắn với thời hạn hoàn thành và gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ các ý kiến phát biểu tại cuộc họp và ý kiến bằng văn bản của các cơ quan. Chủ động trao đổi thống nhất với các Bộ, cơ quan liên quan để hoàn thiện các báo cáo, các dự thảo Nghị quyết phục vụ Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương vào ngày 05/01/2022.

    Trong đó, về báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2021, bảo đảm kế thừa và bám sát kết cấu, nội dung các Báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội đã trình Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, đã được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ báo cáo tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khóa XIV; Kết luận số 20-KL/TW ngày 16/10/2021 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về kinh tế – xã hội năm 2021-2022; Nghị quyết số 32/2021/QH15 của Quốc hội; cập nhật tình hình, các số liệu, diễn biến mới, nhất là về công tác chỉ đạo, điều hành, kết quả đạt được trong phòng, chống dịch, tiêm vắc-xin, xử lý các vấn đề tồn đọng kéo dài,…

    Đồng thời, bổ sung các số liệu so sánh với kết quả của năm 2020 để làm sâu sắc hơn các đánh giá, nhận định về kết quả đạt được trong năm 2021, có tính đến các đặc thù của năm 2021 như tác động nặng nề, khó lường của dịch bệnh; việc tập trung triển khai, góp phần tổ chức thành công các sự kiện lớn của đất nước, kiện toàn nhân sự nhiệm kỳ mới…

    Về dự thảo Nghị quyết 01, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu chủ đề của năm 2022 theo hướng “ổn định, kỷ cương, an toàn, linh hoạt, hiệu quả” để phản ánh sát hơn các yêu cầu của năm 2022. Bổ sung vào các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2022 các nội dung như việc khắc phục hạn chế, yếu kém của năm 2021, nhất là các tồn tại, hạn chế kéo dài; thúc đẩy triển khai hiệu quả Chương trình tổng thể phòng, chống dịch Covid-19 và Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội để thúc đẩy tăng trưởng; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương.

    Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao năng suất lao động; tập trung đầu tư, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng xã hội (y tế, văn hóa, giáo dục); thích ứng với biến đổi khí hậu, thúc đẩy tăng trưởng xanh; cải cách thủ tục hành chính; đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công; tiếp tục khắc phục các tổ chức tín dụng yếu kém, các dự án thua lỗ, dự án chậm tiến độ…

    Về dự thảo Nghị quyết 02, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần bám sát chủ đề để cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của năm 2022, bảo đảm tránh trùng lặp các nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định tại các Nghị quyết khác của Chính phủ, nhất là tháo gỡ khó khăn về thể chế, cơ chế, chính sách, tăng cường phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, khắc phục triệt để tình trạng gây phiền hà trong giải quyết thủ tục hành chính; đẩy mạnh chuyển đổi số, hỗ trợ phục hồi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân…, đặc biệt là các giải pháp khắc phục yếu kém về môi trường kinh doanh.

    Thủ tướng Chính phủ phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái trực tiếp chỉ đạo việc hoàn thiện Báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội năm 2021 và dự thảo Nghị quyết 01 và phải xong trước ngày 31/12/2021.

    Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam trực tiếp chỉ đạo việc tổng kết đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2021 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2021 và dự thảo Nghị quyết 02 năm 2022 và phải xong trước ngày 31/12/2021./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài năm 2021

    Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài năm 2021

    Tính đến ngày 20/12/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2020.

    Theo báo cáo, cả vốn đăng ký mới và vốn điều chỉnh đều tăng so với cùng kỳ. GVMCP tuy vẫn giảm song mức giảm đã cải thiện rất nhiều so với các tháng trước.

    Cụ thể, có 1.738 dự án mới được cấp GCNĐKĐT (giảm 31,1%), tổng vốn đăng ký đạt trên 15,2 tỷ USD (tăng 4,1% so với cùng kỳ); có 985 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 13,6%), tổng vốn đăng ký tăng thêm đạt trên 9 tỷ USD (tăng 40,5% so với cùng kỳ); có 3.797 lượt GVMCP của nhà ĐTNN (giảm 38,2%), tổng giá trị vốn góp đạt gần 6,9 tỷ USD (giảm 7,7% so với cùng kỳ).

    Cơ cấu ĐTNN năm 2021 theo ngành

    Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 18,1 tỷ USD, chiếm 58,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành sản xuất, phân phối điện mặc dù thu hút được số lượng dự án mới, điều chỉnh cũng như GVMCP không nhiều, song có dự án có quy mô vốn lớn nên đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 5,7 tỷ USD, chiếm 18,3% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các ngành kinh doanh bất động sản; bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt là trên 2,6 tỷ USD và trên 1,4 tỷ USD.

    Nếu xét về số lượng dự án mới thì công nghiệp chế biến chế tạo, bán buôn bán lẻ và hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ là các ngành thu hút được nhiều dự án nhất, chiếm lần lượt 30,7%, 28,1% và 16,7% tổng số dự án.

    Cơ cấu ĐTNN năm 2021 theo đối tác

    Đã có 106 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, Xinh-ga-po dẫn đầu với tổng vốn đầu tư trên 10,7 tỷ USD, chiếm 34,4% tổng vốn đầu tư, tăng 19,1% so với cùng kỳ 2020. Hàn Quốc đứng thứ hai với gần 5 tỷ USD, chiếm 15,9% tổng vốn đầu tư, tăng 25,4% so với cùng kỳ. Nhật Bản đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 3,9 tỷ USD, chiếm 12,5% tổng vốn đầu tư, tăng 64,6% so với cùng kỳ. Tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,…

    Vốn đầu tư của Xinh-ga-po gấp gần 2,2 lần vốn đầu tư của Hàn Quốc và gấp hơn 2,7 lần vốn đầu tư của Nhật Bản do Xinh-ga-po có 01 dự án đầu tư mới và 01 trường hợp GVMCP có vốn đầu tư lớn. Riêng hai dự án này đã chiếm trên 49% tổng vốn đầu tư của Xinh-ga-po.

    Hàn Quốc mặc dù chỉ xếp thứ hai về vốn đầu tư, song lại là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới, số lượt dự án điều chỉnh vốn cũng như số lượt GVMCP. Như vậy, nếu xét về số lượng dự án, Hàn Quốc là đối tác có nhiều nhà đầu tư quan tâm và đưa ra các quyết định đầu tư mới cũng như mở rộng dự án đầu tư nhất trong năm 2021.

    Cơ cấu ĐTNN năm 2021 theo địa phương

    Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 59 tỉnh, thành phố trên cả nước. Hải Phòng vượt qua Long An vươn lên dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 5,26 tỷ USD, chiếm 16,9% tổng vốn đầu tư đăng ký và gấp gần 3,5 lần so với cùng kỳ năm 2020. Long An xếp thứ hai với trên 3,84 tỷ USD, chiếm 12,3% tổng vốn đầu tư. Thành phố Hồ Chí Minh đứng vị trí thứ ba với gần 3,74 tỷ USD, chiếm gần 12% tổng vốn đầu tư, giảm 14,2% so với cùng kỳ. Tiếp theo lần lượt là Bình Dương, Bắc Ninh, Hà Nội,…

    Nếu xét về số dự án, các nhà ĐTNN vẫn tập trung đầu tư nhiều tại các thành phố lớn, có cơ sở hạ tầng thuận lợi như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bắc Ninh. Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả về số dự án mới (29,2%), số lượt dự án điều chỉnh (18,1%) và GVMCP (60,3%). Hà Nội tuy không thuộc top 5 địa phương thu hút ĐTNN trong năm, song xếp thứ hai về số dự án mới (16,7%) và số lượt GVMCP (12,2%).

    Ước tính các dự án ĐTNN đã giải ngân được 19,74 tỷ USD trong năm 2021, giảm nhẹ 1,2% so với cùng kỳ năm 2020, tăng 3 điểm phần trăm so với 11 tháng năm 2021.

    Tính lũy kế đến ngày 20/12/2021, cả nước có 34.527 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 408,1 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án ĐTNN ước đạt 251,6 tỷ USD, bằng 61,7% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng trong cả năm 2021 và tăng 1 điểm phần trăm so với 11 tháng năm 2021. Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 246,7 tỷ USD, tăng 20,7% so với cùng kỳ, chiếm 73,6% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt trên 245 tỷ USD, tăng 20,8% so với cùng kỳ, chiếm 73,1% kim ngạch xuất khẩu cả nước.

    Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt gần 218,3 tỷ USD, tăng 29,2% so cùng kỳ và chiếm 65,7% kim ngạch nhập khẩu cả nước.

    Tính chung trong cả năm 2021, khu vực ĐTNN xuất siêu gần 28,5 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu trên 26,7 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu 25,5 tỷ USD.

    Một số dự án ĐTNN lớn trong năm 2021

    Dự án Nhà máy điện LNG Long An I và II (Xinh-ga-po), tổng vốn đăng ký trên 3,1 tỷ USD với mục tiêu truyền tải và phân phối điện, sản xuất điện tại Long An (cấp GCNĐKĐT ngày 19/3/2021).

    Dự án LG Display Hải Phòng (Hàn Quốc), điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 2,15 tỷ USD (trong đó điều chỉnh tăng 1,4 tỷ USD ngày 30/8/2021 và tăng 750 triệu USD ngày 04/02/2021).

    Dự án Nhà máy nhiệt điện Ô Môn II (Nhật Bản), tổng vốn đăng ký trên 1,31 tỷ USD với mục tiêu xây dựng một nhà máy nhiệt điện nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp điện cho lưới điện khu vực và hệ thống điện quốc gia tại Cần Thơ (cấp GCNĐKĐT ngày 22/01/2021).

    Dự án nhà máy sản xuất giấy Kraft Vina công suất 800.000 tấn/năm (Nhật Bản), tổng vốn đầu tư 611,4 triệu USD với mục tiêu sản xuất giấy kraft, giấy lót và giấy bao bì tại Vĩnh Phúc (cấp GCNĐKĐT ngày 23/7/2021).

    Dự án Nhà máy Công ty TNHH Polytex Far Eastern Việt Nam (Đài Loan), điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 610 triệu USD (GCNĐT điều chỉnh cấp ngày 13/5/2021)./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp cả năm 2021 tăng 4,82% so với năm 2020

    Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp cả năm 2021 tăng 4,82% so với năm 2020

    Sản xuất công nghiệp trong quý IV/2021 khởi sắc ngay sau khi các địa phương trên cả nước thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 với tốc độ tăng giá trị tăng thêm đạt 6,52% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 4,82% so với năm 2020, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,37%.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Cụ thể, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp quý I tăng 6,44%; quý II tăng 11,18%; quý III giảm 4,4%; quý IV tăng 6,52%. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,37% (quý I tăng 8,9%; quý II tăng 13,35%; quý III giảm 4,09%; quý IV tăng 7,96%), đóng góp 1,61 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,24%, đóng góp 0,19 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 6,21% (do sản lượng khai thác dầu thô giảm 5,7% và khí đốt tự nhiên giảm 19,4%), làm giảm 0,23 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

    Chỉ số sản xuất năm 2021 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng cao so với năm trước: Sản xuất kim loại tăng 22,1%; sản xuất xe có động cơ tăng 10,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,6%; khai thác than cứng và than non tăng 9%; dệt tăng 8,3%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 8,1%; sản xuất trang phục tăng 7,6%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 16,9%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 13,2%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 11,5%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 5,5%; khai thác quặng kim loại giảm 4,9%.

    Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2021 so với năm trước tăng ở 48 địa phương và giảm ở 15 địa phương trên cả nước.

    Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực năm 2021 tăng cao so với năm trước như thép cán tăng 33,5%; linh kiện điện thoại tăng 29,5%; xăng dầu tăng 14,4%; sữa bột tăng 13,1%; khí hóa lỏng LPG tăng 10,9%; sắt, thép thô tăng 10,5%; thức ăn cho gia súc tăng 9,5%; ô tô tăng 9,1%; than sạch tăng 9%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với năm trước: Tivi giảm 38,6%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 19,4%; bia giảm 7,1%; dầu mỏ thô khai thác giảm 5,7%; đường kính giảm 3,3%; thức ăn cho thủy sản giảm 3,2%.

    Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2021 tăng 5,9% so với tháng trước và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5% so với năm 2020 (năm trước tăng 3,3%).

    Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm ngày 31/12/2021 tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 21,9% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 25,3%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân năm 2021 là 79,1% (năm 2020 là 71,9%).

    Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm ngày 01/12/2021 tăng 1,7% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 1,9% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,2% và giảm 2,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,2% và giảm 3,9%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,1% và giảm 1%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,8% và giảm 2,1%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,4% và tăng 3,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2% và giảm 0,5%./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu 

  • Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất cây trồng và chăn nuôi đạt khá

    Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất cây trồng và chăn nuôi đạt khá

    Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất cây trồng và chăn nuôi đạt khá. Kết quả hoạt động năm 2021 của ngành nông nghiệp đã thể hiện rõ vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, là cơ sở quan trọng để thực hiện an sinh, an dân trong đại dịch.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Diện tích lúa cả năm ước đạt 7,24 triệu ha, giảm 38,3 nghìn ha so với năm trước do chuyển đổi cơ cấu sản xuất và mục đích sử dụng đất; năng suất lúa ước đạt 60,6 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha; sản lượng lúa đạt 43,88 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn.

    Kết quả sản xuất vụ đông xuân của cả nước năm nay đạt khá tuy diện tích gieo trồng đạt 3.006,8 nghìn ha, giảm 17,2 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2020 nhưng năng suất đạt ở mức cao với 68,6 tạ/ha, tăng 2,9 tạ/ha.Vụ lúa hè thu năm 2021 đạt năng suất và sản lượng khá. Diện tích gieo trồng lúa hè thu cả nước năm nay đạt 1.954,2 nghìn ha, tăng 9,1 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2020. Diện tích gieo trồng lúa thu đông năm 2021 ước tính đạt 719,7 nghìn ha, giảm 4,3 nghìn ha so với vụ thu đông năm trước. Vụ mùa năm nay cả nước gieo cấy được 1.559,7 nghìn ha, giảm 26,1 nghìn ha so với năm trước, chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng sang trồng cây hằng năm khác hoặc cây lâu năm có hiệu quả kinh tế cao hơn. Với điều kiện thời tiết thuận lợi, cây lúa đẻ nhánh nhanh và đồng đều, các loại sâu bệnh xuất hiện được phòng trừ kịp thời nên năng suất vụ mùa năm nay tăng so với năm trước, ước tính đạt 51,7 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha.

    Sản lượng lúa năm 2021 tăng 1,1 triệu tấn so với năm 2020, đánh dấu một năm sản xuất lúa thắng lợi với năng suất tăng ở tất cả các mùa vụ. Sản lượng lúa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ chế biến và xuất khẩu. Có được kết quả này là do điều kiện thời tiết thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển và do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi mùa vụ hiệu quả.

    Năm 2021, diện tích trồng cây lâu năm ước tính đạt 3.688,6 nghìn ha, tăng 2% so với năm 2020, bao gồm nhóm cây công nghiệp đạt 2.209,9 nghìn ha, tăng 1,1%; nhóm cây ăn quả đạt 1.173,4 nghìn ha, tăng 3,4%; nhóm cây lấy dầu đạt 189,1 nghìn ha, tăng 3,2%; nhóm cây gia vị, dược liệu đạt 55 nghìn ha, tăng 3,8%.

    Trong nhóm cây công nghiệp, diện tích cao su đạt 938,8 nghìn ha, tăng 0,7% so với năm trước, sản lượng năm đạt 1.260,1 nghìn tấn, tăng 2,8%; cà phê diện tích đạt 705 nghìn ha, tăng 1,4%, sản lượng đạt 1.816 nghìn tấn, tăng 3%…

    Chăn nuôi lợn và gia cầm năm 2021 chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhiều chợ đầu mối, chợ truyền thống tạm ngưng hoạt động làm gián đoạn chuỗi cung ứng; nhà hàng, quán ăn đóng cửa, du lịch đình trệ khiến nhu cầu thị trường giảm, lượng vật nuôi tồn đọng trong chuồng lớn, giá thịt lợn hơi những tháng cuối năm ở mức thấp trong khi đó chi phí đầu vào tăng khiến nhiều cơ sở chăn nuôi bị thua lỗ. Bên cạnh đó, chăn nuôi lợn gặp khó khăn do dịch tả lợn châu Phi tuy được kiểm soát nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát.

    Tính đến ngày 22/12/2021, cả nước không còn dịch lợn tai xanh và dịch lở mồm long móng; dịch tả lợn châu Phi còn ở 41 địa phương và dịch viêm da nổi cục còn ở 7 địa phương chưa qua 21 ngày.

    Theo báo cáo, sản xuất lâm nghiệp quý IV/2021 có nhiều thuận lợi trong những tháng cuối năm khi cả nước thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ. Trong quý IV/2021, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước tính đạt 101,9 nghìn ha, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 33,9 triệu cây, tăng 4,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 5.245,2 nghìn m3, tăng 8,1%; sản lượng củi khai thác đạt 4,5 triệu ste, giảm 3,8%.

    Tính chung năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước tính đạt 277,8 nghìn ha, tăng 2,8% so với năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 99 triệu cây, tăng 3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 18,1 triệu m3, tăng 5,4%; sản lượng củi khai thác đạt 18,8 triệu ste, giảm 1,6%. Diện tích rừng bị thiệt hại quý IV/2021 là 133 ha, giảm 52,1% so với cùng kỳ năm trước.

    Sản lượng thủy sản quý IV/2021 ước tính đạt 2.316,3 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 8.726,6 nghìn tấn, tăng 1% so với năm 2020; bao gồm: Cá đạt 6.295,2 nghìn tấn, tăng 0,1%; tôm đạt 1.136,4 nghìn tấn, tăng 4,3%; thủy sản khác đạt 1.295 nghìn tấn, tăng 2,6%.

    Trong quý IV/2021, các nhà máy chế biến thủy sản khôi phục hoạt động sản xuất và đẩy mạnh chế biến, xuất khẩu phục vụ nhu cầu tiêu thụ cuối năm sau thời gian dừng hoặc giảm công suất hoạt động do thực hiện giãn cách xã hội và sản xuất “3 tại chỗ” trong quý III/2021.

    Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý IV/2021 ước đạt 1.452,7 nghìn tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 1.006 nghìn tấn, tăng 1,7%; tôm đạt 283,7 nghìn tấn, tăng 4,2%. Tính chung năm 2021, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 4.805,8 nghìn tấn, tăng 1,0% so với năm trước.

    Sản lượng thủy sản khai thác quý IV/2021 ước đạt 863,6 nghìn tấn, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 3.920,8 nghìn tấn, tăng 0,9% so với năm trước; thủy sản khác đạt 735,8 nghìn tấn, tăng 0,6%. Sản lượng thủy sản khai thác biển năm 2021 ước đạt 3.726 nghìn tấn, tăng 0,9%./.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý I/2022

    Doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý I/2022

    Tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường trong năm 2021 đạt gần 160 nghìn doanh nghiệp, giảm 10,7% so với năm 2020; 119,8 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 17,8%, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp thành lập dưới 5 năm, quy mô vốn nhỏ.

    Ảnh minhhọa. Nguồn: MPI

    Việc ban hành và triển khai kịp thời Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 trên phạm vi toàn quốc đã góp phần quan trọng trong khôi phục sản xuất và thúc đẩy thị trường, từng bước tạo niềm tin cho các doanh nghiệp. Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý I/2022 với 81,7% doanh nghiệp đánh giá sẽ ổn định và tốt hơn so với quý IV/2021.

    Trong tháng 12/2021, cả nước có 11,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 156,9 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 69,7 nghìn lao động, giảm 5,7% về số doanh nghiệp, tăng 4,7% về vốn đăng ký và giảm 8,9% về số lao động so với tháng 11/2021. So với tháng 12/2020, tăng 5% về số doanh nghiệp, giảm 56% về số vốn đăng ký và giảm 4,5% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 14 tỷ đồng, tăng 11% so với tháng trước và giảm 58,1% so với cùng kỳ năm 2020.

    Cũng trong tháng, cả nước còn có 4.223 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 14,8% so với tháng trước và giảm 21,2% so với cùng kỳ năm 2020.

    Trong quý IV/2021, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 31,4 nghìn doanh nghiệp với số vốn đăng ký 415,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 205,1 nghìn lao động, tăng 70,4% về số doanh nghiệp, tăng 64,1% về số vốn đăng ký và tăng 24,7% về số lao động so với quý III/2021. Như vậy chỉ sau hơn hai tháng thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021, tình hình đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp trong những tháng cuối năm 2021 đã khởi sắc rõ nét.

    Tính chung năm 2021, cả nước có 116,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.611,1 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 854 nghìn lao động, giảm 13,4% về số doanh nghiệp, giảm 27,9% về vốn đăng ký và giảm 18,1% về số lao động so với năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2021 đạt 13,8 tỷ đồng, giảm 16,8% so với năm trước. Nếu tính cả 2.524,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 43,5 nghìn doanh nghiệp tăng vốn, tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm nay là 4.136 nghìn tỷ đồng, giảm 25,8% so với năm trước. Bên cạnh đó, còn có 43,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 2,2% so với năm 2020), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động năm 2021 lên gần 160 nghìn doanh nghiệp, giảm 10,7% so với năm trước. Bình quân một tháng có 13,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

    Theo khu vực kinh tế, năm nay có 1.999 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 24,3% so với năm trước; 31,2 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, giảm 22,4%; 83,6 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, giảm 9,2%.

    Cũng trong tháng 12/2021, có 3.011 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 14,5% so với tháng trước và tăng 33,8% so với cùng kỳ năm 2020; có 9.057 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 95,1% và tăng 67,1%; có 1.877 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 49,4% và giảm 7,1%.

    Tính chung năm 2021, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn gần 55 nghìn doanh nghiệp, tăng 18% so với năm trước; 48,1 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 27,8%; 16,7 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 4,1%, trong đó có 14,8 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, giảm 4%; 211 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, giảm 20,7%. Bình quân một tháng có gần 10 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

    Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2021 cho thấy: Có 44% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý III/2021; 31,1% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 24,9% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn

    Dự kiến quý I/2022, có 45,6% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý IV/2021; 36,1% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 18,3% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lạc quan nhất với 83,1% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2022 tốt hơn và giữ ổn định so với quý IV/2021; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài Nhà nước lần lượt là 82% và 81,2%.

    Về khối lượng sản xuất, có 45,7% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý IV/2021 tăng so với quý III/2021; 30,5% số doanh nghiệp cho rằng ổn định và 23,8% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm. Xu hướng quý I/2022 so với quý IV/2021, có 45,4% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 17,4% số doanh nghiệp dự báo giảm và 37,2% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

    Về đơn đặt hàng, có 39,3% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý IV/2021 cao hơn quý III/2021; 37,3% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định và 23,4% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm. Xu hướng quý I/2022 so với quý IV/2021, có 41,4% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng tăng lên; 16,8% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 41,8% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

    Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý IV/2021 so với quý III/2021, có 34% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu mới cao hơn; 43,4% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới ổn định và 22,6% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới giảm. Xu hướng quý I/2022 so với quý IV/2021, có 37,2% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu mới; 16,7% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 46,1% số doanh nghiệp dự kiến ổn định./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Năm 2021 tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước

    Năm 2021 tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước

    Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng 12/2021, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 66,5 tỷ USD, tăng 6,4% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19%; nhập khẩu tăng 26,5%.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Theo Báo cáo, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 11/2021 đạt 31,87 tỷ USD, cao hơn 1,97 tỷ USD so với số ước tính. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 12/2021 ước đạt 34,5 tỷ USD, tăng 8,3% so với tháng trước. Khu vực kinh tế trong nước đạt 9,2 tỷ USD, tăng 6,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 25,3 tỷ USD, tăng 8,9%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 12 tăng 24,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 29,6%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 23,2%.

    Trong quý IV/2021, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 95,6 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước và tăng 16,4% so với quý III/2021 (tăng 19,5% so với quý II/2021 và tăng 21,9% so với quý I/2021).

    Tính chung năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 336,25 tỷ USD, tăng 19% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 88,71 tỷ USD, tăng 13,4%, chiếm 26,4% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 247,54 tỷ USD, tăng 21,1%, chiếm 73,6%.

    Trong năm 2021 có 35 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93,8% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 69,7%). Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực năm 2021 thuộc về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: Điện thoại các loại và linh kiện chiếm 99,3%; điện tử, máy tính và linh kiện chiếm 98,1%…

    Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2021, nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 89,2%, tăng 0,6 điểm phần trăm so với năm trước; nhóm hàng nông sản, lâm sản chiếm 7,1%, giảm 0,2 điểm phần trăm; nhóm hàng thủy sản chiếm 2,6%, giảm 0,4 điểm phần trăm…

    Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 11/2021 đạt 30,61 tỷ USD, cao hơn 810 triệu USD so với số ước tính. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12/2021 ước đạt 32 tỷ USD, tăng 4,5% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 10,9 tỷ USD, tăng 7,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 21,1 tỷ USD, tăng 3,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12 tăng 14,6%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 10,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17%.

    Trong quý IV/2021, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 89,07 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước và tăng 6,2% so với quý III/2021 (tăng 6,5% so với quý II/2021 và tăng 17,6% so với quý I/2021).

    Tính chung năm 2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 332,25 tỷ USD, tăng 26,5% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 114,07 tỷ USD, tăng 21,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 218,18 tỷ USD, tăng 29,1%.

    Trong năm 2021 có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu năm 2021, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm 93,5%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với năm trước, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 46,6%, giảm 2,1 điểm phần trăm; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 46,9%, tăng 2,3 điểm phần trăm. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng chiếm 6,5%, giảm 0,2 điểm phần trăm.

    Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2021, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 95,6 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 109,9 tỷ USD. Năm 2021 xuất siêu sang EU ước đạt 23 tỷ USD, tăng 12,1% so với năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 54 tỷ USD, tăng 53%…

    Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 11 xuất siêu 1,26 tỷ USD; 11 tháng xuất siêu 1,46 tỷ USD; tháng 12 ước tính xuất siêu 2,54 tỷ USD. Tính chung năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 4 tỷ USD (năm trước xuất siêu 19,94 tỷ USD). Trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 25,36 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 29,36 tỷ USD.

    Trong quý IV/2021, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 985 triệu USD, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm 2020 và tăng 9,2% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 5,1 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước và tăng 5,5% so với quý trước.

    Trong năm 2021, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 3,67 tỷ USD, giảm 51,7% so với năm 2020, trong đó dịch vụ du lịch đạt 149 triệu USD (chiếm 4,1% tổng kim ngạch), giảm 95,4%; dịch vụ vận tải đạt 446 triệu USD (chiếm 12,1%), giảm 61,4%.

    Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm nay ước đạt 19,41 tỷ USD, tăng 8,5% so với năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 9,99 tỷ USD (chiếm 51,5% tổng kim ngạch), tăng 34,2%; dịch vụ du lịch đạt 3,63 tỷ USD (chiếm 18,7%), giảm 21,3%. Nhập siêu dịch vụ năm 2021 là 15,73 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu là 8,24 tỷ USD)./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Xu hướng sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và xây dựng quý IV năm 2021, dự báo quý I năm 2022

    Xu hướng sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và xây dựng quý IV năm 2021, dự báo quý I năm 2022

    Theo báo cáo xu hướng sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và xây dựng quý IV, dự báo quý I năm 2022 được Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố ngày 29/12/2021, điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh hàng quý bao gồm 6.500 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và 6.975 doanh nghiệp ngành xây dựng được chọn mẫu điều tra, đại diện cho toàn ngành chế biến, chế tạo và xây dựng của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Tổng số doanh nghiệp trả lời trong kỳ điều tra quý IV/2021 là 5.707 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 87,8% số doanh nghiệp được chọn mẫu điều tra) và 6.209 doanh nghiệp ngành xây dựng (chiếm 88,5% số doanh nghiệp được chọn mẫu điều tra).

    Báo cáo kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh gồm hai phần. Phần I: Xu hướng sản xuất kinh doanh (SXKD) ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, phản ánh nhận định của doanh nghiệp về tổng quan chung hoạt động SXKD; Biến động của các yếu tố đầu vào (số lượng đơn đặt hàng, lao động, chi phí sản xuất, công suất sử dụng máy móc, thiết bị); Dự kiến kết quả đầu ra (khối lượng sản xuất, giá bán bình quân của một sản phẩm) và Biến động tồn kho (tồn kho thành phẩm, tồn kho nguyên vật liệu).

    Phần II: Xu hướng SXKD ngành xây dựng, phản ánh nhận định của doanh nghiệp về tổng quan chung hoạt động SXKD; Biến động của các yếu tố đầu vào (lao động, tổng chi phí sản xuất, chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công); Hỗ trợ chính sách và tiếp cận vốn vay và kiến nghị của doanh nghiệp.

    Việc chuyển hướng phòng, chống dịch sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19” theo Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ đã có tác động tích cực tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể, có tới 75,1% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD quý IV/2021 so với quý III/2021 tốt lên và giữ ổn định (44,0% tốt lên và 31,1% giữ ổn định), chỉ còn 24,9% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn. Dự báo quý I/2022, tình hình tiếp tục khả quan hơn so với quý IV/2021 khi có tới 81,7% doanh nghiệp nhận định tình hình SXKD của doanh nghiệp tốt hơn và giữ ổn định (45,6% tốt hơn, 36,1% giữ ổn định), tỷ lệ doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn giảm xuống chỉ còn 18,3%.

    Trong quý IV/2021, mặc dù dịch Covid-19 vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp ở nhiều địa phương trên cả nước, hoạt động SXKD của các doanh nghiệp đã bắt đầu khởi sắc trở lại.

    Hoạt động SXKD của các doanh nghiệp xây dựng quý IV/2021 khả quan hơn quý III/2021 nhưng vẫn còn nhiều khó khăn hơn so với các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo. Có 52,4% doanh nghiệp nhận định tình hình SXKD quý IV/2021 khó khăn hơn quý III/2021, 25,8% số doanh nghiệp nhận định tình hình SXKD vẫn ổn định, chỉ có 21,8% số doanh nghiệp nhận định tình hình SXKD thuận lợi hơn. Dự báo quý I/2022 so với quý IV/2021, hoạt động SXKD của các doanh nghiệp xây dựng khả quan hơn với 21,3% doanh nghiệp dự báo hoạt động SXKD thuận lợi hơn, 27,7% nhận định giữ ổn định và 51,0% dự báo khó khăn hơn.

    Dịch Covid-19 đang dần được kiểm soát, nhiều giải pháp, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp cũng như các quy định, hướng dẫn thích ứng với tình hình mới được ban hành. Các doanh nghiệp xây dựng cũng đang dần khôi phục hoạt động SXKD. Việc đánh giá hoạt động SXKD của doanh nghiệp xây dựng có thể dựa trên các chỉ số cân bằng. Chỉ số cân bằng chung đánh giá tổng quan xu hướng SXKD của doanh nghiệp, các chỉ số cân bằng thành phần (chi phí sản xuất, sử dụng lao động) đánh giá về từng hoạt động SXKD cụ thể của các doanh nghiệp ngành xây dựng.

    Theo Báo cáo, mặc dù các biện pháp giãn cách xã hội trên phạm vi rộng đã được dỡ bỏ, chiến lược phòng, chống dịch được chuyển từ trạng thái “Zero-Covid” sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19” đã có tác động tích cực đối với hoạt động SXKD của doanh nghiệp, nhưng hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng vẫn còn rất nhiều khó khăn: thiếu lao động có tay nghề, thiếu vốn, giá nguyên vật liệu tăng cao gây bất lợi lớn cho doanh nghiệp do đã ký hợp đồng xây dựng tại thời điểm giá nguyên vật liệu chưa cao.

    Để các doanh nghiệp xây dựng có thể phục hồi và tiếp tục hoạt động SXKD trong thời gian tới, các nhà thầu xây dựng kiến nghị có các biện pháp nhanh chóng bình ổn giá nguyên vật liệu đầu vào cho ngành xây dựng; tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn bằng cách tiếp tục kéo dài thời gian giảm lãi suất vay ngân hàng, hỗ trợ vay ngân hàng lãi suất thấp; thủ tục vay vốn ngân hàng thuận lợi, nhanh chóng hơn.

    Đồng thời, tạo điều kiện đấu thầu mở rộng; đẩy mạnh công tác giải ngân đầu tư công đối với các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước để các công trình không bị gián đoạn thi công; gia hạn kiểm tra thuế để giảm bớt áp lực cho doanh nghiệp; miễn giảm thuế, phí, kéo dài thời gian nộp thuế, lệ phí; gia hạn, lùi thời gian nộp thuế cho doanh nghiệp; giảm mức tính lãi chậm nộp thuế cho doanh nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính công, đơn giản hóa thủ tục trình tự cấp giấp phép xây dựng để các công trình, dự án được thi công đúng tiến độ, tạo lập nhiều kênh thông tin để lắng nghe và chia sẻ, phản hồi lại các ý kiến của doanh nghiệp, tạo điều kiện tối đa để doanh nghiệp phát triển bền vững./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư