Danh mục: Tin tức kinh tế

  • Tập trung cao bồi thường giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ dự án Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử

    Chiều ngày 29/12, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn – Trưởng Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án xây dựng Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử tổ chức họp kiểm điểm tiến độ thực hiện Dự án Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử. Cùng dự có đại diện lãnh đạo một số sở, ban, ngành, huyện Sơn Động, Công ty Cổ phần dịch vụ Tây Yên Tử.

    Các đại biểu nghe đại diện Công ty Cổ phần dịch vụ Tây Yên Tử đề xuất ý tưởng. Ảnh: BGP/Diệu Hoa

    Dự án Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử có tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng hơn 1.480 tỷ đồng chia làm 3 giai đoạn triển khai trên diện tích đất 136,36 ha thuộc thị trấn Tây Yên Tử, huyện Sơn Động. Dự án đã hoàn thành giai đoạn 1 đưa vào hoạt động, hiện đang tiến hành GPMB và thuê đất giai đoạn 2 và 3. Tính đến hết ngày 24/12/2021, UBND huyện Sơn Động đã phê duyệt 17 phương án bồi thường, GPMB với tổng diện tích 87,6/113,82 ha, bằng 76,9% diện tích phải thu hồi với tổng số tiền bồi thường là trên 180 tỷ đồng. Diện tích đất còn lại là 26,2 ha, trong đó có 9,48 ha phải lập phương án thu hồi, huyện đã thực hiện xong việc điều chỉnh các quyết định của phương án 8 với 6 hộ có diện tích 3,84 ha. Hiện nay, huyện tập trung cao để lập phương án 18 thu hồi 3,87 ha với 26 hộ xong trước ngày 31/12/2021, tiến hành niêm yết phương án và trả tiền cho 26 hộ này trong tháng 01/2021, đồng thời hoàn thiện hồ sơ một số hộ không chấp hành để cưỡng chễ và bàn giao toàn bộ mặt bằng còn lại cho Công ty cổ phần dịch vụ Tây Yên Tử.

    Về phía Công ty cũng đảm bảo tiến độ chi trả, tiền bồi thường GPMB, đồng thời đang tiến hành nghiên cứu lại về ý tưởng quy hoạch mới, các công trình trọng điểm của dự án đang được tập trung xây dựng, công trình nhà Tổ – Chùa Hạ sẽ tổ chức thượng lương vào dịp khai Hội Xuân và khánh thành vào lễ Phật Đản năm 2022; công trình Gác Chuông sẽ cố gắng hoàn thiện và khai trương vào dịp khai Hội Xuân 2023.

    Tại buổi làm việc, các đại biểu tập trung thảo luận, làm rõ một số vấn đề về diện tích đất chồng lấn, tái định cư cho người dân có diện tích đất bị thu hồi;…

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn phát biểu kết luận buổi làm việc. Ảnh: BGP/Diệu Hoa

    Phát biểu kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn đề nghị Ban Chỉ đạo nhanh chóng kiện toàn lại, đồng thời tập trung cao cho công tác bồi thường GPMB với phương án 18 phải phê duyệt xong trước ngày 31/12/2021 và trả tiền xong trước Tết Nguyên đán 2022. Đối với hộ còn xót lại của phương án 16 cũng tập trung giải quyết xong trước Tết.

    Đồng chí cơ bản nhất trí với hướng điều chỉnh quy hoạch mà chủ đầu tư đề xuất, đồng thời yêu cầu chủ đầu tư chuẩn bị đầy đủ văn bản, báo cáo giải trình điều chỉnh quy hoạch, đến tháng 5/2022 hoàn thành trình điều chỉnh quy hoạch.

    Đồng chí yêu cầu huyện Sơn Động nghiên cứu, điều chỉnh quy hoạch khu dân cư; Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với đơn vị tư vấn rà soát lại quá trình sử dụng đất; huyện Sơn Động làm đầu mối để tổng hợp các nhiệm vụ cho báo cáo triển khai dự án./.

    Theo Bacgiang.gov.vn

  • Bắc Giang: Tháng 12 thu hút đầu tư tăng gấp 2,6 lần

    Bắc Giang: Tháng 12 thu hút đầu tư tăng gấp 2,6 lần

    Tháng 12/2021, tỉnh Bắc Giang đã thu hút được trên 357 triệu USD vốn đầu tư quy đổi, gấp 2,6 lần so cùng kỳ năm 2020.

    Ảnh minh họa: BGP/An Nhiên

    Trong đó cấp mới 02 dự án trong nước (DDI), vốn đăng ký 1.213 tỷ đồng, 01 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) vốn đăng ký 5 triệu USD; điều chỉnh tăng vốn 02 dự án DDI, vốn đăng ký bổ sung 54,5 tỷ đồng, 03 dự án FDI vốn đăng ký bổ sung 297 triệu USD.

    Tổng số vốn cấp mới và điều chỉnh cả năm quy đổi đạt 1,466 tỷ USD, tăng 0,2% cùng kỳ năm 2020. Trong đó cấp mới 29 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 2.878 tỷ đồng, 23 dự án FDI vốn đăng ký 645,9 triệu USD; điều chỉnh tăng vốn cho 13 dự án DDI với tổng vốn tăng thêm là 212,8 tỷ đồng và 51 dự án FDI, vốn đăng ký bổ sung 686,504 triệu USD./.

                                                                                                                                                                            Theo Bacgiang.gov.vn

  • Lục Ngạn: Các nhà vườn chăm cây, chỉnh trang vườn quả đón khách

    Thời điểm này, các nhà vườn trên địa bàn huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) đang khẩn trương chỉnh trang vườn tược, chăm sóc những trái cây cho mẫu mã đẹp, thơm ngon để đón du khách tới tham quan. Năm nay thay vì tổ chức Hội chợ cam, bưởi và các sản phẩm đặc trưng, huyện sẽ phối hợp, kết nối tổ chức các dịch vụ du lịch miệt vườn, tăng cường quảng bá sản phẩm.

    Gia đình ông Trần Đình Én, thôn Tân Trường, xã Thanh Hải, Lục Ngạn chăm sóc vườn bưởi sản xuất hữu cơ. Ảnh: Quang Huấn

    Những ngày này, gia đình ông Trần Đình Én và bà Vũ Thị Phượng, thôn Tân Trường, xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn đang tất bật với việc thu hoạch bưởi da xanh. Cùng đó tích cực chỉnh trang vườn tược, chăm sóc diện tích bưởi Ngọt để đón khách thăm quan, trải nghiệm trong thời gian tới đây.

    Với diện tích gần 2 ha, gia đình ông Én đã quy hoạch chuyển đổi một số giống bưởi khác nhau như: bưởi Ngọt, bưởi Da xanh, bưởi Cát Quế. Hiện tại vườn bưởi đang vào kỳ sung sức cho quả đạt chất lượng tốt nhất, năm nay dự kiến vườn bưởi này cho thu hoạch khoảng 20 tấn, tương đương với khoảng 5 vạn quả, với giá bán tính bình quân khoảng 20 nghìn đồng/quả tại vườn, thu nhập đạt 1 tỷ đồng/năm. Với khoảng 5 tấn bưởi da xanh, hiện nhà vườn đang bán với giá 30 nghìn đồng/1 kg, vụ này ước thu nhập khoảng 150 triệu đồng.

    Cũng tại vườn cây ăn quả này, vụ trước gia đình đã đón hơn 100 đoàn khách trong và ngoài tỉnh đến thăm quan, trải nghiệm, đồng thời bán được lượng lớn bưởi tại vườn phục vụ khách mua về làm quà.

    Anh Nguyễn Văn Hữu, thôn Xẻ Cũ, cùng xã Thanh Hải có khu vườn rộng gần 10 ha, được trồng các loại bưởi: Da xanh, bưởi ngọt, Đào đường, dự kiến năm nay cho khoảng 125 tấn quả. Từ trồng bưởi, mỗi năm gia đình thu từ 2 – 3 tỷ đồng. Trong quá trình chăm sóc cây trồng, anh Hữu luôn tuân thủ biện pháp hữu cơ. Chính vì vậy mà chất lượng, giá bán sản phẩm cây có múi của gia đình luôn cao hơn các nhà vườn chăm sóc theo phương pháp thông thường.

    Anh Nguyễn Văn Hữu cho biết: “Để góp phần ủng hộ chủ trương của huyện là phát triển vùng cây ăn quả gắn với du lịch sinh thái, trải nghiệm, tôi đã chủ động kết nối với một số nhà vườn lớn trong xã cũng như Hợp tác xã để xây dựng tuyến, nhằm phục vụ khách du lịch từ thăm quan, trải nghiệm đến ăn uống, nghỉ ngơi…”.

    Là thành viên Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Tâm Thịnh, xã Thanh Hải, gia đình ông Diệp Văn Báo, thôn Sẻ Mới trồng hơn 1 ha cây có múi, chủ yếu là cam lòng vàng. Với hơn 1 nghìn cây cam, vụ này ông Báo ước thu hoạch hơn 30 tấn quả.

    Năm trước nơi đây là điểm du khách và các thương nhân đến tham quan, mua sắm trước và trong dịp diễn ra hội chợ. Đồng thời đây còn là địa điểm dừng chân ăn nghỉ của khách du lịch sau một ngày thăm quan. Để chuẩn bị tốt các điều kiện đón khách, ngay từ giữa tháng 10 năm nay, gia đình ông Báo đã vệ sinh vườn, tỉa cành, trang trí tiểu cảnh để khách chụp ảnh. Đồng thời, ông Báo tiếp tục mở rộng khu nghỉ ngơi, bếp nấu ăn nhằm đáp ứng số lượng lớn khách thăm quan.

    Anh Nguyễn Văn Hữu (bìa phải), thôn Xẻ Cũ, xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn chuẩn bị điều kiện tốt nhất
    phục vụ khách thăm quan, trải nghiệm. Ảnh: Vũ Đoàn

    Ông Vũ Thế Trung, Hội đồng thành viên Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Tâm Thịnh, xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn cho biết: “Hợp tác xã có 15 thành viên với hơn 15 ha cây ăn quả. Phát huy kết quả của năm trước, năm nay ngay từ sớm, Hợp tác xã đã tuyên truyền thành viên chuẩn bị mọi điều kiện tốt nhất phục vụ khách du lịch thăm quan, trải nghiệm và mua sắm”.

    Huyện Lục Ngạn hiện có gần 7 nghìn ha cây có múi, gồm cam lòng vàng, cam ngọt; bưởi Da xanh, bưởi ngọt, bưởi Hoàng… Ước sản lượng năm nay đạt từ 60- 70 nghìn tấn, tăng khoảng 3 – 5 nghìn tấn so với năm trước. Thời điểm này các chủ vườn đang tập trung thu hoạch bưởi da xanh, đạt khoảng 30% diện tích, giá bán từ bưởi loại 1 từ 30 – 40 nghìn đồng/kg.

    Để sản phẩm tiêu thụ thuận lợi, tăng giá trị, UBND huyện Lục Ngạn đang khẩn trương chỉ đạo thực hiện kế hoạch “Du lịch trải nghiệm mùa cam, bưởi”. Trong đó tập trung giới thiệu sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt của huyện; gắn trải nghiệm thực tế tại vườn cây ăn quả với bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; hình thành tour, tuyến mới nhằm thu hút du khách.

    Trước mắt huyện chỉ đạo cơ quan chuyên môn khảo sát, lựa chọn một số địa điểm có cảnh quan, tập trung nhiều nhà vườn đẹp, cơ sở vật chất bảo đảm phục vụ khách du lịch để xây dựng điểm, tour du lịch. Trong đó, tập trung vào các xã có Hợp tác xã hoạt động kinh doanh du lịch. Lựa chọn các hộ gia đình có vườn cây đẹp, đi lại thuận tiện; chủ nhà thân thiện, nhiệt tình, có đủ điều kiện đón tiếp khách du lịch.

    Hỗ trợ các Hợp tác xã, hộ gia đình tham gia làm du lịch theo đúng Đề án phát triển du lịch sinh thái cộng đồng huyện Lục Ngạn giai đoạn 2021- 2025, định hướng đến năm 2030; Kế hoạch hỗ trợ Nhân dân tiêu thụ cam, bưởi và các sản phẩm đặc trưng huyện Lục Ngạn năm 2021 để mua sắm một số thiết bị, đồ dùng phục vụ đón tiếp khách đến tham quan./.

                                                                                                                                                                   Theo Bacgiang.gov.vn

  • Bắc Giang: Thu ngân sách nhà nước ước đạt hơn 14 nghìn tỷ đồng

    Năm 2021, công tác thu ngân sách nhà nước được tỉnh Bắc Giang triển khai đồng bộ, quyết liệt, vừa đảm bảo thu đúng, đủ, vừa kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp, người nộp thuế do ảnh hưởng của dịch bệnh, do đó thu ngân sách nhà nước của tỉnh đạt kết quả tích cực.

    Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3% so với năm 2020, vượt 14% dự toán. Ảnh minh họa: BGP/An Nhiên

    Tổng thu ngân sách nhà nước của tỉnh Bắc Giang ước đạt 14.105 tỷ đồng, trong đó, thu hoạt động xuất, nhập khẩu 1.600 tỷ đồng, bằng 139,1% dự toán, tăng 20%; thu nội địa 12.505 tỷ đồng, bằng 139,9% dự toán.

    Dù hoạt động của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn song các khoản thu quan trọng từ hoạt động sản xuất kinh doanh và thu tiền sử dụng đất vẫn đạt kết quả khá. Trong đó thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.100 tỷ đồng, tăng 3% so với năm 2020, vượt 14% dự toán; khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 1.236 tỷ đồng, tăng 7,7%, vượt 16,6%, thu tiền sử dụng đất đạt trên 7.000 tỷ đồng, tăng 9,9%, vượt 59,5% dự toán…

    Dự kiến 10/10 huyện, thành phố thu vượt dự toán, trong đó một số huyện vượt cao như: Tân Yên thu 595 tỷ đồng, vượt 136,1% dự toán; Lạng Giang thu 1.819,2 tỷ đồng vượt 211,4%; Hiệp Hòa thu 673,5 tỷ đồng, vượt 72,2%; Lục Ngạn thu 425,4 tỷ đồng, vượt 178,8%… Thành phố Bắc Giang tiếp tục là địa phương chiếm tỷ trọng cao nhất trong thu nội địa của tỉnh đạt 2.481 tỷ đồng, chiếm 22,7%, Lạng Giang đã vươn lên vị trí thứ 2 với tỷ trọng 14,5%, Việt Yên giảm xuống vị trí thứ 3 với 1.598,9 tỷ đồng, chiếm 12,8%; trong khi đó Sơn Động và Yên Thế là 2 địa phương chiếm tỷ trọng thấp nhất, lần lượt là 0,9% và 1,5%.

    Năm 2022, tỉnh Bắc Giang chủ động đánh giá, phân tích giám sát chặt chẽ các nguồn thu hiện tại; đồng thời, khai thác triệt để các nguồn thu mới và các nguồn thu còn thất thu; phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ, chỉ tiêu về tài chính, ngân sách nhà nước, nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước. Tăng cường hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người nộp thuế bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, bảo đảm nguồn thu ổn định./.

                                                                                                                                                                   Theo Bacgiang.gov.vn

  • Bắc Giang: Có 116 sản phẩm OCOP được đánh giá, phân hạng đạt từ 3 sao trở lên

    Tính đến tháng 11/2021, tỉnh Bắc Giang có 116 sản phẩm OCOP đạt 3 sao trở lên, 01 sản phẩm nâng hạng từ 3 sao lên 4 sao.

    Ảnh minh họa: BGP/Nguyễn Miền

    Trong đó, có 34 sản phẩm đạt 4 sao, chiếm 29,31%; 82 sản phẩm đạt 3 sao, chiếm 70,69 %, đứng thứ 3 khu vực miền núi phía Bắc sau 2 tỉnh Hà Giang, Bắc Cạn và đứng thứ 12 cả nước.

    Năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng rất lớn của dịch Covid-19 nhưng đến nay tỉnh đã có 61 sản phẩm được đánh giá, phân hạng đạt từ 3 sao trở lên. Số hợp tác xã tham gia đăng ký đánh giá, xếp hạng sản phẩm OCOP chiếm tỷ lệ cao, đạt 82,86 %. Qua đó, góp phần tạo sức lan tỏa trong cộng đồng và nâng cao vai trò của kinh tế tập thể, hợp tác xã trong thực hiện chương trình OCOP. 

    Các sản phẩm tham gia đánh giá đều là những sản phẩm đặc trưng, tiềm năng, thế mạnh của các địa phương trong tỉnh như: Mỳ gạo Cảnh Thụy (huyện Yên Dũng); Na dai Nghĩa Phương (huyện Lục Nam); Mỳ gạo Chũ (huyện Lục Ngạn); Mật ong Sơn Động; nấm Lạng Giang,…

    Sở Nông nghiệp và PTNT đang tiếp tục hướng dẫn, đôn đốc các địa phương tập trung triển khai thực hiện Chương trình OCOP, nhất là công tác rà soát, định hướng, tư vấn, hỗ trợ phát triển sản phẩm tham gia Chương trình OCOP; phấn đấu đạt mục tiêu năm 2022 có tối thiểu 30 sản phẩm đạt 3 sao trở lên, nâng hạng sao cho một số sản phẩm đã đăng ký và phấn đấu nâng hạng, phát triển ít nhất 01 sản phẩm đạt 5 sao cấp quốc gia.

    Cùng đó, đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tem truy xuất nguồn gốc và chuẩn hóa quy trình sản xuất; các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm OCOP. Tập trung phát triển sản phẩm OCOP gắn với du lịch nhằm thu hút du khách, đồng thời quảng bá hoạt động du lịch, tiêu thụ và nâng cao giá trị cho sản phẩm OCOP của tỉnh./.

                                                                                                                                                                     Theo Bacgiang.gov.vn

  • Kinh tế thế giới duy trì xu hướng phục hồi

    Trong 11 tháng đầu năm 2021, đà phục hồi của nền kinh tế thế giới đến từ hiệu quả của các biện pháp, chính sách tài khóa chưa từng có tiền lệ, cùng việc dần kiểm soát dịch bệnh nhờ triển khai tiêm vaccine phòng COVID-19.
    Ảnh minh họa

    Kinh tế thế giới vẫn duy trì xu hướng phục hồi trong tháng 11/2021, tuy nhiên một làn sóng COVID-19 mới đang hình thành trên quy mô toàn cầu, tuy tỉ lệ tử vong có chiều hướng giảm, nhưng số ca mắc vẫn không ngừng gia tăng.

    Tâm điểm của đợt bùng phát mới này là các nước ở vùng khí hậu ôn đới như Mỹ, các nước châu Âu, Hàn Quốc, Trung Quốc… Tính chung đến 18/11, toàn thế giới đã có 255,7 triệu ca nhiễm với 5,1 triệu ca tử vong vì COVID-19. Cùng lúc đó, tốc độ tiêm vaccine phòng COVID-19 tiếp tục được đẩy mạnh, mỗi ngày trên thế giới có 29,92 triệu liều vaccine được tiêm. Cho đến ngày 19/11/2021, đã có 53,14% dân số toàn cầu được tiêm ít nhất 1 mũi vaccine. Trong khi độ bao phủ vaccine trên dân số ở nhiều nước phát triển có chiều hướng chững lại, nhiều nước đang phát triển vẫn tăng, trở thành những nước có độ bao phủ cao nhất thế giới (như Chile, Trung Quốc, Campuchia, Uruguay…).

    Chỉ số PMI toàn cầu liên tục tăng trong các tháng đầu năm với sự dẫn dắt của các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU… khi các quốc gia này hoàn thành tiến độ tiêm chủng nhanh. Chỉ số PMI tăng dần trong những tháng gần đây cho thấy sự phục hồi đã dần quay trở lại (PMI đã đạt 54,5 vào tháng 10/2021).

    Trong 11 tháng đầu năm 2021, đà phục hồi của nền kinh tế thế giới đến từ hiệu quả của các biện pháp, chính sách tài khóa chưa từng có tiền lệ, cùng việc dần kiểm soát dịch bệnh nhờ triển khai tiêm vaccine phòng COVID-19.

    Mặc dù vậy, lạm phát đang có xu hướng tăng cao, giá hàng hóa đầu vào tăng, rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, thiếu hụt năng lượng đang trở thành những thách thức cho kinh tế thế giới. Các tổ chức quốc tế dự báo kinh tế thế giới tăng trưởng 5,7-5,9% năm 2021 và 4,5-5% năm 2022; giảm nhẹ 0,1-0,2 điểm % so với các dự báo trước đó. Lạm phát toàn cầu năm 2021 tăng khá mạnh, lên mức 3,2% trước khi hạ nhiệt vào năm 2022 (khoảng 3%) và 2,5% trong 3 năm sau đó.

    Diễn biến một số nền kinh tế chủ yếu

    Kinh tế Mỹ quý IV được dự báo sẽ tăng trưởng khoảng 5% so với quý trước (so với mức tăng tương ứng 2% tăng trưởng trong quý III), theo đó tốc độ tăng trưởng cả năm 2021 dự kiến đạt 5,5%. Kết quả này xác nhận những nỗ lực của Mỹ trong việc phục hồi kinh tế từ mức tăng trưởng kinh tế âm của năm 2020. Gói kích thích tài chính vẫn tiếp tục phát huy tác dụng. Tăng trưởng tiêu dùng hộ gia đình sau khi tăng mạnh 41,4% trong quý III, tiếp tục dự báo sẽ tăng 3,4% trong quý IV. Tỉ lệ thất nghiệp tiếp tục xu hướng giảm từ 8,8% của quý 3 còn dự kiến 6,8% trong quý IV.

    Chỉ số IIP của Mỹ trong tháng 10 đã tăng 5,1%, cao hơn so với mức tăng 4,6% của tháng 9. Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của Mỹ tiếp tục duy trì ở mức cao, tuy chưa phục hồi trở lại mức trước COVID-19 (trên 63%) nhưng đã đạt trên 61,6% trong tháng 10. Tuy nhiên, bên cạnh các dấu hiệu lạc quan của nền kinh tế, Chính phủ Mỹ đang phải cân nhắc về khoản nợ công khổng lồ cũng như tỉ lệ lạm phát tiếp tục đạt các mốc kỷ lục mới trong bối cảnh Chính phủ nước này tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa các chương trình kích thích tài khóa.

    Lạm phát của Mỹ tiếp tục cao kỷ lục trong tháng 10/2021 (tăng tới 6,2% so với cùng kỳ), tiếp tục giữ mặt bằng cao từ tháng 6 trở lại đây. Tổng nợ công trên GDP của Mỹ đến hết quý II/2021 đã vượt 125%, vượt khá xa mức bình quân dưới 105% giai đoạn 2015-2019.

    Kinh tế Trung Quốc tiếp tục xu hướng phục hồi ổn định. Chỉ số PMI tháng 10 đạt 51,5 điểm, tăng nhẹ so với tháng trước, cho thấy các hoạt động kinh tế đang tiếp tục được mở rộng. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu được hỗ trợ từ các yếu tố đến từ phía cầu (doanh số bán lẻ tháng 10 tăng 4,9%, xuất khẩu hàng hóa tăng 27,1% so với cùng kỳ). Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các chính sách siết chặt quản lý khu vực bất động sản, chính sách zero-COVID nghiêm ngặt trước xu hướng tăng các ổ dịch mới, nguy cơ thiếu hụt năng lượng… qua đó gây sức ép lên lạm phát và tiêu dùng, tiếp tục là những thách thức cho tăng trường kinh tế Trung Quốc thời gian tới. Nhiều tổ chức tài chính quốc tế tiếp tục hạ dự báo tăng trưởng quý IV/2021 và triển vọng tăng trưởng năm 2022 của Trung Quốc (Oxford Economics hạ dự báo quý IV/2021 còn 3,6%; Goldman Sachs, Nomura dự báo tăng trưởng 2022 ở mức dưới 5%).

    Kinh tế châu Âu mặc dù đang đối mặt với nhiều khó khăn như giá năng lượng tăng cao, tình trạng tắc nghẽn chuỗi cung ứng và làn sóng dịch bệnh mới, song kinh tế khu vực này vẫn được nhận định sẽ phục hồi mạnh mẽ. Ngày 11/11/2021, EU đã nâng dự báo tăng trưởng kinh tế của khối này trong năm 2021 từ mức 4,8% lên 5%. Tuy nhiên, sự phục hồi mạnh mẽ của khu vực châu Âu đã dẫn đến sự thiếu hụt về nguyên vật liệu và làm gia tăng giá hàng hóa. Tỉ lệ lạm phát của khu vực này được dự báo sẽ đạt đỉnh 2,6% vào năm 2021 trước khi giảm nhẹ vào năm 2022.

    Kinh tế Nhật Bản tiếp tục suy giảm, tăng trưởng GDP giảm 3% trong quý III – là lần thứ 5 trong 8 quý gần nhất Nhật Bản có tăng trưởng quý âm. Nguyên nhân đến từ việc sụt giảm xuất khẩu do đứt gãy chuỗi cung ứng và tiêu dùng trong nước suy giảm khi quốc gia này phải áp dụng tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh bùng phát. Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra các chính sách nhằm khôi phục kinh tế như gói kích thích tài khóa sẽ có quy mô trên 40.000 tỷ yen, các chính sách giảm thuế, nâng lương cho người lao động và khôi phục hỗ trợ di chuyển nội địa. Trong dự báo được điều chỉnh trong tháng 10, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã cắt giảm dự báo tăng trưởng năm 2021 của Nhật Bản xuống còn 2,4% từ mức 2,8%.

    Ở khu vực ASEAN, tình hình sản xuất tăng trưởng trở lại khi những biện pháp hạn chế do COVID-19 được nới lỏng. Chỉ số PMI khu vực ASEAN tăng từ 50 điểm trong tháng 9 lên 53,6 điểm trong tháng 10, cho thấy lần cải thiện đầu tiên của các điều kiện sản xuất ở ASEAN kể từ tháng 5. Nhiều quốc gia trong khu vực cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ trong sản xuất, Indonesia đứng đầu với PMI đạt 57,2 (tăng từ 52,2 điểm trong tháng 9), Singapore có PMI đạt 54,5 – là mức tăng vững chắc tháng thứ hai liên tiếp.

    Thương mại chậm lại

    Thương mại toàn cầu đang chậm lại trong bối cảnh gián đoạn sản xuất cùng với sự sụt giảm của nguồn cung và nhu cầu nhập khẩu. Theo WTO, chỉ số thương mại hàng hóa trong tháng 11 đã giảm xuống còn 99,5 điểm (gần mức điểm cơ sở 100) sau khi ghi nhận mức kỷ lục 110,4 trong tháng 8/2021. Nguyên nhân chính của sự sụt giảm là do các cú sốc nguồn cung, đặc biệt là tình trạng dồn ứ tại cảng do nhu cầu nhập khẩu tăng cao và gián đoạn sản xuất hàng hóa như ô tô và chất bán dẫn. Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây, nhu cầu đối với hàng hóa thương mại cũng đang có chiều hướng giảm, thể hiện qua mức sụt giảm số lượng đơn hàng.

    Tình trạng thiếu hụt năng lượng toàn cầu diễn ra trầm trọng từ tháng 8/2021 đã gây ra lạm phát giá trên thị trường năng lượng quốc tế, tạo ra phản ứng dây chuyền với những nhân tố bất ổn, khủng hoảng khó lường cho kinh tế thế giới vốn đang khó khăn do đại dịch. Giá khí đốt ở châu Âu liên tục phá kỷ lục, giá kỳ hạn tháng 11 trên Sàn giao dịch trung tâm TTF tại Hà Lan (một tiêu chuẩn cho khí đốt tự nhiên ở châu Âu) đã tăng 400% so với đầu năm 2021. Giá dầu thô tháng 11 giảm nhẹ xuống còn 79 USD/thùng so với mức trung bình 81 USD/thùng vào tháng 10. Giá dầu Brent tháng 11 dao động ở mức 81-82 USD/thùng so với mức dưới 85 USD/thùng trong tháng 10. Giá thép, giá quặng sắt giảm trong nhiều phiên giao dịch trong tháng 11 do lo ngại về triển vọng nhu cầu nguyên liệu không khả quan ở nước sản xuất thép hàng đầu thế giới là Trung Quốc. Cuộc khủng hoảng năng lượng được nhận định sẽ là mối quan tâm lớn trong thời gian tới. Trong khi đó, những quan ngại về lạm phát và khả năng các nước siết chặt chính sách tiền tệ sẽ là một trong số rất nhiều “cơn gió ngược” mà nền kinh tế toàn cầu phải đối mặt.

    Như vậy có thể thấy, kinh tế thế giới hiện tại vẫn còn phải đối mặt với diễn biến phức tạp của dịch bệnh cũng như những yếu tố bất ổn đến từ thị trường năng lượng, song đang trong xu hướng dần hồi phục trong tình trạng sống chung với dịch bệnh. Mặc dù tăng trưởng kinh tế còn khác nhau ở các khu vực, nhưng những đối tác thương mại và đầu tư lớn của Việt Nam hiện đang ở trạng thái phục hồi, có thể mang lại những cơ hội đối với thương mại và đầu tư cho Việt Nam. Tuy nhiên, diễn biến lạm phát và giá cả hiện đang là yếu tố đáng lo ngại. Giá dầu tăng tuy cũng có thể ảnh hưởng tích cực đến nguồn thu ngân sách từ dầu thô, nhưng có thể gây khó khăn cho đầu vào doanh nghiệp và đẩy giá nhiều mặt hàng thiết yếu khác. Điều này có thể tác động tiêu cực đến giá cả trong nước cần được sát sao theo dõi.

                                                                                                                                                                     Theo Chinhphu.vn

  • Triển khai đợt cao điểm chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022

    Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh – Trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (BCĐ 389) vừa ban hành Kế hoạch cao điểm chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022.

    Ảnh minh họa: BGP/Thảo My

    Theo đó, BCĐ 389 các Bộ, ngành và địa phương thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, BCĐ Quốc gia; chỉ đạo các lực lượng chức năng xây dựng kế hoạch đấu tranh, ngăn chặn các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022.

    Xác định đối tượng, tuyến, địa bàn, hàng hóa trọng điểm; tăng cường kiểm soát tại các khu vực cửa khẩu đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không và các đường mòn, lối mở, khu vực tập kết hàng hóa gần biên giới, các chợ đầu mối, các trung tâm thương mại, đại lý, cửa hàng tạp hóa…; phân công rõ trách nhiệm quản lý, kiểm soát địa bàn cho từng cơ quan chức năng thuộc địa phương và của trung ương đóng tại địa bàn; kiểm soát các hành vi lợi dụng sàn giao dịch thương mại điện tử, mua, bán online, mạng xã hội (Facebook, Zalo…) để kinh doanh hàng cấm, hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

    Xây dựng phương án tổ chức và tăng cường lực lượng, phương tiện và duy trì kiểm soát chặt chẽ trên các tuyến biên giới để ngăn chặn hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng nhập lậu vào nội địa. Trong đó cần tập trung vào các nhóm hàng hóa nhập khẩu có điều kiện, có thuế suất cao và các mặt hàng tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán như: Thực phẩm, rượu, bia, thuốc lá, bánh kẹo, hoa quả, pháo nổ, ngoại tệ, xăng dầu, gia súc, gia cầm, hàng điện tử, mỹ phẩm, thời trang cao cấp…, đặc biệt là các mặt hàng vật tư, trang thiết bị y tế phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

    Trưởng Ban Chỉ đạo yêu cầu BCĐ 389 các địa phương chỉ đạo các sở, ngành, lực lượng chức năng bảo đảm cung cấp đủ nguồn hàng hóa tiêu dùng đạt chất lượng cho nhân dân; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý hành vi sản xuất, buôn bán hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng giả, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ, hàng kém chất lượng và các hành vi vi phạm về niêm yết giá; chú ý đối với các mặt hàng lương thực, thực phẩm, các mặt hàng tiêu dùng nhiều trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 như: Thực phẩm, gia súc, gia cầm, rượu, bia, thuốc lá, bánh kẹo, hoa quả, hàng điện tử, mỹ phẩm, thời trang cao cấp… Đặc biệt, đối với các tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Gia Lai, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang… cần tăng cường tuần tra, kiểm soát, phối hợp giữa các lực lượng chức năng trên các tuyến biên giới; đối với các tỉnh, thành phố: Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ… chỉ đạo các lực lượng nắm chắc tình hình, tăng cường kiểm tra, không để phát sinh các kho, điểm trung chuyển hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng.

                                                                                                                                                            Theo Bacgiang.gov.vn

  • Đoàn công tác của Bộ Nội vụ khảo sát thành lập 02 thị trấn Phương Sơn và Bắc Lý

    Chiều ngày 03/12, Đoàn công tác của Bộ Nội vụ do Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Duy Thăng làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với UBND tỉnh Bắc Giang về việc khảo sát thành lập thị trấn Phương Sơn, huyện Lục Nam và thị trấn Bắc Lý, huyện Hiệp Hòa.

    Tiếp và làm việc với đoàn có đồng chí Lê Ánh Dương – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo các Sở: Nội vụ, Tư pháp, Xây dựng và lãnh đạo 02 huyện Hiệp Hòa, Lục Nam.

    Quang cảnh buổi làm việc. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Theo Đề án, thị trấn Phương Sơn, huyện Lục Nam được thành lập trên cơ sở nguyên trạng 8,45 km2 diện tích tự nhiên, 8.125 người và 10 thôn của xã Phương Sơn. Sau thành lập thị trấn Phương Sơn sẽ trở thành đô thị dịch vụ thương mại – vận tải và dịch vụ phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phía Tây Nam của huyện. 

    Thị trấn Bắc Lý, huyện Hiệp Hòa được thành lập trên cơ sở nguyên trạng 12,9 km2 diện tích tự nhiên, 14.971 người và 11 thôn của xã Bắc Lý. Việc thành lập thị trấn đáp ứng mục tiêu phát triển KT-XH của địa phương và được định hướng trở thành đô thị dịch vụ tổng hợp cho tiểu vùng phía Nam huyện. 

    Đồng chí Vũ Mạnh Hùng – Giám đốc Sở Nội vụ trình bày các Đề án. Ảnh: BGP/Dương Thủy.

    Trong những năm qua, thực hiện quy hoạch chung đô thị, UBND tỉnh và các huyện Lục Nam, Hiệp Hòa đã tập trung nguồn lực đầu tư, phát triển hệ thống hạ tầng đô thị trên địa bàn xã Phương Sơn và Bắc Lý. Diện mạo đô thị khang trang hơn, đời sống kinh tế và tinh thần của Nhân dân ngày càng cải thiện. Qua đối chiếu quy định tại Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các xã Bắc Lý và Phương Sơn đạt 4/4 tiêu chuẩn thành lập thị trấn thuộc huyện.

    Qua khảo sát thực tế và trao đổi tại buổi làm việc, các thành viên trong Đoàn đánh giá cao vai trò, ý nghĩa của việc thành lập mới hai đơn vị hành chính đô thị tại huyện Lục Nam và Hiệp Hòa. Qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH trong những năm tới và phù hợp với quy hoạch tổng thể của địa phương và của tỉnh. Đồng thời lưu ý đơn vị chủ trì xây dựng Đề án cần rà soát lại bố cục, số liệu minh họa và tài liệu đính kèm, bảo đảm tính chính xác, đầy đủ và kịp thời. Trong nội dung Đề án cần quan tâm đến vấn đề môi trường, xử lý nước thải, hệ thống nhà cửa, cây xanh để phù hợp với sự phát triển của thị trấn trong tương lai. 

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh: BGP/Dương Thủy.

    Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương cảm ơn và tiếp thu những ý kiến đóng góp của các thành viên trong Đoàn công tác. Đồng chí đề nghị các huyện Lục Nam, Hiệp Hòa chỉnh sửa lại Đề án theo góp ý của các thành viên trong Đoàn khảo sát. Đặc biệt chú ý cách thể hiện nội dung Đề án và phim minh họa sao cho nổi bật được ý nghĩa cũng như thế mạnh, sự cần thiết khi thành lập thị trấn Phương Sơn, thị trấn Bắc Lý đối với sự phát triển KT-XH địa phương. Cùng với đó, đồng chí giao Sở Nội vụ, Sở Xây dựng phối hợp hướng dẫn huyện Hiệp Hòa và Lục Nam hoàn thiện Đề án, bảo đảm thời gian theo kế hoạch. 

    Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Duy Thăng phát biểu kết luận tại buổi làm việc. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Phát biểu kết luận buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Duy Thăng đánh giá cao sự phát triển của tỉnh Bắc Giang trong những năm gần đây. Đồng chí đồng tình với việc thành lập các thị trấn mới, phù hợp với sự phát triển của tỉnh. Đồng thời đề nghị nội dung trong Đề án cần nêu bật hơn nữa sự cần thiết của việc thành lập thị trấn; bổ sung, thay đổi các số liệu, bố cục một cách chính xác, phù hợp, bảo đảm theo đúng quy định. Tỉnh cần sớm hoàn chỉnh lại các Đề án, sau đó Bộ Nội vụ sẽ tiến hành thẩm định liên bộ trước khi trình lên Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Trước đó, Đoàn công tác đã khảo sát thực tế khu vực thành lập thị trấn tại xã Phương Sơn, huyện Lục Nam và xã Bắc Lý, huyện Hiệp Hòa./.

  • Bắc Giang: Bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường dịp cuối năm và Tết Nguyên đán

    Sở Công Thương Bắc Giang vừa ban hành Kế hoạch thực hiện các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2021 và dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 trên địa bàn tỉnh.

     Bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường dịp cuối năm và Tết Nguyên đán. Ảnh: BGP/Thảo My

    Theo đó, Sở Công Thương đề nghị Sở Nông nghiệp và PTNT nắm bắt tình hình sản xuất, thông tin kịp thời diễn biến tình hình sản xuất các mặt hàng nông, lâm, thủy sản khi có biến động xảy ra làm giảm nguồn cung thị trường; khuyến cáo người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm thay thế khi mặt hàng có nguy cơ biến động mạnh về nguồn cung. Theo dõi hoạt động chăn nuôi gia súc, dự kiến cung cầu tiêu thụ thịt trên địa bàn tỉnh để chỉ đạo sản xuất, chăn nuôi, đảm bảo cung ứng cho thị trường trong các tháng cao điểm từ tháng 12/2021 đến hết tháng 02/2022, tránh tình trạng biến động đột biến khi nguồn cung gián đoạn.

    Cục Quản lý thị trường tỉnh tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn bán hàng cấm, nhập lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, kém chất lượng, vi phạm sở hữu trí tuệ và các hành vi gian lận thương mại khác; tăng cường kiểm tra việc niêm yết và bán theo giá niêm yết, quy định về an toàn thực phẩm, hành vi đầu cơ, găm hàng, độc quyền, lợi dụng nhu cầu tăng cao để nâng giá, trục lợi bất chính. Phối hợp với cơ quan liên quan tổ chức kiểm tra thực hiện quy định pháp luật trong sản xuất, kinh doanh; chấn chỉnh và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các trường hợp vi phạm.

    Công ty Điện lực Bắc Giang xây dựng kế hoạch và đảm bảo cấp điện an toàn, liên tục những tháng cuối năm 2021 và trước, trong, sau những ngày Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cung ứng điện, củng cố lưới điện cao thế, hạ thế; tuyên truyền tới người dân không bắn pháo hoa lên đường dây gây sự cố mất điện. Ứng trực thường xuyên, sẵn sàng xử lý nhanh sự cố mất điện, đảm bảo đủ điện liên tục; tăng cường tuyên truyền, khuyến cáo trong việc sử dụng điện an toàn, tiết kiệm.

    Sở Công Thương đề nghị UBND các huyện, thành phố chỉ đạo việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện các giải pháp đảm bảo về cung cầu, ổn định giá cả, lưu thông vận chuyển hàng hóa, an toàn thực phẩm, an ninh trật tự vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ. Theo dõi sát diễn biến cung – cầu, giá cả; tăng cường kiểm tra, kiểm soát các quy định về giá, niêm yết và bán theo giá niêm yết, xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng để đầu cơ, ép giá, găm hàng, đưa tin thất thiệt nhằm đầy giá bán lên cao; đánh giá kỹ các yếu tố tác động ảnh hưởng đến mặt bằng giá cả. Qua đó, kịp thời triển khai các giải pháp điều tiết lưu thông, bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân.

    Chỉ đạo, hướng dẫn các doanh nghiệp/HTX, Ban quản lý, tổ quản lý chợ, siêu thị triển khai tốt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19 nhằm đảm bảo cung ứng, trao đổi hàng hóa. Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh; tích cực khai thác, dự trữ hàng hóa bình ổn thị trường Tết Nguyên đán; đẩy mạnh tham gia các hoạt động kết nối cung – cầu, hợp tác thương mại vùng miền. Chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn bố trí địa điểm tổ chức các chợ hoa, các điểm bán hàng lưu động trong dịp Tết; tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động mua, bán của nhân dân, nhưng phải bảo đảm công tác phòng, chống dịch Covid-19, an toàn giao thông, an ninh trật tự và vệ sinh môi trường. Chỉ đạo các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường; an toàn thực phẩm, phòng chống cháy nổ, an ninh trật tự, vận chuyển hàng hóa tại các chợ, cửa hàng kinh doanh xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng trên địa bàn trong dịp Tết, xử lý các thông tin thất thiệt gây bất ổn thị trường và tâm lý hoang mang cho người tiêu dùng.

    Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thương mại tuân thủ nghiêm các quy định về phòng chống, biện pháp thích ứng an toàn với dịch bệnh; chủ động có kế hoạch sản xuất, cung ứng hàng hóa phục vụ Tết; dự trữ vật tư, nguyên, nhiên vật liệu nhằm duy trì sản xuất ổn định. Phân tích đánh giá, dự báo nhu cầu và năng lực sản xuất kinh doanh để chủ động xây dựng kế hoạch và phương án sản xuất, kinh doanh. Bám sát tình hình dịch Covid-19 để cập nhật, hoàn thiện và triển khai nhanh chóng, hiệu quả các phương án đảm bảo nguồn cung hàng hóa thiết yếu. Tích cực tham gia các chương trình kết nối cung cầu, hỗ trợ tiêu thụ các mặt hàng nông sản của tỉnh. Khuyến khích đa dạng hình thức kinh doanh, mở rộng mạng lưới, tổ chức các điểm bán hàng tự chọn và lưu động theo phương thức phù hợp, thích ứng an toàn với dịch Covid-19. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, kích cầu tiêu dùng, tăng cường thương mại điện tử. Bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm, mẫu mã. Không sản xuất, kinh doanh những mặt hàng Nhà nước cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ…

    Các doanh nghiệp/HTX, Ban quản lý chợ, siêu thị trên địa bàn tỉnh tuyên truyền, hướng dẫn các hộ kinh doanh trong chợ sắp xếp hàng hóa ngăn nắp, gọn gàng, tránh lấn chiếm lối đi chung, hạn chế sử dụng túi ni lông; đảm bảo an ninh trật tự, an toàn phòng chống cháy nổ; bán hàng văn minh, lịch sự, thực hiện quy định về chất lượng hàng hóa và an toàn vệ sinh thực phẩm, ghi nhãn hàng hóa, niêm yết và bán đúng giá niêm yết cũng như các quy định khác về hoạt động thương mại dịch vụ. Tiếp tục tuyên truyền và tổ chức triển khai tốt Phương án phòng, chống dịch Covid -19 để bảo đảm an toàn cho người dân đến tham quan, mua sắm.

                                                                                                                                                    Theo Bacgiang.gov.vn

  • Kinh tế khởi sắc rất rõ, niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào khả năng phục hồi, phát triển kinh tế tăng cao

     

    Các ý kiến tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11/2021 thống nhất đánh giá, tình hình kinh tế – xã hội tháng 11 tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, kinh tế khởi sắc rất rõ, niềm tin của người dân, doanh nghiệp và các bạn bè, đối tác quốc tế tăng lên cao.

    Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu kiên trì thực hiện chủ trương thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19. – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

    Cùng chủ trì phiên họp có Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam. Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân và đồng chí Đinh Văn Ân, Trợ lý Tổng Bí thư, dự phiên họp. 

    Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các ý kiến tại phiên họp nhận định, trong tháng 11, các bộ, cơ quan, địa phương đã quán triệt nghiêm, thực hiện quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết 128/NQ-CP quy định tạm thời về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh.

    Hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục phục hồi trong trạng thái bình thường mới. Sản xuất nông nghiệp cơ bản ổn định, năng suất, sản lượng tăng khá. Sản xuất công nghiệp phục hồi tại hầu hết các địa phương, nhất là khu vực phía Nam. Thương mại, dịch vụ phục hồi nhanh sau khi mở cửa trở lại. Tình hình doanh nghiệp đạt nhiều kết quả tích cực. Số doanh nghiệp thành lập mới tăng 44,6% so với tháng trước, vốn đăng ký tăng 38%, lao động tăng 30,2%, đặc biệt là tại các địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 15,2% so với tháng trước.

    Cùng với đó, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát ở mức thấp; các cân đối lớn được bảo đảm. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, tăng cường. An ninh, trật tự, an toàn, an dân, quốc phòng được giữ vững; hoạt động đối ngoại được đẩy mạnh.

    Các kết quả này tiếp tục khẳng định ý nghĩa quan trọng, sự đúng hướng, kịp thời, hiệu quả của việc ban hành Nghị quyết 128/NQ-CP; cho thấy niềm tin của doanh nghiệp vào khả năng phục hồi, phát triển kinh tế.

    Bên cạnh đó, các ý kiến cũng nhận định, nước ta vẫn đối mặt với khó khăn, thách thức lớn, chủ yếu do dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, xuất hiện các biến thế mới trên thế giới; kinh thế thế giới phục hồi nhưng thiếu ổn định, tiềm ẩn nhiều rủi ro, thách thức về ổn định tài chính, thiếu hụt nguồn cung năng lượng; năng lực hệ thống y tế cơ sở, y tế dự phòng, sản xuất thuốc, trang thiết bị, vật tư y tế trong nước chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu phòng, chống dịch bệnh khi có tình huống bất ngờ phức tạp phát sinh…

    Thực tế nói trên yêu cầu các cấp, các ngành phải bám sát diễn biến dịch bệnh, chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực, có phương án chủ động ứng phó với mọi tình huống xảy ra, không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác; đồng thời, kiên định, quyết tâm, quán triệt nghiêm quan điểm “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất có thể trong năm 2021, tạo nền tảng, động lực phục hồi và phát triển vững chắc từ năm 2022.

    Về dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về Kế hoạch năm 2022, các đại biểu đã cho ý kiến về các giải pháp tập trung thực hiện linh hoạt, hiệu quả mục tiêu vừa phòng, chống dịch COVID-19, vừa phục hồi, phát triển kinh tế xã hội; xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số; phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo…

    Các đại biểu lưu ý và nhấn mạnh một số nhiệm vụ trong tháng 12/2021 và năm 2022 liên quan tới kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh lạm phát nhiều nước trên thế giới tăng cao; triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn, giải ngân vốn đầu tư công; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và hoàn thiện thể chế; xử lý một số điểm nghẽn, tồn đọng kéo dài nhiều năm; việc triển khai các nhiệm vụ, giải pháp được xác định tại Hội nghị văn hóa toàn quốc vừa qua…

    Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân nhận định, dư luận quốc tế và nhân dân nhìn chung đều nhìn nhận, đánh giá cao sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt, hiệu quả, trách nhiệm cao của Chính phủ trong thời gian qua. Trong đó, Phó Chủ tịch nước nêu một số điểm nhấn trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ như việc kiểm soát, phòng chống dịch ngày càng đi vào bài bản, nền nếp, đạt kết quả tốt hơn trước dù còn nhiều việc cần tiếp tục lưu ý, hoàn thiện. Chính phủ cũng đã kiến nghị cấp có thẩm quyền và triển khai cơ bản kịp thời, hiệu quả các chính sách hỗ trợ các đối tượng, người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng, tác động bởi dịch. Cùng với đó, Chính phủ cũng tập trung triển khai một số chủ trương, chính sách, chiến lược lớn của cả nhiệm kỳ.

    Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân phát biểu tại phiên họp – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

    Hoàn thành các nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất, xử lý một số vấn đề tồn đọng kéo dài

    Kết luận phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính ghi nhận, đánh giá cao các phát biểu trách nhiệm, tâm huyết, giao Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp thu các ý kiến xác đáng, sát tình hình để bổ sung vào các báo cáo và dự thảo của phiên họp.

    Thủ tướng nêu rõ, trong tháng 11 vừa qua, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, chúng ta còn triển khai nhiều nhiệm vụ đột xuất. Chính phủ tiếp tục dành thời gian, tập trung cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, ban hành 9 nghị định và 3 quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Chính phủ tham gia, phục vụ tích cực, hiệu quả, góp phần vào thành công của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XV, trình 55 đề án, báo cáo, các thành viên Chính phủ trả lời chất vấn và giải trình về các vấn đề đại biểu Quốc hội và cử tri quan tâm. Chính phủ, các cơ quan chức năng tiếp tục chuẩn bị cho kỳ họp sắp tới của Quốc hội; tích cực xây dựng, hoàn thiện dự thảo đề án về Chiến lược tổng thể phòng, chống dịch COVID-19 và dự thảo đề án về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Chính phủ và các cơ quan cũng góp phần chuẩn bị, tổ chức thành công Hội nghị văn hóa toàn quốc và đang tích cực triển khai cho các hội nghị lớn sắp tới để triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Cũng trong tháng qua, các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước diễn ra rất sôi động theo đúng đường lối đối ngoại của Đại hội XIII. 

    Đánh giá tổng thể về kết quả đạt được, Thủ tướng nêu rõ: Tình hình dịch bệnh vẫn được kiểm soát trên phạm vi toàn quốc, tác động tích cực tới phục hồi và phát triển kinh tế xã hội. Các số liệu được báo cáo, phân tích tại phiên họp đã chứng minh rất rõ điều này. 

    Thủ tướng nhấn mạnh thêm một số kết quả đạt được, như kinh tế vĩ mô ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, thu đủ chi, xuất đủ nhập, xuất nhập khẩu đạt gần 600 tỷ USD, xuất siêu trở lại, các nhu cầu về năng lượng, lương thực, thực phẩm được đáp ứng đầy đủ, thị trường lao động từng bước phục hồi rất nhanh. Cùng với đó, một số vấn đề tồn đọng kéo dài nhiều năm đã được giải quyết dứt điểm như đưa dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông đi vào hoạt động, báo cáo cấp có thẩm quyền phương án xử lý nhiều dự án thua lỗ, tổ chức tín dụng yếu kém…

    Việc giải ngân cho an sinh xã hội theo Nghị quyết 68 của Chính phủ đạt 29 nghìn tỷ đồng, vượt kế hoạch đề ra trước đó (26 nghìn tỷ đồng), đây là cố gắng lớn của cả hệ thống chính trị. Lĩnh vực văn hóa tiếp tục quan tâm theo tinh thần văn hóa soi đường cho quốc dân đi, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước, văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. An ninh quốc phòng được giữ vững, đối ngoại được tăng cường và mở rộng. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được triển khai tích cực. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, không buông lỏng; các vấn đề tồn đọng được xử lý quyết liệt.

    Bên cạnh đó, các ý kiến tại phiên họp cũng thẳng thắn chỉ ra còn không ít hạn chế, bất cập. Dịch bệnh diễn biến còn phức tạp và dự báo có thể tiếp tục phức tạp với các biến chủng mới, số ca nhiễm mới và tử vong đang có xu hướng tăng; Thủ tướng yêu cầu cần tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá kỹ lưỡng hơn vấn đề này, phải hết sức bình tĩnh, không lơ là, chủ quan cũng không lo sợ, hốt hoảng trong phòng chống dịch, triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp, công thức, phương châm phòng chống dịch đã được đúc rút, tổng kết. Kinh tế – xã hội còn tiềm ẩn một số vấn đề về nợ xấu, lạm phát, an ninh kinh tế, đầu tư công, rủi ro của thị trường bất động sản, chứng khoán. An sinh xã hội còn một số  vấn đề cần tiếp tục khắc phục. Công tác quy hoạch, giải ngân đầu tư công còn chậm. An ninh, quốc phòng còn nhiều thách thức.

    Thủ tướng nêu rõ, đạt được những kết quả nói trên là nhờ sự lãnh đạo của  Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng chí Tổng Bí thư, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước; các cấp, các ngành nghiêm túc thực hiện, cụ thể hóa sự lãnh đạo, đường lối, chủ trương của Đảng; sự nỗ lực, cố gắng của cả hệ thống chính trị và người dân, doanh nghiệp. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế là có nơi, có lúc còn tư tưởng chủ quan, lơ là, nhất là với dịch bệnh, một số địa phương buông lỏng, chủ quan khi dịch được kiểm soát và sau khi tổ chức tiêm vaccine; sự thiếu quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành ở một số nơi, việc tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu.
     

    Các ý kiến tại cuộc họp thống nhất đánh giá, hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục phục hồi trong trạng thái bình thường mới, khẳng định ý nghĩa quan trọng, sự đúng hướng, kịp thời, hiệu quả của việc ban hành Nghị quyết 128/NQ-CP – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

    Kiên trì thực hiện chủ trương thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19

    Về định hướng thời gian tới, Thủ tướng nhấn mạnh một số nhiệm vụ. Trước hết, phải nắm chắc, bám sát thực tiễn, dự báo tốt tình hình, nhất là diễn biến dịch bệnh; kiên trì thực hiện chủ trương thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19.

    Thủ tướng đặc biệt lưu ý nhiệm vụ tiêm vaccine, vaccine là giải pháp căn cơ, quyết định để kiểm soát dịch. Do đó, phải có kế hoạch rất cụ thể, chi tiết để bảo đảm tới giữa tháng 12, cơ bản tiêm đủ 2 mũi cho toàn bộ dân số từ 18 tuổi trở lên; tiếp tục tiêm cho người từ 12 tuổi; xây dựng kế hoạch phù hợp và triển khai tiêm mũi thứ 3; rà soát lại việc bảo quản, tổ chức tiêm vaccine, tiến hành thanh tra, kiểm tra, phòng ngừa, khắc phục các bất cập, sự cố xảy ra và làm tốt công tác truyền thông, không để xảy ra khủng hoảng truyền thông. Tiếp tục thúc đẩy việc sản xuất vaccine trong nước và nhập khẩu vaccine, tổ chức tiêm an toàn, khoa học, hợp lý, hiệu quả… Tuyên truyền thật tốt về phòng chống dịch, tiếp tục đề cao ý thức người dân, người dân là mục tiêu, là động lực, là trung tâm, là chủ thể trong phòng chống dịch.

    Cùng với đó, tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; khẩn trương triển khai công tác kiểm tra, đôn đốc của 06 Tổ công tác được thành lập theo Quyết định số 1962 ngày 22/11 của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp tục đẩy mạnh việc hoàn thiện thể chế, tích cực phối hợp với các cơ quan của Quốc hội để chuẩn bị các văn bản, đề án, nội dung trình Quốc hội tại kỳ họp sắp tới, bảo đảm chất lượng.

    Cùng với việc tiêm vaccine cho trẻ em, cần có kế hoạch cụ thể, chuẩn bị kỹ các điều kiện cho việc mở cửa trường học trở lại, bảo đảm an toàn, đáp ứng yêu cầu của công tác phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới.

    Thủ tướng yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo cho người yếu thế, người nghèo, chuẩn bị cho nhân dân đón Tết ấm áp, vui tươi, lành mạnh, an toàn.

    Thể chế hóa các nhiệm vụ, giải pháp được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề ra tại Hội nghị toàn quốc về văn hóa để xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

    Đẩy mạnh thông tin truyền thông, đấu tranh, phản bác thông tin xuyên tạc, kích động, sai sự thật, xử lý nghiêm các vi phạm. Xây dựng Chương trình đối ngoại năm 2022 của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, tổ chức tốt các hoạt động đối ngoại. Khẩn trương hoàn thiện dự thảo đề án về Chiến lược tổng thể phòng, chống dịch COVID-19 và dự thảo đề án về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội để trình cấp có thẩm quyền.

    Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm Công điện số 1659/CĐ-TTg ngày 30/11/2021 về việc tập trung ứng phó và khắc phục hậu quả mưa lũ.

    Cũng tại phiên họp, Chính phủ cơ bản thống nhất những nội dung chủ yếu của dự thảo Nghị quyết về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022.

    Thủ tướng nhấn mạnh thêm một số nội dung, như bổ sung quan điểm hài hòa giữa kinh tế, văn hóa, môi trường, phát triển hợp lý, cân bằng giữa công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ phù hợp với tình hình, bối cảnh mới. Bám sát Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, kết luận của Hội nghị Trung ương 4, các Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 để hoàn thiện kế hoạch, tìm ra động lực phát triển mới.

    Thủ tướng lưu ý một số nội dung như ưu tiên hoàn thiện thể chế, tập trung cho các lĩnh vực biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, ba khâu đột phá chiến lược; giữ vững môi trường hòa bình và ổn định chính trị để thu hút đầu tư;đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; hoàn thiện các quy định mới về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quang ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực…

                                                                                                                                                         Theo Chinhphu.vn

  • Bắc Giang phê duyệt Đề án phát triển vật liệu xây dựng thời kỳ 2021-2030, định hướng đến năm 2050

    UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định 1346/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án phát triển vật liệu xây dựng (VLXD) tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021-2030, định hướng đến năm 2050.

    Ảnh minh họa: BGP/Nguyễn Miền

    Mục tiêu của Đề án nhằm phát triển ngành công nghiệp sản xuất VLXD tỉnh Bắc Giang đạt trình độ tiên tiến, hiện đại, khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; tạo ra các sản phẩm chất lượng cao về kỹ thuật, mỹ thuật, tiêu hao nguyên liệu và năng lượng thấp, sử dụng phế thải công nghiệp, bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên.

    Đa dạng các sản phẩm VLXD có chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong tỉnh và khu vực. Áp công nghệ xử lý khí thải, bụi, chất thải rắn vào các cơ sở sản xuất VLXD có phát thải, từng bước chuyển đổi hoặc loại bỏ các cơ sở sản xuất có công nghệ lạc hậu, tiêu tốn nhiều tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường. Qua đó, xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, có tính cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế. Hạn chế xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều nguyên liệu, nhiên liệu là tài nguyên khoáng sản không tái tạo.

    Phấn đấu đến năm 2030, sử dụng tối thiểu 30% tro bay nhiệt điện hoặc chất thải công nghiệp khác làm nguyên liệu thay thế trong sản xuất clanhke và làm phụ gia trong sản xuất xi măng. Khuyến khích đầu tư cơ sở sản xuất cát nhân tạo, cát nghiền từ nguồn nguyên liệu tận dụng đá, sỏi lòng sông và phế thải công nghiệp.

    Giai đoạn 2031-2050, phấn đấu 100% các doanh nghiệp sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh áp dụng các hệ thống quản lý sức khỏe, an toàn nghề nghiệp và năng lượng. Sử dụng trên 30% nguyên, nhiên liệu thay thế bằng việc sử dụng tro bay, xỉ nhiệt điện, chất thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt và phế phẩm nông nghiệp. Đầu tư chiều sâu về công nghệ sản xuất, áp dụng triệt để công nghệ thông tin vào công tác quản lý, sản xuất và kinh doanh. Sử dụng nhiên liệu sạch trong sản xuất gạch ốp lát, không còn sử dụng khí than làm nhiên liệu đốt.

    Để đạt được mục tiêu của Đề án, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đầu tư, xây dựng, khoáng sản, đất đai và môi trường đến các cấp, các ngành, người dân và các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn nhằm nâng cao trách nhiệm quản lý của các cấp, các ngành và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vật liệu xây dựng.

    Tiếp tục nâng cao năng lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên khoáng sản của các cơ quan quản lý các cấp; ngăn chặn các hoạt động khai thác, kinh doanh, vận chuyển khoáng sản trái phép; bảo vệ nguồn khoáng sản, bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, đảm bảo an toàn đê điều và đảm bảo an ninh trật tự; khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên làm VLXD hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả, đóng góp vào thu ngân sách.

    Đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa, tự động hóa; sử dụng công nghệ sản xuất sạch, giảm tiêu hao nhiên liệu, năng lượng, tiếng ồn, phát thải bụi, phát thải khí nhà kính trong sản xuất; tận dụng tối đa nhiệt khí thải để sấy, để phát điện, để tăng cường hiệu quả đốt cháy nhiên liệu…

    Xây dựng hệ thống xử lý chất thải, hệ thống quan trắc tự động nước thải, khí thải, bụi xung quanh diện phát thải và kết nối trực tuyến với cơ quan quản lý môi trường tại địa phương theo quy định. Tăng cường trách nhiệm của nhà đầu tư khai thác khoáng sản, sản xuất VLXD đối với nghĩa vụ đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, có trách nhiệm trong việc cải thiện đời sống, tạo công ăn việc cho lao động ở địa phương, tích cực tham gia cải thiện môi trường xã hội.

    UBND tỉnh giao Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các ngành, UBND các huyện, thành phố giám sát, đánh giá tình hình thực hiện Đề án; tham mưu đề xuất sửa đổi, bổ sung Đề án trong trường hợp cần thiết. Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư trong quá trình thẩm định trình UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình sản xuất VLXD thuộc đối tượng phải chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật.

                                                                                                                                                      Theo Bacgiang.gov.vn

  • Bắc Giang: Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng

    Bắc Giang: Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng

    Bắc Giang: Phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc sản có lợi thế

    Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp ở Bắc Giang luôn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế và tiếp tục phát triển toàn diện theo hướng tăng năng suất, nâng cao chất lượng, hiệu quả. Trong phát triển nông nghiệp, đã phát huy điều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng, khí hậu, gắn với đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, trình độ thâm canh trong sản xuất, từng bước gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nâng cao giá trị nông sản hàng hóa của tỉnh.

    Mỳ Chũ Lục Ngạn (Ảnh minh họa)

     

    Theo ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Giang, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm tại Bắc Giang khoảng 170.000 ha, giá trị sản xuất trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp đạt 92 triệu đồng/năm; Công tác dồn điền đổi thửa xây dựng cánh đồng mẫu được quan tâm thực hiện, đến nay, toàn tỉnh có trên 200 cánh đồng, hình thành một số vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn.

    Một số sản phẩm hàng hóa đã tạo dựng được thương hiệu và đem lại hiệu quả kinh tế cao như vải thiều, cam Đường Canh, bưởi Diễn uyện Lục Ngạn; vải sớm, lạc giống, rau an toàn, rau chế biến huyện Tân Yên; lúa thơm Yên Dũng; nấm ăn, rau chế biến huyện Lạng Giang; rau Cần huyện Hiệp Hoà; gà đồi, chè huyện Yên Thế; hoa ly, cây cảnh ở thành phố Bắc Giang; na ở huyện Lục Nam… Vùng trồng cây vải có diện tính khoảng 29.000 ha, sản lượng đạt trên 91.000 tấn, doanh thu từ vải thiều và các hoạt động phụ trợ đạt trên 5.000 tỷ đồng; diện tích cây cam, bưởi 7.500 ha, sản lượng đạt 40.000 tấn; diện tích rau các loại trên 23.700 ha, sản lượng khoảng 415.000 tấn;

    Chăn nuôi tiếp tục phát triển, tỷ trọng chăn nuôi bán công nghiệp, công nghiệp gắn với áp dụng quy trình an toàn sinh học, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng tăng. Quy mô tổng đàn lợn, đàn gà tiếp tục nằm trong nhóm các tỉnh dẫn đầu cả nước, mô hình gà đồi Yên Thế được phát triển, nhân rộng đến các huyện miền núi trong tỉnh, duy trì tổng đàn gà tại thời điểm khoảng 17 triệu con, đàn lợn khoảng gần 1,2 triệu con.

    Sản xuất lâm nghiệp đẩy mạnh việc giao rừng, cho thuê rừng, tạo điều kiện áp dụng các kỹ thuật thâm canh tiên tiến gắn với sử dụng giống có chất lượng trong trồng rừng kinh tế, cơ bản đã phủ xanh đồi núi trọc, tỷ lệ che phủ rừng đạt 37,5%. Công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường; kinh tế rừng phát triển mạnh, nhiều hộ đồng bào miền núi đã giàu lên từ nghề trồng rừng, giá trị sản xuất tăng bình quân 15%/năm.

    Sản xuất thủy sản tiếp tục phát triển ổn định, giá trị sản xuất (giá hiện hành) của ngành có xu hướng tăng; diện tích nuôi trồng hơn 12.000 ha, sản lượng khai thác trên 41.000 tấn.

    Hiện Bắc Giang có 3 nhóm sản phẩm chính là: Sản phẩm chủ lực (8 sản phẩm): lợn, lúa, vải thiều, gà, cá, rau các loại, cam, lạc; Sản phẩm đặc trưng (14 sản phẩm): mỳ gạo, gạo thơm Yên Dũng, rượu làng Vân, bưởi, rau cần Hoàng Lương, mật ong, nếp cái hoa vàng Thái Sơn, na Lục Nam, rượu Kiên Thành, bún Đa Mai, mây tre đan Tăng Tiến, bánh đa kế, chè Yên Thế, nấm Lạng Giang; Sản phẩm tiềm năng (30 sản phẩm): Khoai tây, ngô, nhãn, sắn, khoai lang, dưa hấu, táo, chuối, gạo bao thai Lục Ngạn, chanh, nếp Phì Điền, mộc dân dụng Bãi Ổi, rau an toàn Đa Mai, bánh đa nem mỳ Thổ Hà, tương Trí Yên, nhãn, táo Đài Loan, táo xuân 21, quả vú sữa, rượu Giáp Tửu, chổi chít, chổi tre, mây nhựa đan cao cấp Tân Yên, gốm Khuyến (gốm làng Ngòi), mộc dân dụng Đông Thượng, bánh chưng Hiệp Hòa.

    Hiện nay, tỉnh Bắc Giang có gần 29.000 ha vải thiều, ước tính sản lượng đạt khoảng 150.000-180.000 tấn. Trong tổng diện tích trên, có 13.500 ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, ước sản lượng đạt 90.000 tấn; 218,5 ha theo tiêu chuẩn GlobalGAP đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Mỹ, sản lượng đạt 10.000 tấn. Hiện nay, Lục Ngạn vẫn là địa phương có vùng chuyên canh vải thiều lớn nhất miền Bắc. Sản lượng vải thiều của Lục Ngạn đạt cao nhất trong tỉnh. Dự kiến 50% tổng sản lượng vải sẽ tiêu thụ trong nước, 50% còn lại phục vụ xuất khẩu. Thị trường của sản phẩm vải thiều chủ yếu là thị trường các tỉnh, thành phố lân cận và các thành phố lớn, hướng sâu hơn thị trường Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ. Đối với thị trường xuất khẩu, duy trì thị trường ở cả 30 nước vải thiều đang có mặt như Mỹ, Úc, EU, Nhật Bản, Malaysia, Singapore, đặc biệt tập trung cao thị trường truyền thống là Trung Quốc, đẩy mạnh thêm sản lượng xuất khẩu vào thị trường Thái Lan, Maylaysia.

    Tại Bắc Giang, sản phẩm mỳ gạo phát triển tập trung ở Lục Ngạn với mỳ Chũ, ở thành phố Bắc Giang với mỳ Kế và ở Tân Yên với làng mỳ gạo Châu Sơn. Trong đó, mỳ Chũ ở Lục Ngạn phát triển mạnh với sản lượng khoảng 20 nghìn tấn/năm. Sản phẩm được tiêu thụ trong cả nước và xuất khẩu. Hiện nay, mỳ Chũ đã được gắn tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm làm tăng giá trị và khẳng định vị trí trên thị trường.

    Ngoài ra, tỉnh Bắc Giang hiện có tổng đàn gà lớn đứng thứ hai toàn quốc với quy mô hiện nay đạt hơn 18 triệu con với sản lượng đạt 34 nghìn tấn; trong đó, có vùng chăn nuôi tập trung gà đồi Yên Thế – thương hiệu nổi tiếng với vật nuôi đầu tiên trong cả nước được công nhận là nhãn hiệu tập thể chỉ dẫn địa lý. Đàn gà thương phẩm của huyện Yên Thế hiện tại đạt 14 triệu con, tổng sản lượng đạt khoảng 23,5 nghìn tấn đến 28 nghìn tấn, giá trị sản xuất đạt trên 1,2 nghìn tỷ đồng. Gà đồi Yên Thế – Bắc Giang hiện được tiêu thụ tại nhiều địa phương như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Bắc Ninh, Nam Định, Phú Thọ, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Nghệ An, Sơn La…. Quy mô giá trị sản xuất con gà đồi Yên Thế đang ngày càng lớn dần. Sản phẩm gà đồi Yên Thế cũng được gắn tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm, nhằm đảm bảo uy tín, chất lượng, thương hiệu, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Bắc Giang cũng có các định hướng trong việc giải quyết căn bản vấn đề con giống gà đồi Yên Thế, đảm bảo chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và mở rộng thị trường không chỉ trong nước mà ra cả nhiều nước trong khu vực và trên thế giới để từng bước nâng tầm gà đồi Yên Thế lên thành thương hiệu quốc gia.

                                                                                                                                                              Theo mard.gov.vn

  • Bắc Giang: Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng

    Bắc Giang: Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng

    Với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên du lịch phong phú, hệ thống dịch vụ đã và đang được đầu tư đồng bộ, Bắc Giang phấn đấu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng.

    Nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch Bắc Giang, mới đây, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 112- NQ/TU về phát triển du lịch giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.

    Bắc Giang: Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng - Ảnh 1.

    Khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử. Ảnh tư liệu Việt Hưng

    Theo đó, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành một số khu du lịch, dịch vụ tổng hợp cấp tỉnh có quy mô lớn, tạo sức lan tỏa trở thành khu du lịch quốc gia, xây dựng thương hiệu du lịch Bắc Giang là điểm đến hấp dẫn của khu vực Trung du miền núi phía Bắc.

    Mục tiêu đến năm 2025, phấn đấu tất cả các tiêu chí năng lực cạnh tranh du lịch đều tăng, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững; đón được ít nhất 3 triệu lượt khách, tổng thu từ khách du lịch đạt 3 nghìn tỷ đồng; tạo việc làm cho khoảng 6 nghìn lao động. Đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế quan trọng và phát triển bền vững; phấn đấu đón được 7,5 triệu lượt khách, tổng thu từ khách du lịch đạt 7,5 nghìn tỷ đồng, tạo ra khoảng 10 nghìn việc làm.

    Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao và có khả năng đóng góp lớn vào phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo động lực cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển. Có thể nói, dư địa cho phát triển du lịch của Bắc Giang còn lớn.

    Việc đặt vấn đề phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng lúc này vừa phù hợp và tận dụng được cơ hội, xu hướng phát triển du lịch nói chung, vừa phù hợp với thực tiễn tỉnh ta. Để đạt được mục tiêu trên, tỉnh đề ra các nhiệm vụ, giải pháp như tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy vai trò của nhân dân tích cực tham gia phát triển du lịch; làm tốt công tác quy hoạch các khu, điểm du lịch trọng điểm có tiềm năng lớn.

    Cùng đó, xây dựng cơ chế, chính sách phát triển du lịch; huy động các nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển sản phẩm du lịch; đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá, xây dựng thương hiệu và hợp tác, liên kết phát triển du lịch…

    Theo đó, cần tiếp tục nâng cao nhận thức và đổi mới tư duy, đặt trọng tâm vào phát triển du lịch có chất lượng, thương hiệu, tính chuyên nghiệp và hiện đại trên cơ sở khai thác tối ưu nguồn lực và lợi thế. Chủ động phát triển sản phẩm du lịch mới có sức hút, ưu tiên phát triển sản phẩm đặc thù, có lợi thế cạnh tranh như sân golf, du lịch văn hóa tâm linh, tham quan, nghỉ dưỡng, lễ hội, kinh tế ban đêm.

    Phấn đấu đến năm 2030, du lịch Bắc Giang thực sự là ngành kinh tế quan trọng và phát triển bền vững, đón được 7,5 triệu lượt khách, tổng thu từ khách du lịch đạt 7,5 nghìn tỷ đồng, tạo ra khoảng 10 nghìn việc làm.

    Khuyến khích phát triển du lịch cộng đồng gắn với vườn cây ăn quả, làng nghề truyền thống, các sản phẩm nông nghiệp nông thôn, di sản văn hóa…

    Cùng đó phải có tư duy phát triển du lịch là quyền lợi, trách nhiệm của cả doanh nghiệp (DN), Nhà nước, cộng đồng và người dân. Muốn vậy, cần làm tốt công tác truyền thông, nâng cao nhận thức của cộng đồng xã hội. Bảo đảm phát triển du lịch sẽ góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, cải thiện cuộc sống cho người dân. Phát triển du lịch xanh, gắn với bảo vệ môi trường.Khuyến khích phát triển du lịch cộng đồng gắn với vườn cây ăn quả, làng nghề truyền thống, các sản phẩm nông nghiệp nông thôn, di sản văn hóa…

    Chú trọng ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi phát triển du lịch về đất đai, thuế, tín dụng để thu hút DN đầu tư vào lĩnh vực này, khai thác tài nguyên, chính sách và biện pháp hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng, tháo gỡ khó khăn, rào cản về thủ tục hành chính cho DN…

    Tăng cường hợp tác công tư thu hút nguồn lực phát triển du lịch, cùng với tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, kích thích đổi mới, khởi nghiệp sáng tạo; hỗ trợ các DN vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh du lịch tiếp thu công nghệ mới, kỹ năng số và tiếp cận tài chính. Ưu tiên nguồn lực cho công tác quy hoạch, đào tạo nhân lực, nghiên cứu thị trường, xúc tiến, phát triển sản phẩm du lịch, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

    Phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch hiện đại, đồng bộ; tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng giao thông tại các khu vực động lực phát triển du lịch và khu vực có tiềm năng; nâng cao khả năng kết nối giao thông tới khu, điểm du lịch; đổi mới, hoàn thiện hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, đẩy nhanh thực hiện chuyển đổi số trong du lịch, hướng tới hình thành, phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh. Đặc biệt là ứng dụng công nghệ số vào hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch.

    Đẩy mạnh và chuyên nghiệp hóa công tác xúc tiến quảng bá du lịch nhằm vào thị trường mục tiêu theo hướng lấy sản phẩm và thương hiệu du lịch làm tiêu điểm; coi trọng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu về chất lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo bảo đảm tính chuyên nghiệp, đủ sức cạnh tranh và hội nhập, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

    Bên cạnh tăng cường hợp tác với các tỉnh, TP cần kết nối với các DN, tập đoàn lớn. Đặc biệt là liên kết với những DN du lịch hàng đầu cả nước để tìm kiếm cơ hội hợp tác, thu hút đầu tư. Tỉnh cũng cần nghiên cứu ban hành chính sách ưu đãi để kêu gọi và thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch; khuyến khích các DN lữ hành xây dựng tour mới, sản phẩm du lịch độc đáo kết nối giữa các địa phương trong liên kết để nâng cao sức cạnh tranh cho du lịch của tỉnh.

    Theo Báo Bắc Giang

    Với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên du lịch phong phú, hệ thống dịch vụ đã và đang được đầu tư đồng bộ, Bắc Giang phấn đấu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng.

    Nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch Bắc Giang, mới đây, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 112- NQ/TU về phát triển du lịch giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.

    Bắc Giang: Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng - Ảnh 1.

    Khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử. Ảnh tư liệu Việt Hưng

    Theo đó, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành một số khu du lịch, dịch vụ tổng hợp cấp tỉnh có quy mô lớn, tạo sức lan tỏa trở thành khu du lịch quốc gia, xây dựng thương hiệu du lịch Bắc Giang là điểm đến hấp dẫn của khu vực Trung du miền núi phía Bắc.

    Mục tiêu đến năm 2025, phấn đấu tất cả các tiêu chí năng lực cạnh tranh du lịch đều tăng, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững; đón được ít nhất 3 triệu lượt khách, tổng thu từ khách du lịch đạt 3 nghìn tỷ đồng; tạo việc làm cho khoảng 6 nghìn lao động. Đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế quan trọng và phát triển bền vững; phấn đấu đón được 7,5 triệu lượt khách, tổng thu từ khách du lịch đạt 7,5 nghìn tỷ đồng, tạo ra khoảng 10 nghìn việc làm.

    Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao và có khả năng đóng góp lớn vào phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo động lực cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển. Có thể nói, dư địa cho phát triển du lịch của Bắc Giang còn lớn.

    Việc đặt vấn đề phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng lúc này vừa phù hợp và tận dụng được cơ hội, xu hướng phát triển du lịch nói chung, vừa phù hợp với thực tiễn tỉnh ta. Để đạt được mục tiêu trên, tỉnh đề ra các nhiệm vụ, giải pháp như tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy vai trò của nhân dân tích cực tham gia phát triển du lịch; làm tốt công tác quy hoạch các khu, điểm du lịch trọng điểm có tiềm năng lớn.

    Cùng đó, xây dựng cơ chế, chính sách phát triển du lịch; huy động các nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển sản phẩm du lịch; đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá, xây dựng thương hiệu và hợp tác, liên kết phát triển du lịch…

    Theo đó, cần tiếp tục nâng cao nhận thức và đổi mới tư duy, đặt trọng tâm vào phát triển du lịch có chất lượng, thương hiệu, tính chuyên nghiệp và hiện đại trên cơ sở khai thác tối ưu nguồn lực và lợi thế. Chủ động phát triển sản phẩm du lịch mới có sức hút, ưu tiên phát triển sản phẩm đặc thù, có lợi thế cạnh tranh như sân golf, du lịch văn hóa tâm linh, tham quan, nghỉ dưỡng, lễ hội, kinh tế ban đêm.

    Phấn đấu đến năm 2030, du lịch Bắc Giang thực sự là ngành kinh tế quan trọng và phát triển bền vững, đón được 7,5 triệu lượt khách, tổng thu từ khách du lịch đạt 7,5 nghìn tỷ đồng, tạo ra khoảng 10 nghìn việc làm.

    Khuyến khích phát triển du lịch cộng đồng gắn với vườn cây ăn quả, làng nghề truyền thống, các sản phẩm nông nghiệp nông thôn, di sản văn hóa…

    Cùng đó phải có tư duy phát triển du lịch là quyền lợi, trách nhiệm của cả doanh nghiệp (DN), Nhà nước, cộng đồng và người dân. Muốn vậy, cần làm tốt công tác truyền thông, nâng cao nhận thức của cộng đồng xã hội. Bảo đảm phát triển du lịch sẽ góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, cải thiện cuộc sống cho người dân. Phát triển du lịch xanh, gắn với bảo vệ môi trường.Khuyến khích phát triển du lịch cộng đồng gắn với vườn cây ăn quả, làng nghề truyền thống, các sản phẩm nông nghiệp nông thôn, di sản văn hóa…

    Chú trọng ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi phát triển du lịch về đất đai, thuế, tín dụng để thu hút DN đầu tư vào lĩnh vực này, khai thác tài nguyên, chính sách và biện pháp hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng, tháo gỡ khó khăn, rào cản về thủ tục hành chính cho DN…

    Tăng cường hợp tác công tư thu hút nguồn lực phát triển du lịch, cùng với tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, kích thích đổi mới, khởi nghiệp sáng tạo; hỗ trợ các DN vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh du lịch tiếp thu công nghệ mới, kỹ năng số và tiếp cận tài chính. Ưu tiên nguồn lực cho công tác quy hoạch, đào tạo nhân lực, nghiên cứu thị trường, xúc tiến, phát triển sản phẩm du lịch, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

    Phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch hiện đại, đồng bộ; tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng giao thông tại các khu vực động lực phát triển du lịch và khu vực có tiềm năng; nâng cao khả năng kết nối giao thông tới khu, điểm du lịch; đổi mới, hoàn thiện hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, đẩy nhanh thực hiện chuyển đổi số trong du lịch, hướng tới hình thành, phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh. Đặc biệt là ứng dụng công nghệ số vào hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch.

    Đẩy mạnh và chuyên nghiệp hóa công tác xúc tiến quảng bá du lịch nhằm vào thị trường mục tiêu theo hướng lấy sản phẩm và thương hiệu du lịch làm tiêu điểm; coi trọng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu về chất lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo bảo đảm tính chuyên nghiệp, đủ sức cạnh tranh và hội nhập, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

    Bên cạnh tăng cường hợp tác với các tỉnh, TP cần kết nối với các DN, tập đoàn lớn. Đặc biệt là liên kết với những DN du lịch hàng đầu cả nước để tìm kiếm cơ hội hợp tác, thu hút đầu tư. Tỉnh cũng cần nghiên cứu ban hành chính sách ưu đãi để kêu gọi và thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch; khuyến khích các DN lữ hành xây dựng tour mới, sản phẩm du lịch độc đáo kết nối giữa các địa phương trong liên kết để nâng cao sức cạnh tranh cho du lịch của tỉnh.

                                                                                                                                                 Theo Báo Bắc Giang

  • Phó Thủ tướng Lê Văn Thành: Bắc Giang tiếp tục hoàn thiện mô hình sản xuất tại các KCN

    Phó Thủ tướng Lê Văn Thành: Bắc Giang tiếp tục hoàn thiện mô hình sản xuất tại các KCN

    Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo 290/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành tại buổi làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

    Phó Thủ tướng Lê Văn Thành phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bắc Giang. Ảnh: Danh Lam-TTXVN

    Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo 290/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành tại buổi làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang về lưu thông hàng hóa, hành khách và phục hồi sản xuất tại các khu vực sản xuất công nghiệp trong bối cảnh đại dịch COVID-19.

    Thông báo nêu rõ, trong thời gian bùng phát dịch COVID-19 vừa qua, Bắc Giang đã nghiên cứu, xây dựng mô hình phòng chống dịch rất thành công, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, dịch bệnh đã được kiểm soát trong thời gian ngắn.

    Công tác hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp được quan tâm, triển khai ngay từ những ngày đầu khi dịch bùng phát, hoạt động sản xuất sớm được khôi phục và nhanh chóng trở lại hoạt động bình thường, thích ứng an toàn, linh hoạt đồng thời bảo đảm tốt công tác kiểm soát dịch bệnh.

    Kinh tế – xã hội của tỉnh đã hồi phục và phát triển mạnh mẽ so với thời điểm trước dịch. Các chỉ tiêu kinh tế ấn tượng, tốc độ phát triển công nghiệp và thu ngân sách tăng cao.

    Mô hình phòng, chống dịch của tỉnh đã được triển khai theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong đó, doanh nghiệp được xác định là chủ thể của quá trình phục hồi sản xuất và chính quyền các cấp là trung tâm để tháo gỡ, phục hồi sản xuất, kinh doanh gắn với bảo đảm an toàn phòng, chống dịch COVID-19.

    Đây là một mô hình tốt, hiệu quả cần được tuyên truyền, nhân rộng để các địa phương khác nghiên cứu, áp dụng.

    Phó Thủ tướng đánh giá cao sự nỗ lực, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo tỉnh Bắc Giang và cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

    Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, khó lường, tỉnh Bắc Giang cần tiếp tục quan tâm, chỉ đạo để chủ động trong công tác phòng, chống dịch bệnh, không chủ quan, lơ là để dịch bệnh bùng phát trở lại.

    Bên cạnh đó, tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức hoạt động sản xuất tại các khu công nghiệp để kịp thời áp dụng thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch trong tình hình mới, đồng thời gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương để tổng hợp chung vào chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2022-2023 trong điều kiện đã kiểm soát dịch bệnh, tiêm vaccine bao phủ diện rộng.

    Đối với đề xuất của tỉnh, Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Giao thông Vận tải hướng dẫn, hỗ trợ Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang trong công tác phát triển hạ tầng giao thông đường bộ, đường sắt trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.

    Đối với dự án mở rộng cầu Như Nguyệt, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thực hiện theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 1390/TTg-CN ngày 18/10/2021, đồng thời đẩy nhanh tiến độ triển khai, sớm hoàn thành trước ngày 31/12/2022.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư sớm tổ chức thẩm định để trình Thủ tướng Chính phủ đối với Quy hoạch tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050; chủ trương đầu tư dự án xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng 03 khu công nghiệp (Tân Hưng, Yên Lư, Yên Sơn – Bắc Lung) và mở rộng 02 khu công nghiệp (Quang Châu, Hòa Phú), trong đó cần lưu ý việc bố trí đất xây dựng để bảo đảm đủ nhà ở cho công nhân làm việc tại khu công nghiệp./.

                                                                                                                                                         Theo bnews.vn

  • Bắc Giang đầu tư hơn 450 tỷ đồng xây dựng cầu Như Nguyệt

    Bắc Giang đầu tư hơn 450 tỷ đồng xây dựng cầu Như Nguyệt

    Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Nghị quyết quyết định chủ trương đầu tư dự án xây dựng cầu Như Nguyệt với tổng mức đầu tư khoảng hơn 456 tỷ đồng, từ nguồn vốn ngân sách tỉnh.

    Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Giang vừa quyết định chủ trương đầu tư dự án xây dựng cầu Như Nguyệt với tổng mức đầu tư hơn 456 tỷ đồng. Ảnh minh họa: TTXVN

    Nhằm giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông, hạn chế tai nạn giao thông, nâng cao năng lực khai thác tuyến đường cao tốc Hà Nội – Bắc Giang – Lạng Sơn, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng, tạo điều kiện thông thoáng cửa ngõ vào tỉnh Bắc Giang để thu hút đầu tư, phục vụ nhu cầu phát triển của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Nghị quyết quyết định chủ trương đầu tư dự án xây dựng cầu Như Nguyệt, tỉnh Bắc Giang.
    Theo đó, Bắc Giang đầu tư xây mới cầu Như Nguyệt qua sông Cầu có vị trí nằm bên cạnh vị trí cầu hiện tại về phía hạ lưu, chiều dài cầu và tuyến đường hai bên đầu cầu dự kiến dài khoảng 1.240 m; điểm đầu tại Km131+580 QL 1 thuộc địa phận xã Quang Châu, huyện Việt Yên (Bắc Giang), điểm cuối Km132+820 QL 1 thuộc địa phận phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

    Diện tích đất sử dụng khoảng 0,96 ha; trong đó, tỉnh Bắc Giang khoảng 0,78 ha, tỉnh Bắc Ninh khoảng 0,18 ha.
    Quy mô đầu tư gồm phần cầu thiết kế bằng cầu bê tông cốt thép và bê tông cốt thép dự ứng lực, chiều dài cầu khoảng 445 m, chiều rộng cầu 16 m; phần đường hai đầu cầu có tổng chiều dài khoảng 800 m.

    Như vậy, cầu Như Nguyệt sẽ được đầu tư mở rộng từ 2 làn xe lên 4 làn xe, rộng 33 m để đồng bộ với khổ đường trên toàn tuyến. Tổng mức đầu tư dự án khoảng hơn 456 tỷ đồng, từ nguồn vốn ngân sách tỉnh.
    Dự án được thực hiện trong 2 năm từ 2022 – 2024 do Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh Bắc Giang làm chủ đầu tư; trong đó, năm 2021- 2022 chuẩn bị đầu tư, 2022- 2024 thực hiện dự án.
    Trước đó, ngày 18/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 1390/TTg-CN đồng ý giao tỉnh Bắc Giang thực hiện đầu tư xây dựng mở rộng cầu Như Nguyệt bằng nguồn vốn ngân sách địa phương.
    Cầu Như Nguyệt là cầu đường bộ bắc qua sông Cầu, nằm trên tuyến đường cao tốc Hà Nội – Bắc Giang – Lạng Sơn nối tỉnh Bắc Ninh với tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, trên tuyến đường này còn hai vị trí tại cầu Xương Giang và cầu Như Nguyệt (Bắc Giang) đang bị thắt hẹp về quy mô.
    Hiện nay, mật độ giao thông trên tuyến Hà Nội – Bắc Giang ngày càng cao, các vị trí cầu Xương Giang, cầu Như Nguyệt trở thành điểm nghẽn giao thông và xảy ra tình trạng ùn tắc thường xuyên, ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn giao thông, đặc biệt là môi trường đầu tư của tỉnh Bắc Giang./.

                                                                                                                                                                            Theo bnews.vn

  • Bắc Giang: Môi trường đầu tư hấp dẫn nhờ chính sách thông thoáng

    Bắc Giang: Môi trường đầu tư hấp dẫn nhờ chính sách thông thoáng

    Bắc Giang đang là điểm đến được nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài lựa chọn, bởi bên cạnh lợi thế về vị trí địa lý, đây còn là địa phương đi đầu với những chính sách thu hút đầu tư thông thoáng, thuận lợi nhờ quyết tâm nỗ lực cải cách hành chính.

    Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), hiện tỉnh Bắc Giang đã thu hút được 563 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với tổng vốn đăng ký 7,921 tỷ USD, xếp thứ 14/63 tỉnh, thành phố trên cả nước.

    Bắc Giang: Môi trường đầu tư hấp dẫn nhờ chính sách thông thoáng
    Nhiều doanh nghiệp FDI đến đầu tư ở Bắc Giang

    Riêng 10 tháng đầu năm, dù diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, Bắc Giang thời điểm tháng 5/2021 cũng là điểm nóng của dịch Covid-19, nhưng thu hút FDI của tỉnh Bắc Giang vẫn đạt gần 800 triệu USD với 17 dự án đăng ký cấp mới, tổng vốn đăng ký hơn 600 triệu USD, 30 dự án điều chỉnh tăng vốn, số vốn đăng ký tăng thêm đạt trên 161 triệu USD và 32 lượt dự án góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư, có vốn đăng ký đạt gần 36,4 triệu USD. Kết quả 10 tháng năm 2021, Bắc Giang vươn lên xếp thứ 10/63 tỉnh, thành phố thu hút vốn FDI.

    Bắc Giang: Môi trường đầu tư hấp dẫn nhờ chính sách thông thoáng
    Dây chuyền sản xuất tại Công ty TNHH Crystal Martin Việt Nam, KCN Quang Châu

    Để đạt được kết quả trên, những năm qua tỉnh Bắc Giang luôn nỗ lực trong cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, theo đó, kết quả xếp hạng Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2020 của tỉnh Bắc Giang đứng thứ 27/63 tỉnh, thành phố trên cả nước, tăng 13 bậc trên bảng xếp hạng và là thứ hạng cao nhất địa phương này đạt được trong 8 năm qua.

    Đặc biệt, để tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh một cách mạnh mẽ hơn nữa, nhằm trở thành điểm đến an toàn, hấp dẫn và thân thiện đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tháng 6/2021, UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành Kế hoạch số 242/KH-UBND nhằm nâng cao Chỉ số PCI năm 2021.

    Kế hoạch đặt mục tiêu, năm 2021 phấn đấu nâng điểm số PCI tỉnh Bắc Giang đạt 66,33 điểm, tăng 2,35 điểm so với năm 2020, xếp hạng tối thiểu 20 so với cả nước và thuộc nhóm các địa phương có chất lượng điều hành kinh tế “khá”.

    Bắc Giang: Môi trường đầu tư hấp dẫn nhờ chính sách thông thoáng
    Công ty TNHH Vina Solar Technology (KCN Vân Trung) là daonh nghiệp có quy mô đầu tư lớn

    Để đạt được mục tiêu đó, UBND tỉnh Bắc Giang đã đề ra rất nhiều các giải pháp cụ thể cho các sở, ngành, địa phương, như: Tăng cường thực hiện đối thoại theo chuyên đề, đặc biệt là lĩnh vực đất đai để qua đó kịp thời hướng dẫn cho các doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, đảm bảo công khai, minh bạch, đúng pháp luật. Rà soát các nội dung thanh tra, kiểm tra, rút ngắn thời gian các cuộc thanh tra, kiểm tra, giảm thiểu tác động của các cuộc thanh tra, kiểm tra đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

    Cùng với đó, đẩy mạnh xây dựng cơ chế thuận lợi để doanh nghiệp có thể dễ dàng thực hiện quyền tố cáo, khiếu nại đối với các hành vi tham nhũng, sách nhiễu, thiếu trách nhiệm của cán bộ các cơ quan, đơn vị trong giải quyết công việc, gây khó khăn, thiệt hại cho doanh nghiệp. Nghiên cứu, xây dựng kế hoạch dài hạn nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tới làm việc và sinh sống tại tỉnh.

    Đặc biệt, để kế hoạch triển khai đạt hiệu quả cao nhất, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã giao nhiệm vụ cho các đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo, giám sát, đôn đốc các đơn vị đầu mối, đơn vị chủ trì nâng điểm số các chỉ tiêu thành phần nhằm đạt mục tiêu kế hoạch đề ra và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh về hoàn thành mục tiêu nâng điểm số của các Chỉ số thành phần được giao.

    Bắc Giang: Môi trường đầu tư hấp dẫn nhờ chính sách thông thoáng
    Nhiều hồ sơ của người dân, doanh nghiệp được các sở, ngành giải quyết rút ngắn thời gian

    Đặc biệt, trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các doanh nghiệp trong và ngoài nước đối mặt với nhiều khó khăn do phải thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội để phòng, chống dịch bệnh, chuỗi cung ứng hàng hóa đứt gãy, để nhà đầu tư yên tâm sản xuất, kinh doanh, UBND tỉnh Bắc Giang đã luôn đồng hành cùng với doanh nghiệp, nhà đầu tư bằng những hành động cụ thể, như: Nỗ lực kiểm soát tốt dịch bệnh trên địa bàn, liên tục có các cuộc gặp gỡ, đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của doanh nghiệp, giúp họ giảm bớt khó khăn. Đặc biệt, địa phương còn lập đường dây nóng để hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn khôi phục sản xuất, kinh doanh. Nhằm ổn định sản xuất cho doanh nghiệp tại các khu công nghiệp, tỉnh cũng ưu tiên tiêm vắc-xin phòng Covid-19 cho công nhân tại khu công nghiệp…

    Với những giải pháp quyết liệt và cụ thể nêu trên, các chuyên gia kinh tế đánh giá, thời gian tới môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh Bắc Giang sẽ có bước cải thiện mạnh mẽ, đưa Bắc Giang trở thành điểm đến đầu tư an toàn, hấp dẫn của doanh nghiệp trong và ngoài nước.

    Bên cạnh thường xuyên duy trì các cuộc gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp định kỳ hàng quý để nghe phản ánh và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư, tỉnh Bắc Giang cũng công khai các điều kiện, tiêu chí để mọi doanh nghiệp trên địa bàn có thể tiếp cận nguồn lực của nhà nước về nguồn vốn đầu tư, hướng đến xây dựng một môi trường đầu tư công khai, minh bạch, hiệu quả.

                                                                                                                                               Theo congthuong.vn

  • Thu hút các doanh nghiệp châu Âu đầu tư vào tỉnh Bắc Giang

    Sáng 25/11, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn dự Hội nghị “Gặp gỡ châu Âu 2021: Đối tác Việt Nam – EU hậu Covid -19 và công bố sách trắng EROCHAM 2021” do Hiệp Hội doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EROCHAM) và Bộ Ngoại giao đồng tổ chức tại Hà Nội.

    Thông qua hội nghị, đại sứ ở các nước châu Âu và một số doanh nghiệp (DN) châu Âu cung cấp một số thông tin về hoạt động của các DN cũng như phản ánh về một số cơ chế, chính sách trong hoạt động đầu tư tại Việt Nam, cũng như vào các tỉnh trong thời gian tới.

    Đồng thời cam kết tỉnh là điểm đến an toàn và thành công của các DN từ EU thông qua các giải pháp đã và đang được tỉnh tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện như: Cải thiện mạnh mẽ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính theo hướng thuận lợi, minh bạch, phù hợp với các thông lệ quốc tế; áp dụng đầy đủ các chính sách ưu đãi đầu tư cao nhất theo quy định thống nhất của quốc gia; triển khai các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư riêng của tỉnh, nhất là trong vấn đề tiếp cận đất đai, thủ tục đầu tư, xây dựng.Tại hội nghị, đồng chí Mai Sơn cung cấp một số thông tin về KT-XH của tỉnh. Đồng chí nhấn mạnh, Liên minh châu Âu (EU) là đối tác thu hút đầu tư chiến lược của tỉnh trong các lĩnh vực thế mạnh như: Công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất ô tô, phụ tùng ô tô, chế biến gỗ, chế biến sâu nông sản; đào tạo lao động chất lượng cao; tăng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may, nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ của tỉnh vào thị trường EU. 

    Hoàn thiện và phát triển hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng công nghiệp và hạ tầng xã hội của các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh; hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin quốc gia về đầu tư, liên thông với các lĩnh vực lao động, đất đai, thuế, hải quan, tín dụng, ngoại hối…; triển khai toàn diện, sâu rộng chính phủ điện tử, kinh tế số đến các cơ quan, tổ chức, đơn vị, DN trên địa bàn tỉnh.

    Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực tại địa phương để cung ứng nhân lực chất lượng cao cho các DN. Hỗ trợ các DN trong tỉnh áp dụng hệ thống quản lý chất lượng hiện đại theo tiêu chuẩn EU, ưu tiên trước hết cho các mặt hàng định hướng xuất khẩu vào thị trường EU. 

    Áp dụng đồng bộ các giải pháp về phòng, chống dịch bệnh, nhất là tại DN trong các khu, cụm công nghiệp để duy trì sản xuất an toàn, thích ứng linh hoạt với yêu cầu phòng, chống dịch bệnh, không làm ngưng trệ, đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa.

  • Tình hình thực hiện các dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm; nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    Tình hình thực hiện các dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm; nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    Thực hiện chương trình công tác tháng 9/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện các dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm; nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021 với các nội dung như sau:

    I. CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG

    1. Dự án Phát triển các đô thị dọc hành lang tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) lần 2, vay vốn ADB – Dự án thành phần tỉnh Bắc Giang

    1.1Tình hình thực hiện

    – Các gói thầu xây lắp cơ bản đã hoàn thành.

    – Giá trị khối lượng thực hiện 9 tháng đầu năm ước đạt 50,256 tỷ đồng; Lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay đạt 502,190/542,790 tỷ đồng, tương đương 92%.

    – Lũy kế bố trí kế hoạch vốn đến nay đạt 594,964 tỷ đồng; giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm đạt 37,046 tỷ đồng; lũy kế giá trị giải ngân toàn dự án 411,577 tỷ đồng, tương đương 69,18%.

    – Hiện nay, Chủ tịch UBND tỉnh đã phê duyệt điều chỉnh, bổ sung dự án.

    1.2. Khó khăn, vướng mắc

    Bộ Tài chính chưa làm việc với Ngân hàng phát triển Châu Á để gia hạn thời gian đóng khoản vay do chờ Quyết định phê duyệt điều chỉnh, bổ sung dự án.

    1.3. Nhận xét đánh giá

    – Tiến độ thực hiện các gói thầu xây lắp của dự án cơ bản đã đảm bảo;

    – Việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung dự án chậm khoảng 20 ngày so với kế hoạch do tiếp tục nghiên cứu phương án thiết kế đảm bảo kết nối liên thông cầu Á Lữ với đê tả và đê hữu sông thương và phương án tổng thể kết nối khu vực phía Tây với khu vực trung tâm của thành phố thông qua công trình Cầu Á Lữ.

    1.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – UBND thành phố Bắc Giang phối hợp, bám sát Bộ Tài chính đề nghị Ngân hàng phát triển Châu Á xem xét gia hạn ngày đóng khoản vay đến ngày 30/6/2023.

    – Phê duyệt thiết kế BVTC-DT hạng mục cầu Á Lữ và đường dẫn phía Tây thành phố Bắc Giang; tổ chức triển khai công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp và khởi công công trình.

    2. Tiểu dự án sửa chữa và nâng cao an toàn hồ đập (WB8) tỉnh Bắc Giang

    2.1. Tình hình thực hiện dự án

    a. Thủ tục pháp lý

    – Đã điều chỉnh bổ sung thiết kế BVTC-DT một số hạng mục công trình của 04 hồ Lục Nam; đang thẩm định, phê duyệt điều chỉnh bổ sung thiết kế BVTC-DT một số hạng mục công trình của 07 hồ còn lại.

    b. Công tác GPMB

    – Huyện Lục Ngạn đang lập phương án GPMB hồ Đồng Man và hồ Bầu Lầy.

    – Huyện Lục Nam (04 hồ: Khe Cát, Khe Ráy, Ba Bãi, Chùa Ông) đang trình phê duyệt giá để làm căn cứ lập phương án chi tiết.

    – Huyện Yên Thế đã trình phương án GPMB ngày 31/8/2021 (02 hồ: hồ Chồng Chềnh, hồ Chín Suối).

    c. Công tác thi công:

    Đang triển khai thi công 11/11 công trình, một số hạng mục bị chậm tiến độ: Đập phụ số 03 và nhà quản lý hồ Bầu Lầy, nhà quản lý hồ Đồng Man. Một số hồ nguy cơ cao chậm tiến độ so với kế hoạch gồm: hồ Chùa Ông, Ba Bãi, Khe Cát do đến nay vẫn chưa GPMB.

    d. Tổng giá trị thực hiện 9 tháng đầu năm là 80,5 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án là 127,5/175 tỷ đồng đạt 72,8%.

    đ. Giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm 2021 là 44,383/67,590 tỷ đồng, đạt 65,6%; lũy kế giá trị giải ngân từ đầu dự án đến nay đạt 103,995 tỷ đồng.

    2.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc:

    – Công tác GPMB: Tiến độ thực hiện công tác GPMB của các huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế chậm.

    – Công tác thi công: Mực nước hồ lên cao đã ảnh hưởng đến tiến độ thi công.

    * Nguyên nhân:

    – Công tác GPMB:

    + Chủ đầu tư chậm trễ trong việc triển khai trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

    + UBND các huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế chưa tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện GPMB.

    – Công tác thi công: Tiến độ thi công các hồ chậm do ảnh hưởng của tiến độ GPMB, thời tiết mùa mưa và tình hình dịch Covid-19.

    2.3. Nhận xét, đánh giá

    – Theo kế hoạch hoàn thành công tác GPMB trong tháng 8/2021, tuy nhiên đến nay vẫn chưa hoàn thành (chậm so với kế hoạch 01 tháng). Trách nhiệm thuộc về Chủ đầu tư và UBND các huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Yên Thế.

    – Công tác thi công: Tiến độ thi công một số hạng mục chậm khoảng 01 tháng so với kế hoạch. Trách nhiệm thuộc về Chủ đầu tư.

    2.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Chỉ đạo UBND các huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Yên Thế tập trung thực hiện GPMB bàn giao cho chủ đầu tư trong tháng 9/2021.

    – Yêu cầu Chủ đầu tư đôn đốc chỉ đạo các nhà thầu thi công công trình đảm bảo hoàn thành các hồ chứa trong tháng 11/2021.

    3. Dự án cải tạo, nâng cấp ĐT289 đoạn Chũ – Khuôn Thần, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

    3.1. Tình hình thực hiện dự án

    – Đã thi công hoàn thành giai đoạn 1 đoạn từ Km0-Km5+500; được nghiệm thu đưa vào sử dụng ngày 09/9/2021.

    – Tổng giá trị thực hiện lũy kế từ đầu dự án 167,5/214 tỷ đồng (đạt 78%). Đã giải ngân 100% kế hoạch vốn đã bố trí cho dự án 98,5 tỷ đồng. Bên cạnh đó, dự án được ứng vốn từ Quỹ phát triển đất tỉnh 34,6 tỷ đồng, đã giải ngân 29,16/34,6 tỷ đồng.

    3.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

    * Khó khăn vướng mắc: Nguồn vốn bố trí còn thiếu khoảng 68 tỷ đồng.

    3.3. Nhận xét, đánh giá

    Dự án triển khai giai đoạn 1 đúng kế hoạch.

    3.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    Trình HĐND tỉnh quyết định dừng thực hiện giai đoạn 2 của dự án và thực hiện quyết toán dự án.

    4. Dự án Nâng cấp, mở rộng đường gom bên phải tuyến cao tốc Hà Nội – Bắc Giang đoạn từ cầu vượt QL37 đến cầu vượt QL17, tỉnh Bắc Giang

    4.1. Tình hình thực hiện dự án

    – Công tác GPMB: Đã hoàn thành.

    – Công tác thi công: Đã thi công cơ bản hoàn thành, còn lại hộ nan tôn lượn sóng nhánh 2 nút giao QL37.

    – Giá trị khối lượng thực hiện 9 tháng đầu năm đạt 120,34 tỷ đồng; lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay đạt đạt 142,59 tỷ đồng. Giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm đạt 74,293 tỷ đồng, lũy kế từ đầu dự án đạt 120,173/152,6 tỷ đồng.

    4.2. Khó khăn, vướng mắc: Không.

    4.3. Nhận xét, đánh giá

    Dự án triển khai đảm bảo kế hoạch.

    4.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: Hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sử dụng và thực hiện quyết toán dự án.

    5. Dự án Đầu tư xây dựng cầu Chũ trên ĐT289 kéo dài huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

    5.1. Tình hình thực hiện dự án

    – Công tác GPMB: Đã hoàn thành.

    – Công tác thi công: Hoàn thành đưa vào sử dụng ngày 09/9/2021.

    – Tổng giá trị thực hiện 9 tháng đầu năm là 163,76 tỷ đồng; lũy kế giá trị thực hiện dự án là 177,11; lũy kế giải ngân từ đầu dự án là 110,6/110,6 tỷ đồng (đạt 100% kế hoạch vốn giao).

    5.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

    * Khó khăn vướng mắc: Không.

    5.3. Nhận xét, đánh giá

    Tiến độ thực hiện dự án nhanh hơn so với kế hoạch khoảng 9 tháng.

    6. Dự án Nâng cấp, mở rộng đường gom bên trái tuyến QL1 đoạn từ nút giao QL31 đến nút giao Hùng Vương và cải tạo nút giao Hùng Vương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

    6.1. Tình hình thực hiện dự án

    – Công tác GPMB: Phần đường gom đã hoàn thành 2,65/2,67Km; hiện tại còn vướng mắc 06 mộ với chiều dài tuyến 20m.

    – Công tác thi công: Đã cơ bản hoàn thành còn lại 20m chiều dài tuyến vướng mộ chưa thi công.

    – Giá trị khối lượng thực hiện 9 tháng đầu năm là 45,76 tỷ đồng; lũy kế từ giá trị hoàn thành dự án 68,77 tỷ đồng; giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm 28,035 đồng, lũy kế giá trị giải ngân từ đầu dự án đến nay đạt 62,228/80,3 tỷ đồng.

    – Đã phê duyệt điều chỉnh, bổ sung dự án (mở rộng công trình cầu Hùng Vương mỗi bên 4m và điều chỉnh nhánh nút giao).

    6.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn vướng mắc: Còn vướng mắc 06 ngôi mộ chưa di chuyển, trong đó có 04 ngôi mộ nằm trong phạm vi mặt đường;

    * Nguyên nhân: UBND thành phố chưa quyết liệt giải quyết dứt điểm vướng mắc đối với 06 ngôi mộ.

    6.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác GPMB: Theo nhiệm vụ, giải pháp khắc phục tồn tại của dự án tại kỳ kiểm điểm tình hình thực hiện các dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2021, UBND thành phố phải hoàn thành công tác GPMB của dự án trong tháng 7/2021. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa hoàn thành GPMB dự án. Trách nhiệm thuộc về UBND thành phố.

    6.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Công tác GPMB: UBND thành phố tập trung thực hiện công tác GPMB đáp ứng kế hoạch, tiến độ bàn giao xong phạm vi vướng mắc cho Ban QLDA trước 05/10/2021 (theo Thông báo kết luận số 382/TB-UBND ngày 17/8/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh).

    – Hoàn thành toàn bộ phần khối lượng công trình theo dự án được phê duyệt trước khi điều chỉnh, bổ sung.

    – Thực hiện điều chỉnh dự án: Lập thiết kế BVTC-DT, lựa chọn nhà thầu xây lắp và khởi công công trình đối với hạng mục bổ sung trong tháng 12/2021.

    7. Đường nối từ QL37 – QL17 – ĐT292 (đoạn từ Việt Yên, Tân Yên, Lạng Giang), tỉnh Bắc Giang:

    7.1. Tình hình thực hiện

    * Công tác GPMB:

    – Huyện Việt Yên: Đã bàn giao mặt bằng 6,9/7,2Km;

    – Huyện Tân Yên: Đã phê duyệt phương án bồi thường GPMB xong xã Ngọc Thiện và xã Ngọc Lý được 57/102 hộ;

    – Huyện Lạng Giang: Đã phê duyệt phương án và đang chi trả tiền được 110/113, còn 03 hộ chưa nhận tiền do thắc mắc về diện tích đền bù; bàn giao mặt bằng được 0,9/2Km.

    * Công tác thi công: Khởi công ngày 28/8/2021.

    * Tổng giá trị thực hiện 9 tháng đầu năm là 51,23 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án là 53,38/678 tỷ đồng. Giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm là 80/80 tỷ đồng; lũy kế giải ngân từ đầu dự án là 81,1/81,1 tỷ đồng.

    7.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc: Chờ Nhân dân thu hoạch lúa xong thì triển khai thi công.

    7.3. Nhận xét, đánh giá

    Công trình đã khởi công 28/8/2021, tiến độ thực hiện dự án đáp ứng được yêu cầu kế hoạch.

    7.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Công tác GPMB: UBND các huyện Việt Yên, Tân Yên, Lạng Giang tiếp tục triển khai thực hiện công tác GPMB.

    – Công tác thi công: Chủ đầu tư đôn đốc nhà thầu triển khai thi công trình ngay sau khi thu hoạch lúa; đảm bảo cơ bản hoàn thành nền đường, hệ thống thoát nước ngang, kết cấu phần dưới 02 cầu (cầu Lái Nghiên, cầu Nghĩa Trung) và kết cấu phần dưới cầu vượt Sông Thương.

    8. Cải tạo, nâng cấp ĐT 298 (đoạn từ Đình Nẻo đi Việt Yên)

    8.1. Tình hình thực hiện         

    * Công tác GPMB:

    – Huyện Tân Yên: Đã cơ bản hoàn thành hiện đang thực hiện dịch chuyển hệ thống đèn chiếu sáng.

    – Huyện Việt Yên: Thực hiện xong giải tỏa hành lang ATGT; đã có thông báo thu hồi đất 04/04 xã với diện tích 10,61 ha.

    * Công tác thi công:

    – Gói thầu số 07 (đoạn Km0+00-Km10+500): Đã thi công hoàn thiện nền đường, móng CPĐD loại 2 được 1,5/10,5Km (phía bên phải tuyến); thi công rãnh dọc B60 được 250/8.682m.

    – Gói thầu số 08 (đoạn Km10+500-Km18+00): Đã thi công hoàn thiện nền đường, móng CPĐD loại 2 được 1,1/7,5Km (phía phải tuyến); thi công rãnh dọc B60 được 200/8.825m. Hạng mục cầu đã thi công xong bãi đúc dầm, đang thi công bệ đúc dầm.

    * Giá trị thực hiện: Tổng giá trị thực hiện 9 tháng đầu năm là 15,68 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án là 17,32/277,83 tỷ đồng. Giá trị giải ngân từ đầu năm đến nay đạt 63,38 tỷ đồng (đạt 70% so với kế hoạch giao trong năm); lũy kế từ đầu dự án đạt 64,13/90,75 tỷ đồng.

    8.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc:

    – Công tác GPMB huyện Tân Yên: Vướng công trình công viễn thông, điện lực, điện chiếu sáng, đường ống nước sạch.

    – Công tác GPMB huyện Việt Yên: Công tác GPMB công trình công còn chậm.

    8.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác GPMB: Theo kế hoạch dự kiến, công tác GPMB hoàn thành trong tháng 9/2021. Tuy nhiên, hiện nay tiến độ GPMB còn chậm. Trách nhiệm thuộc UBND các các huyện Tân Yên, Việt Yên.

    – Công tác thi công: Tiến độ dự án đáp ứng được yêu cầu.

    8.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Công tác GPMB: UBND các huyện Việt Yên, Tân Yên tập trung thực hiện xong trong tháng 10/2021.

    – Công tác thi công: Cơ bản hoàn thành nền đường, hệ thống rãnh dọc, cống ngang và cầu Sim trong quý IV/2021. Phấn đầu hoàn thành nghiệm thu kỹ thuật đường trước Tết Nguyên đán.

    9. Đường nối QL 37–QL 17-Võ Nhai (Thái Nguyên), tỉnh Bắc Giang:

    9.1. Tình hình thực hiện

    * Công tác GPMB:

    – Huyện Việt Yên: Đã phê duyệt phương án GPMB tổng thể, giá trị 11,1 tỷ đồng; đã chi trả tiền bồi thường được 61/170 hộ dân.

    – Huyện Tân Yên: Đã phê duyệt phương án GPMB tổng thể đợt 1 với giá trị 45 tỷ đồng.

    – Huyện Yên Thế: Đã phê duyệt phương án GPMB tổng thể của 5 xã (Tân Sỏi, An Thượng, Tiến Thắng, Tam Tiến và Canh Nậu) với giá trị 121,7 tỷ đồng.

    * Thực hiện dự án: Đang thẩm định thiết kế BVTC-DT đoạn tuyến nhánh ĐT294; đang thực hiện thiết kế BVTC-DT tuyến chính.

    * Giá trị thực hiện 9 tháng đầu năm là 25,1 tỷ đồng; lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay đạt 25,5 tỷ đồng; lũy kế số vốn đã bố trí cho dự án từ đầu dự án 340,8 tỷ đồng; giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm đạt 193,7 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án đạt 194,5 tỷ đồng (trong đó chuyển tiền GPMB cho UBND các huyện là 162,7 tỷ đồng).

    9.2. Khó khăn, vướng mắc

    Do công tác dồn điền đổi thửa làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất nên công tác quy chủ gặp nhiều khó khăn. Bản đồ địa chính của một số xã chưa được chỉnh lý, một số hộ dân có đất trên hành lang được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dẫn đến khó khăn trong công tác bồi thường hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng.

    9.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác thiết kế BVTC-DT: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu.

    – Công tác GPMB: Hiện nay các huyện đang triển khai GPMB cơ bản đảm bảo kế hoạch, tiến độ chung của dự án.

    9.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – UBND các huyện Việt Yên, Tân Yên, Yên Thế bàn giao mặt bằng trong tháng 10/2021.

    – Hoàn thành phê duyệt thiết kế BVTC-DT trong tháng 9/2021.

    – Lựa chọn nhà thầu xây lắp và khởi công trong tháng 11/2021.

    10. Xây dựng đường và cầu kết nối huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang với thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (đoạn từ QL37 đến cầu Hòa Sơn):

    10.1. Tình hình thực hiện

    – Công tác GPMB: Đã phê duyệt phương án GPMB tổng thể với giá trị 59 tỷ đồng; đang thực hiện phê duyệt phương án bồi thường GPMB 04/06 xã (trừ thị trấn Thắng, xã Hoà Sơn); đã phê duyệt và chi trả tiền đền bù GPMB 01 xã với chi phí 1,6 tỷ đồng (được 0,82/21,6ha).

    – Khởi công công trình ngày 01/9/2021.

    – Giá trị thực hiện 9 tháng đầu năm là: 44,268 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án là 44,268/543 tỷ đồng. Lũy kế giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm đạt 46,89 tỷ đồng (đạt 92,3% so với kế hoạch giao trong năm); lũy kế từ đầu dự án đạt 47,69/50,8 tỷ đồng.

    10.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc: Không

    10.3. Nhận xét, đánh giá

    Dự án triển khai đáp ứng yêu cầu.

    10.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Thi công gói thầu số 8 đạt 2,0/4,0 Km, gói thầu số 9 đạt 1,2/6,0 Km.

    – Tổ chức lựa chọn nhà thầu và khởi công gói thầu số 10 trong tháng 10/2021.

    11. Xây dựng đường và cầu Hà Bắc 2, nối tuyến nhánh 02 đường Vành đai IV với khu công nghiệp Yên Phong và QL18, tỉnh Bắc Ninh

    11.1. Tình hình thực hiện

    – Công tác GPMB:

    + UBND huyện Việt Yên đã phê duyệt phương án GPMB tổng thể; đã chi trả (đợt 1) được 41/79 hộ với diện tích 2,97/4,46 ha, số tiền là 5,7/7,4 tỷ đồng.

    + UBND huyện Hiệp Hoà: Hoàn thành trích lục bản đồ địa chính thửa đất; quy chủ, kiểm đếm, thông báo thu hồi đất diện tích 11.563,4m2.

    – Đang thực hiện khảo sát thiết kế BVTC-DT.

    – Giá trị khối lượng thực hiện dự án 9 tháng đầu năm đạt 11,16 đồng; lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay đạt 11,16 tỷ đồng. Lũy kế giá trị giải ngân 9 tháng đạt 14,269 tỷ đồng (đạt 48% so với kế hoạch giao trong năm); lũy kế từ đầu dự án đạt 14,269/31 tỷ đồng.

    11.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc: Do tình hình dịch Covid-19 ở địa bàn thành phố Hà Nội diễn biến phức tạp nên đơn vị tư vấn thực hiện thiết kế BVTC-DT chậm.

    11.3. Nhận xét đánh giá

    – Công tác GPMB: Đã hoàn thành theo đúng kế hoạch trong tháng 7/2021.

    11.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Hoàn thành GPMB, bàn giao trong tháng 10/2021;

    – Hoàn thành phê duyệt thiết kế BVTC-DT trước 30/9/2021;

    – Lựa chọn xong nhà thầu xây lắp và khởi công trong tháng 11/2021.

    12. Cải tạo, nâng cấp ĐT 291 trên địa bàn huyện Sơn Động:

    12.1. Tình hình thực hiện

     – Công tác GPMB: Đã hoàn thành kiểm đếm 03/03 xã; công khai niêm yết phương án GPMB đoạn từ Km10 – Km14; bàn giao mặt bằng được 3/16,3Km

    – Khởi công gói thầu số 09 ngày 31/8/2021; đang tổ chức lựa chọn nhà thầu thi công gói thầu số 08a và 08b.

    – Giá trị khối lượng thực hiện 9 tháng đầu năm đạt 10,6 tỷ đồng; lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay đạt 12,4 tỷ đồng; lũy kế giá trị giải ngân từ đầu năm đạt 19,2 tỷ đồng (đạt 96% so với kế hoạch giao trong năm); lũy kế từ đầu dự án đạt 19,9/20,75 tỷ đồng.

    12.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc: Không.

    12.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác GPMB chậm so với kế hoạch 14 ngày.

    – Lựa chọn nhà thầu, khởi công đúng kế hoạch trong tháng 8/2021.

    12.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – UBND huyện Sơn Động thực hiện công tác GPMB xong trong tháng 10/2021.

    – Khởi công gói thầu số 08a, 08b trong tháng 9/2021.

    13. Xây dựng mới trạm bơm cống Chản

    13.1. Tình hình thực hiện

    – Công tác GPMB: Ban QLDA đã bàn giao xong cọc GPMB cho huyện.

    – Đã lựa chọn xong nhà thầu khảo sát lập thiết kế BVTC-DT.

    – Giá trị khối lượng thực hiện dự án 9 tháng đầu năm ước đạt 2,433 tỷ đồng; lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay đạt 2,433 tỷ đồng. Giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm đạt 6,077 tỷ đồng (đạt 23% so với kế hoạch giao trong năm); lũy kế từ đầu dự án đạt 6,077 tỷ đồng.

    13.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc

    – Ảnh hưởng của dịch bệnh covid 19-19 nên khó khăn cho đơn vị tư vấn triển khai thực hiện công tác khảo sát lập thiết kế BVTC-DT.

    – Công tác GPMB: Ngày 14/7/2021, Ban QLDA đã bàn giao cọc GPMB cho UBND huyện Lục Nam (UBND huyện giao cho UBND xã Yên Sơn nhận) nhưng đến ngày 30/8/2021, Ban QLDA phải bàn giao lại cọc GPMB lần 2 do UBND huyện giao cho Trung tâm phát triển Quỹ đất và CCN nhận.

    * Nguyên nhân:

      – Công tác GPMB: UBND huyện Lục Nam chưa tập trung thực hiện công tác GPMB, quá trình chỉ đạo, phân công đơn vị thực hiện công tác GPMB chưa phù hợp.

    13.3. Nhận xét đánh giá

    – Công tác GPMB chậm khoảng 01 tháng so với kế hoạch.

    – Công tác lựa chọn nhà thầu khảo sát lập thiết kế BVTC-DT: Hoàn thành 31/8/2021 (đáp ứng kế hoạch tiến độ đề ra);

    13.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – UBND huyện tập trung thực hiện công tác GPMB đảm bảo bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư trong tháng 12/2021.

    – Công tác khảo sát thiết kế BVTC-DT: Hoàn thành phê thiết kế BVTC-DT trong tháng 11/2021;

    – Lựa chọn xong nhà thầu và khởi công công trình trong tháng 12/2021.

    14. Dự án Khối nhà trung tâm, khối nhà chuyên khoa đặc thù, khoa truyền nhiễm và các hạng mục phụ trợ của Bệnh viện Đa khoa tỉnh 

    14.1. Tình hình thực hiện dự án

    * Thủ tục pháp lý: Đã lựa chọn xong nhà thầu thi công Gói thầu số 15.

    * Công tác thi công:

    – Khối nhà trung tâm (15 tầng): Đang tổ chức thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình.

    – Khối nhà Khoa truyền nhiễm (5 tầng): Đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng.

    – Đã hoàn thành thi công xây dựng hạng mục nhà khí y tế, bể chứa nước PCCC và các hạng mục khác

    * Giá trị thực hiện: Giá trị thực hiện gói thầu thi công 9 tháng đầu năm đạt 330,824 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án là 601,155/613,6 tỷ đồng, tỷ lệ đạt 97,96%.

    * Giá trị giải ngân: 9 tháng đầu năm 127,872 /188,1 tỷ đồng đạt 67,96% vốn kế hoạch năm; giá trị giải ngân từ đầu dự án đạt 565,264/625,5 tỷ đồng.

    14.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc: Bệnh viện chưa bàn giao được mặt bằng thi công khối nhà 7 tầng cho chủ đầu tư theo kế hoạch.

    * Nguyên nhân:

    Theo kế hoạch việc sắp xếp, di chuyển các khoa phòng của Bệnh viện tại vị trí xây dựng chuyển sang khối nhà 15 tầng, trong khi khối nhà 15 tầng chưa thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình và đưa công trình vào sử dụng (thẩm quyền của Bộ Xây dựng).

    14.3. Nhận xét đánh giá

    Tiến độ khởi công xây dựng gói thầu số 15 chậm 02 tháng.

    14.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Nghiệm thu hoàn thành công trình và đưa khối nhà 15 tầng vào sử dụng trong tháng 9/2021 (Bộ Xây dựng đã ủy quyền cho Sở Xây dựng thực hiện công tác nghiệm thu công trình). 

    – Khởi công gói thầu số 15 trong tháng 10/2021.

    II. CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC PPP

    1. Dự án Xây dựng ĐT289 kéo dài (đoạn từ thị trấn Chũ đi Đồng Đỉnh, nối QL31 với ĐT293); đường Nguyễn Thị Minh Khai kéo dài; hệ thống tiêu thoát nước và giao thông khu A, B thuộc Khu đô thị phía Nam thành phố Bắc Giang

    1.1. Tiến độ thực hiện:

    a) Dự án BT:

    – Hạng mục công trình ĐT.289 kéo dài: Đã thi công hoàn thành;

    – Hạng mục đường Nguyễn Thị Minh Khai kéo dài: Thi công cơ bản hoàn thành, còn lại sơn vạch kẻ đường và rãnh tam giác.

    * Giá trị khối lượng thực hiện: Giá trị khối lượng thực hiện trong 9 tháng đầu năm đạt 181 tỷ đồng. Tổng giá trị dự án hoàn thành từ đầu dự án đạt 564/769,9 tỷ đồng (tương đương 73,2% giá trị hợp đồng).

    b) Dự án đối ứng (dự án khác):

    * Công tác GPMB: Đã phê duyệt 12 phương án và chi trả được là 27,86/41,88ha; di dời được 587/700 ngôi mộ; bàn giao được 26,38/41,88 ha cho Nhà đầu tư để thi công.

    * Công tác thi công: Đang tiến hành san lấp mặt bằng, đào đất không thích hợp và đắp nền đường.

    * Giá trị khối lượng thực hiện đạt 132,9/587 tỷ đồng (tương đương 22,6% giá trị dự án đối ứng).

    * Công tác thanh toán dự án BT: Đang thực hiện giao đất thanh toán đợt 1 cho Nhà đầu tư.

    1.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân:

    * Khó khăn, vướng mắc:

    – Dự án BT: Công tác GPMB và thi công hệ thống tiêu thoát nước và giao thông khu A, B chậm khoảng 12 tháng.

    – Dự án đối ứng: Tiến độ GPMB chậm 03 tháng so với yêu cầu của Chủ tịch UBND tỉnh.

    * Nguyên nhân:

    a) Dự án BT:

    – Công tác GPMB hạng mục tiêu thoát nước và giao thông Khu A, B của UBND thành phố Bắc Giang còn chậm, kéo dài do các hộ dân thắc mắc về đơn giá bồi thường.

    • Công tác thi công Hạng mục tiêu thoát nước và giao thông khu A, B chậm do công tác GPMB bàn giao chậm 12 tháng.

    b) Dự án đối ứng: Các hộ dân chưa đồng thuận với phương án GPMB.

    1.3. Nhận xét, đánh giá:

    – Nhà đầu tư mới quan tâm đến việc tổ chức thi công các hạng mục của Dự án để đảm bảo yêu cầu tiến độ theo kế hoạch, chưa quan tâm thực hiện các thủ tục có liên quan như: Trình thẩm định, phê duyệt tổng dự toán công trình; chậm  ký kết Phụ lục hợp đồng dự án. Trách nhiệm thuộc về Ban QLDA ĐTXD các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh trong việc đôn đốc, thực hiện hợp đồng dự án và Nhà đầu tư trong việc tổ chức thực hiện.

    – Công tác giải phóng mặt bằng hệ thống tiêu thoát nước và giao thông khu A, B của dự án chậm khoảng 12 tháng do trong quá trình thực hiện dự án nhiều lần phải điều chỉnh bổ sung theo yêu cầu của Nhân dân địa phương, do điều chỉnh quy hoạch thành phố Bắc Giang, đồng thời UBND thành phố chưa quyết liệt GPMB đối với 11 hộ dân còn lại. Trách nhiệm thuộc về UBND thành phố Bắc Giang.

    1.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021:

    a) Dự án BT:

    – Hoàn thành GPMB hạng mục hệ thống tiêu thoát nước và giao thông Khu A, B để bàn giao cho Nhà đầu tư thi công trong tháng 10/2021;

    – Xây dựng kế hoạch đẩy nhanh tiến độ thi công ngay sau khi được bàn giao mặt bằng.

    b) Dự án đối ứng: Thực hiện công tác giao đất và thanh toán đợt 1 cho Nhà đầu tư thực hiện thi công dự án khác.

    2. Dự án Đầu tư nâng cấp, cải tạo tuyến ĐT292 huyện Lạng Giang

    2.1. Tình hình thực hiện dự án:

    a) Dự án BT:

    * Công tác bồi thường GPMB:

    – Đến nay chủ yếu còn GPMB đất ở và công trình công, việc triển khai chậm so với kế hoạch và yêu cầu của Chủ tịch UBND tỉnh.

    * Công tác thi công: Hạng mục cầu cơ bản đảm bảo so với kế hoạch, hạng mục đường chậm so với kế hoạch khoảng 2 tháng.

    * Giá trị khối lượng thực hiện: Giá trị khối lượng thực hiện dự án ước đạt 35,375/165,803 tỷ đồng (đạt 21,34% giá trị dự án BT), trong đó chi phí xây lắp là 29,30 tỷ đồng, chi phí khác 3,985 tỷ đồng; GPMB đạt 2,1 tỷ đồng.

    b) Dự án đối ứng dự án BT:

    * Thủ tục pháp lý: Nhà đầu tư đang trình Sở Xây dựng thẩm định dự án, đang hoàn thiện công tác lập đánh giá tác động môi trường để trình thẩm định.

    2.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân:

    – Công tác GPMB: Công tác GPMB đất thổ cư chậm do việc cấp GCNQSD đất và giao đất những năm trước không rõ ràng về ranh giới, hình dạng thửa đất, nhiều thửa đất không phù hợp với hiện trạng sử dụng.

    – Công tác thi công: Tiến độ thi công bị ảnh hưởng do thi công nền đường mở rộng vào mùa mưa. Mặt khác, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 phải tạm dừng thi công.

    2.3. Nhận xét, đánh giá:

    a) Đối với dự án BT:

    – Công tác GPMB: Mặt bằng thi công tuy có vướng mắc các hộ đất ở và các hạng mục công trình công, song đến thời điểm hiện tại cơ bản đảm bảo mặt bằng để Nhà đầu tư thi công theo kế hoạch.

    – Về tiến độ thi công: Tiến độ thi công dự án chậm khoảng 02 tháng so với kế hoạch. Trách nhiệm thuộc Nhà đầu tư và UBND huyện Lạng Giang.

    b) Đối với dự án khác: Công tác chuẩn bị đầu tư thực hiện chậm. Trách nhiệm thuộc Nhà đầu tư.

    2.4 . Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021:

    a) Đối với dự án BT:

    – Hoàn thành GPMB đất ở xong trong tháng 10/2021; hoàn thành dịch chuyển công trình công trong tháng 9/2021.

    – Đôn đốc Nhà đầu tư tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ thi công các hạng mục công trình trên phần tuyến.

    b) Dự án khác:

    – Nhà đầu tư phối hợp với các đơn vị liên quan hoàn thiện hồ sơ trình phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi trong tháng 10/2021.

    – Tập trung cao thực hiện công tác bồi thường GPMB dự án, trong đó hoàn thành đất nông nghiệp trước 31/12/2021.

    3. Dự án Xây dựng đường vành đai thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn

    3.1. Tình hình thực hiện:

    a) Dự án BT:

    – Công tác GPMB: Đanng triển khai thông báo thu hồi đất.

    – Công tác thi công: Chưa triển khai (dự kiến khởi công trong tháng 10/2021).

    b) Dự án đối ứng BT: Nhà đầu tư đang triển khai lập chủ trương đầu tư dự án thuộc Khu đô thị mới phía Tây thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn.

    3.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân:

    – Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên việc tổ chức họp dân, kiểm đếm lập phương án bồi thường GPMB dự án và công tác rà phá bom mìn chưa thực hiện được.

    – Chưa khởi công xây dựng công trình do chưa có mặt bằng.

    3.3. Nhận xét, đánh giá:

    Tiến độ GPMB dự án BT đang chậm khoảng 30 ngày; công tác rà phá bom mìn, khởi công xây dựng và triển khai thi công chậm do chưa có mặt bằng thi công. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Lục Ngạn và Nhà đầu tư.

    3.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021:

    a) Dự án BT:

    – Công tác GPMB:Thực hiện GPMB, bàn giao để thi công khoảng 1,0Km xong trước ngày 30/9/2021. Các đoạn còn lại xong trong năm 2021.

    – Công tác thi công: Khởi công công trình, dự kiến trước ngày 15/10/2021.

    b) Dự án đối ứng:

    – Trình thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư dự án khác trước 15/10/2021.

    – Lập, trình thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi dự án trước 30/11/2021.

    4. Dự án Xây dựng một số trục đường giao thông trên địa bàn huyện Yên Dũng

    4.1. Tình hình thực hiện

    a) Dự án BT:

    * Công tác GPMB:

    – Tuyến Lê Đức Trung: Đã bàn giao mặt bằng (không phải giản phóng).

    –  Tuyến Hoàng Hoa Thám: Đã giải phóng và bàn giao một phần diện tích (với diện tích khoảng 16.820m2) cho Nhà đầu tư để tổ chức thi công; đoạn còn lại liên quan đến khoảng 251 hộ đã đo vẽ xong ranh giới GPMB và và chỉnh lý bản đồ xong.

    – Tuyến Trần Nhân Tông: Đã đo vẽ xong ranh giới GPMB với diện tích khoảng 16.058m2, đang rà soát nguồn gốc sử dụng đất, quy chủ lập phương án.

    * Công tác thi công: Đã thi công cơ bản xong tuyến đường Lê Đức Trung; tuyến đường Trần Nhân Tông: chưa triển khai thi công; tuyến Hoàng Hoa Thám: Thi công đào, đắp nền đường, thi công cấp phối đá dăm loại II và lắp đặt cống dọc thoát nước.

    * Giá trị khối lượng thực hiện: Giá trị thực hiện dự án đạt 12,7 tỷ đồng, tương ứng 14,87%.

    b) Dự án đối ứng: Đang trình đề xuất chủ trương đầu tư dự án.

    4.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân:

    a) Dự án BT:

    – Dự án gồm 03 tuyến đường giao thông chạy qua khu vực trung tâm thị trấn Nham Biền nên công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn.

    – Do trong thời gian vừa qua tình hình dịch Covid – 19 diễn biến phức tạp, toàn huyện Yên Dũng phải thực hiện cách ly xã hội nên Nhà đầu tư đã tạm dừng triển khai thi công từ ngày 21/5/2021 đến tháng 7/2021.

    b) Dự án khác: Thực hiện thủ tục chuẩn bị đầu tư dự án khác chậm.

    4.3. Nhận xét, đánh giá:

    a) Dự án BT: Tiến độ GPMB chậm khoảng 05 tháng so với kế hoạch. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Yên Dũng.

    b) Dự án đối ứng: Tiến độ thực hiện lập dự án đối ứng chậm khoảng 03 tháng. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Yên Dũng và Nhà đầu tư.

    4.4. Kế hoạch thực hiện trong quý IV/2021

    a) Dự án BT:

    – Giải phóng mặt bằng toàn bộ dự án xong trước 31/12/2021.

    – Tổ chức thi công theo đúng nội dung Hợp đồng được ký kết.

    b) Dự án đối ứng: Trình phê duyệt chủ trương đầu tư và lập hồ sơ báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đối ứng dự án BT.

    5. Dự án nhà máy xử lý rác thải và phát điện thành phố Bắc Giang

    5.1. Tình hình thực hiện:

    Hiện nay, UBND thành phố đang phối hợp với các cơ quan xem xét xử lý tài sản trên đất trong phạm vi dự án. 

    5.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân:

    Dự án chưa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào quy hoạch Điện lực Quốc gia.

    5.3. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021:

    – Bám sát theo ý kiến tham thẩm định bổ sung quy hoạch điện lực của các Bộ, ngành để hoàn thiện hồ sơ trình Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt.

    – Xây dựng giá khởi điểm, phương án đấu giá trình UBND tỉnh phê duyệt, tổ chức đấu giá lựa chọn nhà đầu tư sau khi được phê duyệt vào quy hoạch Điện lực Quốc gia.

    III. CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    1. Dự án Nhà máy nhiệt điện An Khánh – Bắc Giang

    1.1. Tình hình thực hiện dự án:

    Giá trị khối lượng thực hiện theo báo cáo của Nhà đầu tư đạt 3.729 tỷ đồng (đạt 16,5% tổng vốn đầu tư), không tăng từ năm 2019 trở lại đây.

    1.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Khó khăn lớn nhất hiện nay của dự án là việc huy động nguồn vốn vay (khoảng 753 triệu USD).

    1.3. Đánh giá, nhận xét: Đến nay, dự án đã chậm tiến độ hoàn thành thủ tục thuê đất so với quyết định chủ trương đầu tư là 49 tháng (từ tháng 6/2017 đến tháng 9/2021), hiện tại dự án mới được UBND tỉnh cho thuê đất với diện tích 11,7ha/89,7ha (chiếm 13%). Phần diện tích đã GPMB (khoảng 32,21ha) chưa được thuê do tiến độ hoàn thành thủ tục thuê đất tại Quyết định chủ trương đầu tư đã hết (tháng 6/2017). Nhà đầu tư đã nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án, hiện nay Sở Kế hoạch và Đầu tư đang xem xét, xử lý. Trách nhiệm để xảy ra việc chậm tiến độ huy động vốn, chậm tiến độ thực hiện dự án thuộc Nhà đầu tư.

    1.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: Yêu cầu Nhà đầu tư hoàn thiện việc huy động nguồn vốn vay với ngân hàng thương mại trong quý IV/2021 để triển khai thi công xây dựng hạng mục nhà máy chính của dự án từ tháng 12/2021. Hoàn thành điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án trong tháng 9/2021 để hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích đất đã GPMB trong tháng 10/2021 và hoàn thành công tác bồi thường GPMB khu bãi xỉ 35ha trong năm 2021. Bên cạnh đó, UBND tỉnh sẽ giao các cơ quan chuyên phối hợp với Nhà đầu tư tiếp tục đề xuất các Bộ, ngành có liên quan tháo gỡ khó khăn trong chính sách hoàn thuế VAT.

    2. Dự án Xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Hòa Phú

    2.1. Tình hình thực hiện dự án:

    Đến nay, dự án đã GPMB đạt khoảng 187,3 ha (tăng 7,3ha so với quý II/2021) còn lại 20,15ha đang tiến hành công tác GPMB; tổng số tiền chi trả đạt đến nay đạt 414 tỷ đồng (tăng 19 tỷ đồng so với quý II/2021). Đã được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất 05 đợt với tổng diện tích 129,5ha (tăng 12ha so với quý II/2021), chủ đầu tư đang phối hợp với UBND huyện Hiệp Hòa GPMB phần diện tích còn lại. Đã hoàn thành xây dựng hạ tầng kỹ thuật giai đoạn I của dự án trên diện tích 82 ha (đạt 100%); giai đoạn II (125,45ha) đã xây dựng cơ bản đồng bộ hạ tầng kỹ thuật đối với diện tích 105ha (đã GPMB xong), xây dựng và đưa vào sử dụng Nhà máy xử lý nước sạch công suất 2.000 m3/ngày đêm, Nhà máy xử lý nước thải công suất 2.000 m3/ngày đêm. Chủ đầu tư đang tiếp tục hoàn thiện các hạng mục hạ tầng còn đang dở dang.

    Tính đến nay, đã thu hút được 19 dự án đầu tư trong đó có 12 dự án FDI với số vốn đăng ký đạt 252,85 triệu USD và 07 dự án đầu tư trong nước với số vốn đăng ký đạt 2.908,3 tỷ đồng (không tăng so với quý II/2021). Tổng số lao động hiện nay tại KCN khoảng 500 lao động. Tổng vốn đầu tư thực hiện trong quý đạt 32 tỷ đồng.

    2.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Công tác bồi thường GPMB còn nhiều khó khăn, vướng mắc, nhiều thửa ruộng vẫn trong tình trạng xen kẹp, “xôi đỗ” nên chưa thể triển khai thi công. Ngoài ra, việc bán đất thuộc dự án trái thẩm quyền qua nhiều thời kỳ dẫn đến việc xác định nguồn gốc, chủ sử dụng diện tích đất nằm trong khu vực thực hiện dự án gặp khó khăn. Công tác BT, GPMB của dự án chậm thuộc trách nhiệm của UBND huyện Hiệp Hòa.

    2.3. Đánh giá, nhận xét: Sau khi dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh được kiểm soát, Chủ đầu tư đã tích cực phối hợp với các cơ quan có liên quan hoàn thành thủ tục thuê đất đợt 6 với diện tích 12ha và hoàn thành GPMB được thêm 7,3ha. Giá trị thực hiện Quý III/2021 tăng 32 tỷ đồng so với quý II/2021, tổng giá trị thực hiện trong 9 tháng đầu năm 2021 đạt khoảng 102 tỷ đồng. Đến nay, dự án đang triển khai thực hiện đảm bảo theo tiến độ mặt bằng được bàn giao. Đã cơ bản lấp đầy phần diện tích đất công nghiệp được UBND tỉnh cho thuê.

    2.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND huyện Hiệp Hòa tập trung cao chỉ đạo các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ GPMB phần diện tích còn lại, bàn giao toàn bộ mặt bằng cho Nhà đầu tư trong tháng 11/2021; yêu cầu nhà đầu tư phối hợp với các cơ quan có liên quan hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích đã hoàn thành GPMB trong tháng 10/2021.

    3. Dự án Hạ tầng, kho bãi trung tâm Logistics quốc tế TP Bắc Giang

    3.1. Tình hình thực hiện dự án: Đã hoàn thành GPMB; thi công xong đắp đất san nền K90, thi công hệ thống hạ tầng giao thông đạt 69%, thi công xong các hạng mục cấp điện, hệ thống cấp nước đạt 70%.

    3.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Đến nay Công ty Cổ phần BOT Hà Nội – Bắc Giang vẫn chưa phối hợp bàn giao mặt bằng để thi công đấu nối từ dự án với QL1.

    3.3. Đánh giá, nhận xét: Công tác GPMB còn chậm so với kế hoạch và chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh, trách nhiệm thuộc UBND thành phố Bắc Giang. Công tác thi công các hạng mục công trình rất chậm; tiến độ góp vốn của Nhà đầu tư vào triển khai thực hiện dự án chậm. Trách nhiệm trong việc chậm triển khai thực hiện thuộc Nhà đầu tư.

    3.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh sẽ chỉ đạo Sở Giao thông vận tải phối hợp hỗ trợ Nhà đầu tư làm việc với Công ty Cổ phần BOT Hà Nội – Bắc Giang thực hiện bàn giao tuyến đấu nối của dự án với QL1 và giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan kiểm tra, xem xét tiến độ góp vốn của Nhà đầu tư, xử lý vi phạm (nếu có). Đồng thời, yêu cầu Nhà đầu tư hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích còn lại trong tháng 10/2021.

    4. Dự án Cụm cảng hàng hóa tổng hợp, chế biến than, khu liên hợp chế tạo thiết bị cơ khí, sản xuất gỗ MDF

    4.1. Tình hình thực hiện dự án: Tổng vốn đầu tư đã thực hiện từ đầu dự án đến nay ước đạt khoảng 626,9 tỷ đồng/2.146 tỷ đồng (chiếm 29,2%) không thay đổi từ Quý IV/2019 đến nay.

    4.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Do gặp khó khăn trong công tác huy động vốn. Nguyên nhân chủ yếu do hạn chế về năng lực tài chính của Nhà đầu tư.

    4.3. Đánh giá, nhận xét: Đến nay dự án đã chậm tiến độ khởi công xây dựng các hạng mục công trình còn lại của dự án 14 tháng (từ tháng 7/2020 đến tháng 9/2021). Đồng thời, trong 9 quý gần dây dự án không triển khai thực hiện. Trách nhiệm để xảy ra việc chậm tiến độ thực hiện dự án thuộc Nhà đầu tư.

    4.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh sẽ tổ chức làm việc với Nhà đầu tư để làm rõ khả năng thực hiện dự án và kế hoạch triển khai thực hiện dự án trong thời gian tới, thời gian dự kiến trong tháng 9/2021. Đồng thời, yêu cầu Nhà đầu tư hoàn thiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 của dự án trong tháng 10/2021 gửi về Sở Xây dựng xem xét, thẩm định và yêu cầu Nhà đầu tư cam kết thực hiện dự án theo đúng tiến độ được điều chỉnh, nếu quá thời hạn tự nguyện chấm dứt hoạt động dự án.

    5. Dự án Đầu tư xây dựng kho cảng tổng hợp Petro Bình Minh

    5.1. Tình hình thực hiện dự án: Đang thực hiện GPMB, cụ thể:

    – Thôn Đạo Ngạn 2 100% số hộ đã ký hồ sơ quy chủ và nhận tiền bồi thường, GPMB.

    – Thôn Nam Ngạn 70/131 hộ ký hồ sơ quy chủ và nhận tiền bồi thường, hỗ trợ GPMB  (1,3 ha/3,36 ha).

    Tổng số tiền Chủ đầu tư đã ứng chi trả cho công tác bồi thường, GPMB là 13,7 tỷ đồng (thôn Nam Ngạn là 3 tỷ đồng, thôn Đạo Ngạn 2 là 10,7 tỷ đồng).

    5.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Hiện tại, phần diện tích đất thuộc thôn Nam Ngạn còn lại chưa hoàn thành việc quy chủ, kê khai, trả tiền bồi thường GPMB đối với 61 hộ gia đình có đất và 58 ngôi mộ thuộc phạm vi dự án. Do đây là khu vực ngập nước nên khó xác định diện tích đất của từng hộ gia đình, cá nhân có đất thuộc phạm vi dự án. Bên cạnh đó trong quá trình triển khai thực hiện các hộ gia đình không hợp tác cung cấp hồ sơ, giấy tờ có liên quan để xác định diện tích của các hộ.

    5.3. Đánh giá, nhận xét: Đến nay, dự án đã chậm tiến độ hoàn thành thủ tục thuê đất 21 tháng (từ tháng 11/2019 đến tháng 9/2021), chậm tiến độ hoàn thành giai đoạn I của dự án 15 tháng (từ tháng 6/2020 đến tháng 9/2021), chậm hoàn thành khởi công xây dựng các hạng mục công trình giai đoạn II của dự án 14 tháng (từ tháng 7/2020 đến tháng 9/2021) so với tiến độ đã được phê duyệt do công tác GPMB gặp nhiều khó khăn. Mặc dù, UBND huyện Việt Yên đã tích cực tập trung tuyên truyền vận động để thực hiện công tác GPMB đạt kết quả cao hơn so với kế hoạch nhưng tính đến nay công tác GPMB của dự án là rất chậm. Trách nhiệm chủ yếu thuộc UBND huyện Việt Yên.

    5.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh sẽ chỉ đạo UBND huyện Việt Yên tiếp tục đẩy nhanh tiến độ GPMB đối với phần diện tích còn lại của dự án, vận động sự ủng hộ của người dân, hoàn thành GPMB toàn bộ dự án trong năm 2021. Yêu cầu Nhà đầu tư hoàn thiện thủ tục điều chỉnh dự án (trong đó điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án) trong tháng 10/2021.

    6. Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Việt Hàn

    6.1. Tình hình triển khai thực hiện:

    Về công tác GPMB: Đã ban hành thông báo thu hồi đất, đang thực hiện công tác kiểm kê đạt 185/600 hộ tương ứng 16/50ha; lũy kế đến nay đã bồi thường GPMB được khoảng 43,5/50ha (496/600 hộ).

    6.2. Đánh giá, nhận xét: Dự án cơ bản triển khai thực hiện đảm bảo theo Kế hoạch của UBND tỉnh.

    6.3. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo UBND huyện Việt Yên hoàn thành chi trả, bồi thường GPMB, bàn giao mặt bằng cho Nhà đầu tư. Yêu cầu chủ đầu tư phối hợp với UBND huyện Việt Yên sớm hoàn thiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê đất đối với phần diện tích đã hoàn thành GPMB; đẩy nhanh tiến độ lập báo cáo nghiên cứu khả thi trình Bộ Xây dựng thẩm định trong tháng 10/2021 và thực hiện các thủ tục cấp Giấy phép xây dựng; khởi công xây dựng các hạng mục công trình trong tháng 12/2021.

    7. Dự án Sân Golf và nghỉ dưỡng Bắc Giang

    7.1. Tình hình triển khai thực hiện: Đã thực hiện chi trả tiền bồi thường, diện tích 104,3ha/140ha; còn lại 17 hộ gia đình, cá nhân chưa nhận tiền do chưa đồng thuận với phương án BT, GPMB đã được phê duyệt. Ngoài ra, đã thực hiện chi trả được 73/81 ngôi mộ đạt 90,1% và đã hoàn thành việc di dời 73 ngôi mộ này ra khỏi khu đất thực hiện dự án. Đến nay, dự án đã được UBND tỉnh cho thuê đất (đợt 1) với diện tích 275.825,6m2 (khoảng 27,6ha), Chủ đầu tư đang tiến hành thi công rà phá bom mìn.

    7.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Công tác BT, GPMB và bàn giao mặt bằng còn xôi đỗ nên chưa được thuê đất đối với phần diện tích đã GPMB nhưng không liền thửa, liền khoảnh ảnh hưởng đến tiến độ triển khai xây dựng các hạng mục công trình chính của dự án như khu nhà Club House, nhà bảo trì. Bên cạnh đó, việc thu dọn tài sản (bán cây lâm nghiệp) của một số hộ gia đình còn chậm. Liên quan 17 hộ gia đình, cá nhân chưa đồng ý với phương án GPMB thuộc diện tái định cư hiện nay chưa thực hiện khảo sát giá để thực hiện chi trả do tại vị trí thu hồi chưa có giao dịch chuyển nhượng làm cơ sở tham chiếu, ngoài ra giá trị các thửa đất ở tại các xã không đồng nhất nên việc xác định giá đất ở của 3 xã chưa được thống nhất. Việc di dời một số công trình xây dựng (lò đốt than, trang trại chăn nuôi vịt) từ trước ngày 01/7/2014 đến nay còn khó khăn do các hộ gia đình chưa đồng ý. Việc xác định nguồn gốc đất đối với phần diện tích đất thuỷ sản thuộc dự án còn khó khăn. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Lục Nam.

    7.3. Đánh giá, nhận xét: Công tác GPMB một số hạng mục còn chậm và chưa có tiến triển rõ rệt đặc biệt là việc quy chủ, xác định nguồn gốc, loại đất đối với diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản và đất ở trong phạm vi sân golf Lục Nam. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Lục Nam.

    7.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh sẽ chỉ đạo UBND huyện Lục Nam khẩn trương xác định rõ diện tích thu hồi, giá đất đối với phần diện tích 2,2ha đất ở, đất trồng cây lâu năm và phần đất nuôi trồng thủy sản còn lại để hoàn thành việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trước ngày 30/9/2021; hoàn thành GPMB toàn bộ diện tích đất thực hiện dự án, bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư trong tháng 10/2021. Yêu cầu chủ đầu tư khẩn trương hoàn thiện thi công rà phá bom mìn để khởi công xây dựng trước ngày 30/9/2021.

    8. Dự án Sân Golf Việt Yên

    8.1. Tình hình triển khai thực hiện dự án: Đã GPMB diện tích 111,5ha và 371/423 ngôi mộ. Đối với diện tích tại xã Trung Sơn (121ha của 258 hộ) đã thu hồi đất 3 đợt với diện tích 93,6ha và được UBND tỉnh cho thuê đất 02 đợt diện tích 52,3ha; đang hoàn thiện thủ tục thẩm định thuê đất đợt 3 với diện tích 40,01ha. Đối với xã Hương Mai (diện tích 18,9ha) hiện tại chi trả được 50/52 hộ với diện tích 17,88ha. Nhà đầu tư đã tiến hành khởi công xây dựng các hạng mục công trình, vận chuyển đất dư thừa và các hạng mục phụ trợ.

    8.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Dự án đang gặp khó khăn trong công tác GPMB: Đối với 08 hộ nằm trong chỉ giới thu hồi đất ở (02 hộ tại thôn Dĩnh Sơn, 03 hộ thuộc thôn Sơn Hải, 03 hộ thôn Tân Sơn) đã thực hiện kiểm kê, kiểm đếm nhưng các hộ dân này chưa cung cấp GCNQSDĐ gây khó khăn trong việc xác định vị trí, diện tích tăng thêm so với GCNQSDĐ đã được cấp. Về đất rừng thuộc dự án, một số hộ có vướng mắc về chế độ chính sách bồi thường (03 hộ thuộc thôn Tân Sơn chưa xác định được thời điểm trồng cây sưa); về đất vườn còn 20 hộ thuộc thôn Dĩnh Sơn chưa nhất trí việc xác định loại đất lập phương án BT, GPMB là đất rừng, một số hộ có ý kiến về việc tính giá cây trồng trên đất thấp. Bên cạnh đó, một phần diện tích đất hiện trạng là đất ao thuỷ sản chưa xác định được nguồn gốc đất; ngoài ra một số hộ có diện tích chồng lấn bao gồm hộ ông Trần Xuân Hoàn thôn Khả Lý Thượng xã Quảng Minh và các hộ thôn Núi. Việc di chuyển 37 ngôi mộ có chủ của 28 hộ dân thuộc nghĩa trang thôn Sơn Hải khó khăn do các hộ dân không đồng thuận.

    8.3. Đánh giá, nhận xét: Công tác GPMB và thuê đất cơ bản đảm bảo tiến độ theo kế hoạch. Công tác thi công xây dựng các hạng mục công trình chính của dự án đang chậm so với kế hoạch đề ra do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai thi công (vận chuyển đất dư thừa từ dự án) để xảy ra tình trạng mất an toàn giao thông do sử dụng các xe vận chuyển đất với tải trọng lớn, cơi nới thành thùng xe. Trách nhiệm thuộc Nhà đầu tư.

    8.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: Chỉ đạo UBND huyện Việt Yên tập trung cao, hoàn thành GPMB trong tháng 12/2021, đồng thời giao UBND huyện Việt Yên chủ trì giám sát việc thi công xây dựng của dự án kịp thời phát hiện các sai phạm của Nhà đầu tư để xử lý hoặc kiến nghị xử lý đảm bảo theo quy định không để ảnh hưởng đến khu vực xung quanh; các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh yêu cầu Nhà đầu tư hoàn thành thi công xây dựng tường rào bao quanh dự án xong trước 15/10/2021, khởi công xây dựng các hạng mục công trình chính của dự án trước ngày 30/9/2021.

    9. Dự án Quần thể Khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái thể thao và vui chơi giải trí FLC Bắc Giang tại hồ Khuôn Thần

    9.1. Tình hình thực hiện: UBND huyện Lục Ngạn đã phối hợp với đơn vị tư vấn hoàn thiện xong nhiệm vụ Quy hoạch chi tiết Khu đô thị, du lịch sinh thái thể thao Khuôn Thần tại xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỷ lệ (1/500); ngày 09/9/2021 UBND huyện Lục Ngạn đã đề nghị Sở Xây dựng thẩm định, phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch chi tiết dự án (tỷ lệ 1/500).

    9.2. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh chỉ đạo Sở Xây dựng phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch chi tiết Khu đô thị, du lịch sinh thái thể thao Khuôn Thần tại xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỷ lệ (1/500), thời gian xong trong tháng 9/2021. Đôn đốc UBND huyện Lục Ngạn phối hợp với Chủ đầu tư tổ chức lập Quy hoạch chi tiết, trình Sở Xây dựng thẩm định, dự kiến xong trong tháng 10/2021 để tổ chức thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch chi tiết, dự kiến xong trong tháng 11/2021.

    10. Dự án Khu du lịch Tâm linh – Sinh thái Tây Yên Tử

    10.1. Tình hình triển khai thực hiện dự án: Tổng diện tích đất đã thu hồi đến nay đạt 78,6ha/136,36 ha tăng 15,46ha. Đến nay, dự án đã được UBND tỉnh cho thuê đất với tổng diện tích 42,51ha. Lũy kế giá trị thực hiện đến nay đạt 1.108,906 tỷ đồng.

    10.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng rất chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu; công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chưa có hiệu quả, một số hộ dân có những yêu cầu việc bồi thường, GPMB không đúng quy định; trách nhiệm thuộc UBND huyện Sơn Động.

    10.3. Nhận xét, đánh giá: Dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án, theo đó dự án hoàn thành đi vào hoạt động toàn bộ từ quý IV/2024. Tuy nhiên, tính đến nay công tác GPMB và bàn giao mặt bằng còn xôi đỗ và rất chậm so với tiến độ đã được phê duyệt và kế hoạch đề ra, trách nhiệm thuộc UBND huyện Sơn Động. Đồng thời, việc hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích đã hoàn thành GPMB, việc điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng dự án chậm so với kế hoạch. Trách nhiệm thuộc Nhà đầu tư.

    10.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh sẽ chỉ đạo UBND huyện Sơn Động khẩn trương chỉ đạo các cơ quan có liên quan hoàn thành công tác GPMB toàn bộ diện tích đất dự án trong Quý IV/2021; yêu cầu Chủ đầu tư khẩn trương hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích đã hoàn GPMB thời gian xong trong tháng 11/2021 và hoàn thành thủ tục phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết dự án trong tháng 12/2021 để khởi công xây dựng các hạng mục công trình giai đoạn 2,3 của dự án trong tháng 12/2021.

  • Tình hình thực hiện các dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm; nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    Tình hình thực hiện các dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm; nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    Thực hiện chương trình công tác tháng 9/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện các dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm; nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021 với các nội dung như sau:

    I. CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG

    1. Dự án Phát triển các đô thị dọc hành lang tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) lần 2, vay vốn ADB – Dự án thành phần tỉnh Bắc Giang

    1.1Tình hình thực hiện

    – Các gói thầu xây lắp cơ bản đã hoàn thành.

    – Giá trị khối lượng thực hiện 9 tháng đầu năm ước đạt 50,256 tỷ đồng; Lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay đạt 502,190/542,790 tỷ đồng, tương đương 92%.

    – Lũy kế bố trí kế hoạch vốn đến nay đạt 594,964 tỷ đồng; giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm đạt 37,046 tỷ đồng; lũy kế giá trị giải ngân toàn dự án 411,577 tỷ đồng, tương đương 69,18%.

    – Hiện nay, Chủ tịch UBND tỉnh đã phê duyệt điều chỉnh, bổ sung dự án.

    1.2. Khó khăn, vướng mắc

    Bộ Tài chính chưa làm việc với Ngân hàng phát triển Châu Á để gia hạn thời gian đóng khoản vay do chờ Quyết định phê duyệt điều chỉnh, bổ sung dự án.

    1.3. Nhận xét đánh giá

    – Tiến độ thực hiện các gói thầu xây lắp của dự án cơ bản đã đảm bảo;

    – Việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung dự án chậm khoảng 20 ngày so với kế hoạch do tiếp tục nghiên cứu phương án thiết kế đảm bảo kết nối liên thông cầu Á Lữ với đê tả và đê hữu sông thương và phương án tổng thể kết nối khu vực phía Tây với khu vực trung tâm của thành phố thông qua công trình Cầu Á Lữ.

    1.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – UBND thành phố Bắc Giang phối hợp, bám sát Bộ Tài chính đề nghị Ngân hàng phát triển Châu Á xem xét gia hạn ngày đóng khoản vay đến ngày 30/6/2023.

    – Phê duyệt thiết kế BVTC-DT hạng mục cầu Á Lữ và đường dẫn phía Tây thành phố Bắc Giang; tổ chức triển khai công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp và khởi công công trình.

    2. Tiểu dự án sửa chữa và nâng cao an toàn hồ đập (WB8) tỉnh Bắc Giang

    2.1. Tình hình thực hiện dự án

    a. Thủ tục pháp lý

    – Đã điều chỉnh bổ sung thiết kế BVTC-DT một số hạng mục công trình của 04 hồ Lục Nam; đang thẩm định, phê duyệt điều chỉnh bổ sung thiết kế BVTC-DT một số hạng mục công trình của 07 hồ còn lại.

    b. Công tác GPMB

    – Huyện Lục Ngạn đang lập phương án GPMB hồ Đồng Man và hồ Bầu Lầy.

    – Huyện Lục Nam (04 hồ: Khe Cát, Khe Ráy, Ba Bãi, Chùa Ông) đang trình phê duyệt giá để làm căn cứ lập phương án chi tiết.

    – Huyện Yên Thế đã trình phương án GPMB ngày 31/8/2021 (02 hồ: hồ Chồng Chềnh, hồ Chín Suối).

    c. Công tác thi công:

    Đang triển khai thi công 11/11 công trình, một số hạng mục bị chậm tiến độ: Đập phụ số 03 và nhà quản lý hồ Bầu Lầy, nhà quản lý hồ Đồng Man. Một số hồ nguy cơ cao chậm tiến độ so với kế hoạch gồm: hồ Chùa Ông, Ba Bãi, Khe Cát do đến nay vẫn chưa GPMB.

    d. Tổng giá trị thực hiện 9 tháng đầu năm là 80,5 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án là 127,5/175 tỷ đồng đạt 72,8%.

    đ. Giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm 2021 là 44,383/67,590 tỷ đồng, đạt 65,6%; lũy kế giá trị giải ngân từ đầu dự án đến nay đạt 103,995 tỷ đồng.

    2.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc:

    – Công tác GPMB: Tiến độ thực hiện công tác GPMB của các huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế chậm.

    – Công tác thi công: Mực nước hồ lên cao đã ảnh hưởng đến tiến độ thi công.

    * Nguyên nhân:

    – Công tác GPMB:

    + Chủ đầu tư chậm trễ trong việc triển khai trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

    + UBND các huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế chưa tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện GPMB.

    – Công tác thi công: Tiến độ thi công các hồ chậm do ảnh hưởng của tiến độ GPMB, thời tiết mùa mưa và tình hình dịch Covid-19.

    2.3. Nhận xét, đánh giá

    – Theo kế hoạch hoàn thành công tác GPMB trong tháng 8/2021, tuy nhiên đến nay vẫn chưa hoàn thành (chậm so với kế hoạch 01 tháng). Trách nhiệm thuộc về Chủ đầu tư và UBND các huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Yên Thế.

    – Công tác thi công: Tiến độ thi công một số hạng mục chậm khoảng 01 tháng so với kế hoạch. Trách nhiệm thuộc về Chủ đầu tư.

    2.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Chỉ đạo UBND các huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Yên Thế tập trung thực hiện GPMB bàn giao cho chủ đầu tư trong tháng 9/2021.

    – Yêu cầu Chủ đầu tư đôn đốc chỉ đạo các nhà thầu thi công công trình đảm bảo hoàn thành các hồ chứa trong tháng 11/2021.

    3. Dự án cải tạo, nâng cấp ĐT289 đoạn Chũ – Khuôn Thần, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

    3.1. Tình hình thực hiện dự án

    – Đã thi công hoàn thành giai đoạn 1 đoạn từ Km0-Km5+500; được nghiệm thu đưa vào sử dụng ngày 09/9/2021.

    – Tổng giá trị thực hiện lũy kế từ đầu dự án 167,5/214 tỷ đồng (đạt 78%). Đã giải ngân 100% kế hoạch vốn đã bố trí cho dự án 98,5 tỷ đồng. Bên cạnh đó, dự án được ứng vốn từ Quỹ phát triển đất tỉnh 34,6 tỷ đồng, đã giải ngân 29,16/34,6 tỷ đồng.

    3.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

    * Khó khăn vướng mắc: Nguồn vốn bố trí còn thiếu khoảng 68 tỷ đồng.

    3.3. Nhận xét, đánh giá

    Dự án triển khai giai đoạn 1 đúng kế hoạch.

    3.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    Trình HĐND tỉnh quyết định dừng thực hiện giai đoạn 2 của dự án và thực hiện quyết toán dự án.

    4. Dự án Nâng cấp, mở rộng đường gom bên phải tuyến cao tốc Hà Nội – Bắc Giang đoạn từ cầu vượt QL37 đến cầu vượt QL17, tỉnh Bắc Giang

    4.1. Tình hình thực hiện dự án

    – Công tác GPMB: Đã hoàn thành.

    – Công tác thi công: Đã thi công cơ bản hoàn thành, còn lại hộ nan tôn lượn sóng nhánh 2 nút giao QL37.

    – Giá trị khối lượng thực hiện 9 tháng đầu năm đạt 120,34 tỷ đồng; lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay đạt đạt 142,59 tỷ đồng. Giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm đạt 74,293 tỷ đồng, lũy kế từ đầu dự án đạt 120,173/152,6 tỷ đồng.

    4.2. Khó khăn, vướng mắc: Không.

    4.3. Nhận xét, đánh giá

    Dự án triển khai đảm bảo kế hoạch.

    4.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: Hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sử dụng và thực hiện quyết toán dự án.

    5. Dự án Đầu tư xây dựng cầu Chũ trên ĐT289 kéo dài huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

    5.1. Tình hình thực hiện dự án

    – Công tác GPMB: Đã hoàn thành.

    – Công tác thi công: Hoàn thành đưa vào sử dụng ngày 09/9/2021.

    – Tổng giá trị thực hiện 9 tháng đầu năm là 163,76 tỷ đồng; lũy kế giá trị thực hiện dự án là 177,11; lũy kế giải ngân từ đầu dự án là 110,6/110,6 tỷ đồng (đạt 100% kế hoạch vốn giao).

    5.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

    * Khó khăn vướng mắc: Không.

    5.3. Nhận xét, đánh giá

    Tiến độ thực hiện dự án nhanh hơn so với kế hoạch khoảng 9 tháng.

    6. Dự án Nâng cấp, mở rộng đường gom bên trái tuyến QL1 đoạn từ nút giao QL31 đến nút giao Hùng Vương và cải tạo nút giao Hùng Vương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

    6.1. Tình hình thực hiện dự án

    – Công tác GPMB: Phần đường gom đã hoàn thành 2,65/2,67Km; hiện tại còn vướng mắc 06 mộ với chiều dài tuyến 20m.

    – Công tác thi công: Đã cơ bản hoàn thành còn lại 20m chiều dài tuyến vướng mộ chưa thi công.

    – Giá trị khối lượng thực hiện 9 tháng đầu năm là 45,76 tỷ đồng; lũy kế từ giá trị hoàn thành dự án 68,77 tỷ đồng; giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm 28,035 đồng, lũy kế giá trị giải ngân từ đầu dự án đến nay đạt 62,228/80,3 tỷ đồng.

    – Đã phê duyệt điều chỉnh, bổ sung dự án (mở rộng công trình cầu Hùng Vương mỗi bên 4m và điều chỉnh nhánh nút giao).

    6.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn vướng mắc: Còn vướng mắc 06 ngôi mộ chưa di chuyển, trong đó có 04 ngôi mộ nằm trong phạm vi mặt đường;

    * Nguyên nhân: UBND thành phố chưa quyết liệt giải quyết dứt điểm vướng mắc đối với 06 ngôi mộ.

    6.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác GPMB: Theo nhiệm vụ, giải pháp khắc phục tồn tại của dự án tại kỳ kiểm điểm tình hình thực hiện các dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2021, UBND thành phố phải hoàn thành công tác GPMB của dự án trong tháng 7/2021. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa hoàn thành GPMB dự án. Trách nhiệm thuộc về UBND thành phố.

    6.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Công tác GPMB: UBND thành phố tập trung thực hiện công tác GPMB đáp ứng kế hoạch, tiến độ bàn giao xong phạm vi vướng mắc cho Ban QLDA trước 05/10/2021 (theo Thông báo kết luận số 382/TB-UBND ngày 17/8/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh).

    – Hoàn thành toàn bộ phần khối lượng công trình theo dự án được phê duyệt trước khi điều chỉnh, bổ sung.

    – Thực hiện điều chỉnh dự án: Lập thiết kế BVTC-DT, lựa chọn nhà thầu xây lắp và khởi công công trình đối với hạng mục bổ sung trong tháng 12/2021.

    7. Đường nối từ QL37 – QL17 – ĐT292 (đoạn từ Việt Yên, Tân Yên, Lạng Giang), tỉnh Bắc Giang:

    7.1. Tình hình thực hiện

    * Công tác GPMB:

    – Huyện Việt Yên: Đã bàn giao mặt bằng 6,9/7,2Km;

    – Huyện Tân Yên: Đã phê duyệt phương án bồi thường GPMB xong xã Ngọc Thiện và xã Ngọc Lý được 57/102 hộ;

    – Huyện Lạng Giang: Đã phê duyệt phương án và đang chi trả tiền được 110/113, còn 03 hộ chưa nhận tiền do thắc mắc về diện tích đền bù; bàn giao mặt bằng được 0,9/2Km.

    * Công tác thi công: Khởi công ngày 28/8/2021.

    * Tổng giá trị thực hiện 9 tháng đầu năm là 51,23 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án là 53,38/678 tỷ đồng. Giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm là 80/80 tỷ đồng; lũy kế giải ngân từ đầu dự án là 81,1/81,1 tỷ đồng.

    7.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc: Chờ Nhân dân thu hoạch lúa xong thì triển khai thi công.

    7.3. Nhận xét, đánh giá

    Công trình đã khởi công 28/8/2021, tiến độ thực hiện dự án đáp ứng được yêu cầu kế hoạch.

    7.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Công tác GPMB: UBND các huyện Việt Yên, Tân Yên, Lạng Giang tiếp tục triển khai thực hiện công tác GPMB.

    – Công tác thi công: Chủ đầu tư đôn đốc nhà thầu triển khai thi công trình ngay sau khi thu hoạch lúa; đảm bảo cơ bản hoàn thành nền đường, hệ thống thoát nước ngang, kết cấu phần dưới 02 cầu (cầu Lái Nghiên, cầu Nghĩa Trung) và kết cấu phần dưới cầu vượt Sông Thương.

    8. Cải tạo, nâng cấp ĐT 298 (đoạn từ Đình Nẻo đi Việt Yên)

    8.1. Tình hình thực hiện         

    * Công tác GPMB:

    – Huyện Tân Yên: Đã cơ bản hoàn thành hiện đang thực hiện dịch chuyển hệ thống đèn chiếu sáng.

    – Huyện Việt Yên: Thực hiện xong giải tỏa hành lang ATGT; đã có thông báo thu hồi đất 04/04 xã với diện tích 10,61 ha.

    * Công tác thi công:

    – Gói thầu số 07 (đoạn Km0+00-Km10+500): Đã thi công hoàn thiện nền đường, móng CPĐD loại 2 được 1,5/10,5Km (phía bên phải tuyến); thi công rãnh dọc B60 được 250/8.682m.

    – Gói thầu số 08 (đoạn Km10+500-Km18+00): Đã thi công hoàn thiện nền đường, móng CPĐD loại 2 được 1,1/7,5Km (phía phải tuyến); thi công rãnh dọc B60 được 200/8.825m. Hạng mục cầu đã thi công xong bãi đúc dầm, đang thi công bệ đúc dầm.

    * Giá trị thực hiện: Tổng giá trị thực hiện 9 tháng đầu năm là 15,68 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án là 17,32/277,83 tỷ đồng. Giá trị giải ngân từ đầu năm đến nay đạt 63,38 tỷ đồng (đạt 70% so với kế hoạch giao trong năm); lũy kế từ đầu dự án đạt 64,13/90,75 tỷ đồng.

    8.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc:

    – Công tác GPMB huyện Tân Yên: Vướng công trình công viễn thông, điện lực, điện chiếu sáng, đường ống nước sạch.

    – Công tác GPMB huyện Việt Yên: Công tác GPMB công trình công còn chậm.

    8.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác GPMB: Theo kế hoạch dự kiến, công tác GPMB hoàn thành trong tháng 9/2021. Tuy nhiên, hiện nay tiến độ GPMB còn chậm. Trách nhiệm thuộc UBND các các huyện Tân Yên, Việt Yên.

    – Công tác thi công: Tiến độ dự án đáp ứng được yêu cầu.

    8.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Công tác GPMB: UBND các huyện Việt Yên, Tân Yên tập trung thực hiện xong trong tháng 10/2021.

    – Công tác thi công: Cơ bản hoàn thành nền đường, hệ thống rãnh dọc, cống ngang và cầu Sim trong quý IV/2021. Phấn đầu hoàn thành nghiệm thu kỹ thuật đường trước Tết Nguyên đán.

    9. Đường nối QL 37–QL 17-Võ Nhai (Thái Nguyên), tỉnh Bắc Giang:

    9.1. Tình hình thực hiện

    * Công tác GPMB:

    – Huyện Việt Yên: Đã phê duyệt phương án GPMB tổng thể, giá trị 11,1 tỷ đồng; đã chi trả tiền bồi thường được 61/170 hộ dân.

    – Huyện Tân Yên: Đã phê duyệt phương án GPMB tổng thể đợt 1 với giá trị 45 tỷ đồng.

    – Huyện Yên Thế: Đã phê duyệt phương án GPMB tổng thể của 5 xã (Tân Sỏi, An Thượng, Tiến Thắng, Tam Tiến và Canh Nậu) với giá trị 121,7 tỷ đồng.

    * Thực hiện dự án: Đang thẩm định thiết kế BVTC-DT đoạn tuyến nhánh ĐT294; đang thực hiện thiết kế BVTC-DT tuyến chính.

    * Giá trị thực hiện 9 tháng đầu năm là 25,1 tỷ đồng; lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay đạt 25,5 tỷ đồng; lũy kế số vốn đã bố trí cho dự án từ đầu dự án 340,8 tỷ đồng; giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm đạt 193,7 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án đạt 194,5 tỷ đồng (trong đó chuyển tiền GPMB cho UBND các huyện là 162,7 tỷ đồng).

    9.2. Khó khăn, vướng mắc

    Do công tác dồn điền đổi thửa làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất nên công tác quy chủ gặp nhiều khó khăn. Bản đồ địa chính của một số xã chưa được chỉnh lý, một số hộ dân có đất trên hành lang được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dẫn đến khó khăn trong công tác bồi thường hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng.

    9.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác thiết kế BVTC-DT: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu.

    – Công tác GPMB: Hiện nay các huyện đang triển khai GPMB cơ bản đảm bảo kế hoạch, tiến độ chung của dự án.

    9.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – UBND các huyện Việt Yên, Tân Yên, Yên Thế bàn giao mặt bằng trong tháng 10/2021.

    – Hoàn thành phê duyệt thiết kế BVTC-DT trong tháng 9/2021.

    – Lựa chọn nhà thầu xây lắp và khởi công trong tháng 11/2021.

    10. Xây dựng đường và cầu kết nối huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang với thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (đoạn từ QL37 đến cầu Hòa Sơn):

    10.1. Tình hình thực hiện

    – Công tác GPMB: Đã phê duyệt phương án GPMB tổng thể với giá trị 59 tỷ đồng; đang thực hiện phê duyệt phương án bồi thường GPMB 04/06 xã (trừ thị trấn Thắng, xã Hoà Sơn); đã phê duyệt và chi trả tiền đền bù GPMB 01 xã với chi phí 1,6 tỷ đồng (được 0,82/21,6ha).

    – Khởi công công trình ngày 01/9/2021.

    – Giá trị thực hiện 9 tháng đầu năm là: 44,268 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án là 44,268/543 tỷ đồng. Lũy kế giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm đạt 46,89 tỷ đồng (đạt 92,3% so với kế hoạch giao trong năm); lũy kế từ đầu dự án đạt 47,69/50,8 tỷ đồng.

    10.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc: Không

    10.3. Nhận xét, đánh giá

    Dự án triển khai đáp ứng yêu cầu.

    10.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Thi công gói thầu số 8 đạt 2,0/4,0 Km, gói thầu số 9 đạt 1,2/6,0 Km.

    – Tổ chức lựa chọn nhà thầu và khởi công gói thầu số 10 trong tháng 10/2021.

    11. Xây dựng đường và cầu Hà Bắc 2, nối tuyến nhánh 02 đường Vành đai IV với khu công nghiệp Yên Phong và QL18, tỉnh Bắc Ninh

    11.1. Tình hình thực hiện

    – Công tác GPMB:

    + UBND huyện Việt Yên đã phê duyệt phương án GPMB tổng thể; đã chi trả (đợt 1) được 41/79 hộ với diện tích 2,97/4,46 ha, số tiền là 5,7/7,4 tỷ đồng.

    + UBND huyện Hiệp Hoà: Hoàn thành trích lục bản đồ địa chính thửa đất; quy chủ, kiểm đếm, thông báo thu hồi đất diện tích 11.563,4m2.

    – Đang thực hiện khảo sát thiết kế BVTC-DT.

    – Giá trị khối lượng thực hiện dự án 9 tháng đầu năm đạt 11,16 đồng; lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay đạt 11,16 tỷ đồng. Lũy kế giá trị giải ngân 9 tháng đạt 14,269 tỷ đồng (đạt 48% so với kế hoạch giao trong năm); lũy kế từ đầu dự án đạt 14,269/31 tỷ đồng.

    11.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc: Do tình hình dịch Covid-19 ở địa bàn thành phố Hà Nội diễn biến phức tạp nên đơn vị tư vấn thực hiện thiết kế BVTC-DT chậm.

    11.3. Nhận xét đánh giá

    – Công tác GPMB: Đã hoàn thành theo đúng kế hoạch trong tháng 7/2021.

    11.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Hoàn thành GPMB, bàn giao trong tháng 10/2021;

    – Hoàn thành phê duyệt thiết kế BVTC-DT trước 30/9/2021;

    – Lựa chọn xong nhà thầu xây lắp và khởi công trong tháng 11/2021.

    12. Cải tạo, nâng cấp ĐT 291 trên địa bàn huyện Sơn Động:

    12.1. Tình hình thực hiện

     – Công tác GPMB: Đã hoàn thành kiểm đếm 03/03 xã; công khai niêm yết phương án GPMB đoạn từ Km10 – Km14; bàn giao mặt bằng được 3/16,3Km

    – Khởi công gói thầu số 09 ngày 31/8/2021; đang tổ chức lựa chọn nhà thầu thi công gói thầu số 08a và 08b.

    – Giá trị khối lượng thực hiện 9 tháng đầu năm đạt 10,6 tỷ đồng; lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay đạt 12,4 tỷ đồng; lũy kế giá trị giải ngân từ đầu năm đạt 19,2 tỷ đồng (đạt 96% so với kế hoạch giao trong năm); lũy kế từ đầu dự án đạt 19,9/20,75 tỷ đồng.

    12.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc: Không.

    12.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác GPMB chậm so với kế hoạch 14 ngày.

    – Lựa chọn nhà thầu, khởi công đúng kế hoạch trong tháng 8/2021.

    12.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – UBND huyện Sơn Động thực hiện công tác GPMB xong trong tháng 10/2021.

    – Khởi công gói thầu số 08a, 08b trong tháng 9/2021.

    13. Xây dựng mới trạm bơm cống Chản

    13.1. Tình hình thực hiện

    – Công tác GPMB: Ban QLDA đã bàn giao xong cọc GPMB cho huyện.

    – Đã lựa chọn xong nhà thầu khảo sát lập thiết kế BVTC-DT.

    – Giá trị khối lượng thực hiện dự án 9 tháng đầu năm ước đạt 2,433 tỷ đồng; lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay đạt 2,433 tỷ đồng. Giá trị giải ngân 9 tháng đầu năm đạt 6,077 tỷ đồng (đạt 23% so với kế hoạch giao trong năm); lũy kế từ đầu dự án đạt 6,077 tỷ đồng.

    13.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc

    – Ảnh hưởng của dịch bệnh covid 19-19 nên khó khăn cho đơn vị tư vấn triển khai thực hiện công tác khảo sát lập thiết kế BVTC-DT.

    – Công tác GPMB: Ngày 14/7/2021, Ban QLDA đã bàn giao cọc GPMB cho UBND huyện Lục Nam (UBND huyện giao cho UBND xã Yên Sơn nhận) nhưng đến ngày 30/8/2021, Ban QLDA phải bàn giao lại cọc GPMB lần 2 do UBND huyện giao cho Trung tâm phát triển Quỹ đất và CCN nhận.

    * Nguyên nhân:

      – Công tác GPMB: UBND huyện Lục Nam chưa tập trung thực hiện công tác GPMB, quá trình chỉ đạo, phân công đơn vị thực hiện công tác GPMB chưa phù hợp.

    13.3. Nhận xét đánh giá

    – Công tác GPMB chậm khoảng 01 tháng so với kế hoạch.

    – Công tác lựa chọn nhà thầu khảo sát lập thiết kế BVTC-DT: Hoàn thành 31/8/2021 (đáp ứng kế hoạch tiến độ đề ra);

    13.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – UBND huyện tập trung thực hiện công tác GPMB đảm bảo bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư trong tháng 12/2021.

    – Công tác khảo sát thiết kế BVTC-DT: Hoàn thành phê thiết kế BVTC-DT trong tháng 11/2021;

    – Lựa chọn xong nhà thầu và khởi công công trình trong tháng 12/2021.

    14. Dự án Khối nhà trung tâm, khối nhà chuyên khoa đặc thù, khoa truyền nhiễm và các hạng mục phụ trợ của Bệnh viện Đa khoa tỉnh 

    14.1. Tình hình thực hiện dự án

    * Thủ tục pháp lý: Đã lựa chọn xong nhà thầu thi công Gói thầu số 15.

    * Công tác thi công:

    – Khối nhà trung tâm (15 tầng): Đang tổ chức thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình.

    – Khối nhà Khoa truyền nhiễm (5 tầng): Đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng.

    – Đã hoàn thành thi công xây dựng hạng mục nhà khí y tế, bể chứa nước PCCC và các hạng mục khác

    * Giá trị thực hiện: Giá trị thực hiện gói thầu thi công 9 tháng đầu năm đạt 330,824 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án là 601,155/613,6 tỷ đồng, tỷ lệ đạt 97,96%.

    * Giá trị giải ngân: 9 tháng đầu năm 127,872 /188,1 tỷ đồng đạt 67,96% vốn kế hoạch năm; giá trị giải ngân từ đầu dự án đạt 565,264/625,5 tỷ đồng.

    14.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc: Bệnh viện chưa bàn giao được mặt bằng thi công khối nhà 7 tầng cho chủ đầu tư theo kế hoạch.

    * Nguyên nhân:

    Theo kế hoạch việc sắp xếp, di chuyển các khoa phòng của Bệnh viện tại vị trí xây dựng chuyển sang khối nhà 15 tầng, trong khi khối nhà 15 tầng chưa thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình và đưa công trình vào sử dụng (thẩm quyền của Bộ Xây dựng).

    14.3. Nhận xét đánh giá

    Tiến độ khởi công xây dựng gói thầu số 15 chậm 02 tháng.

    14.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021

    – Nghiệm thu hoàn thành công trình và đưa khối nhà 15 tầng vào sử dụng trong tháng 9/2021 (Bộ Xây dựng đã ủy quyền cho Sở Xây dựng thực hiện công tác nghiệm thu công trình). 

    – Khởi công gói thầu số 15 trong tháng 10/2021.

    II. CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC PPP

    1. Dự án Xây dựng ĐT289 kéo dài (đoạn từ thị trấn Chũ đi Đồng Đỉnh, nối QL31 với ĐT293); đường Nguyễn Thị Minh Khai kéo dài; hệ thống tiêu thoát nước và giao thông khu A, B thuộc Khu đô thị phía Nam thành phố Bắc Giang

    1.1. Tiến độ thực hiện:

    a) Dự án BT:

    – Hạng mục công trình ĐT.289 kéo dài: Đã thi công hoàn thành;

    – Hạng mục đường Nguyễn Thị Minh Khai kéo dài: Thi công cơ bản hoàn thành, còn lại sơn vạch kẻ đường và rãnh tam giác.

    * Giá trị khối lượng thực hiện: Giá trị khối lượng thực hiện trong 9 tháng đầu năm đạt 181 tỷ đồng. Tổng giá trị dự án hoàn thành từ đầu dự án đạt 564/769,9 tỷ đồng (tương đương 73,2% giá trị hợp đồng).

    b) Dự án đối ứng (dự án khác):

    * Công tác GPMB: Đã phê duyệt 12 phương án và chi trả được là 27,86/41,88ha; di dời được 587/700 ngôi mộ; bàn giao được 26,38/41,88 ha cho Nhà đầu tư để thi công.

    * Công tác thi công: Đang tiến hành san lấp mặt bằng, đào đất không thích hợp và đắp nền đường.

    * Giá trị khối lượng thực hiện đạt 132,9/587 tỷ đồng (tương đương 22,6% giá trị dự án đối ứng).

    * Công tác thanh toán dự án BT: Đang thực hiện giao đất thanh toán đợt 1 cho Nhà đầu tư.

    1.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân:

    * Khó khăn, vướng mắc:

    – Dự án BT: Công tác GPMB và thi công hệ thống tiêu thoát nước và giao thông khu A, B chậm khoảng 12 tháng.

    – Dự án đối ứng: Tiến độ GPMB chậm 03 tháng so với yêu cầu của Chủ tịch UBND tỉnh.

    * Nguyên nhân:

    a) Dự án BT:

    – Công tác GPMB hạng mục tiêu thoát nước và giao thông Khu A, B của UBND thành phố Bắc Giang còn chậm, kéo dài do các hộ dân thắc mắc về đơn giá bồi thường.

    • Công tác thi công Hạng mục tiêu thoát nước và giao thông khu A, B chậm do công tác GPMB bàn giao chậm 12 tháng.

    b) Dự án đối ứng: Các hộ dân chưa đồng thuận với phương án GPMB.

    1.3. Nhận xét, đánh giá:

    – Nhà đầu tư mới quan tâm đến việc tổ chức thi công các hạng mục của Dự án để đảm bảo yêu cầu tiến độ theo kế hoạch, chưa quan tâm thực hiện các thủ tục có liên quan như: Trình thẩm định, phê duyệt tổng dự toán công trình; chậm  ký kết Phụ lục hợp đồng dự án. Trách nhiệm thuộc về Ban QLDA ĐTXD các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh trong việc đôn đốc, thực hiện hợp đồng dự án và Nhà đầu tư trong việc tổ chức thực hiện.

    – Công tác giải phóng mặt bằng hệ thống tiêu thoát nước và giao thông khu A, B của dự án chậm khoảng 12 tháng do trong quá trình thực hiện dự án nhiều lần phải điều chỉnh bổ sung theo yêu cầu của Nhân dân địa phương, do điều chỉnh quy hoạch thành phố Bắc Giang, đồng thời UBND thành phố chưa quyết liệt GPMB đối với 11 hộ dân còn lại. Trách nhiệm thuộc về UBND thành phố Bắc Giang.

    1.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021:

    a) Dự án BT:

    – Hoàn thành GPMB hạng mục hệ thống tiêu thoát nước và giao thông Khu A, B để bàn giao cho Nhà đầu tư thi công trong tháng 10/2021;

    – Xây dựng kế hoạch đẩy nhanh tiến độ thi công ngay sau khi được bàn giao mặt bằng.

    b) Dự án đối ứng: Thực hiện công tác giao đất và thanh toán đợt 1 cho Nhà đầu tư thực hiện thi công dự án khác.

    2. Dự án Đầu tư nâng cấp, cải tạo tuyến ĐT292 huyện Lạng Giang

    2.1. Tình hình thực hiện dự án:

    a) Dự án BT:

    * Công tác bồi thường GPMB:

    – Đến nay chủ yếu còn GPMB đất ở và công trình công, việc triển khai chậm so với kế hoạch và yêu cầu của Chủ tịch UBND tỉnh.

    * Công tác thi công: Hạng mục cầu cơ bản đảm bảo so với kế hoạch, hạng mục đường chậm so với kế hoạch khoảng 2 tháng.

    * Giá trị khối lượng thực hiện: Giá trị khối lượng thực hiện dự án ước đạt 35,375/165,803 tỷ đồng (đạt 21,34% giá trị dự án BT), trong đó chi phí xây lắp là 29,30 tỷ đồng, chi phí khác 3,985 tỷ đồng; GPMB đạt 2,1 tỷ đồng.

    b) Dự án đối ứng dự án BT:

    * Thủ tục pháp lý: Nhà đầu tư đang trình Sở Xây dựng thẩm định dự án, đang hoàn thiện công tác lập đánh giá tác động môi trường để trình thẩm định.

    2.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân:

    – Công tác GPMB: Công tác GPMB đất thổ cư chậm do việc cấp GCNQSD đất và giao đất những năm trước không rõ ràng về ranh giới, hình dạng thửa đất, nhiều thửa đất không phù hợp với hiện trạng sử dụng.

    – Công tác thi công: Tiến độ thi công bị ảnh hưởng do thi công nền đường mở rộng vào mùa mưa. Mặt khác, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 phải tạm dừng thi công.

    2.3. Nhận xét, đánh giá:

    a) Đối với dự án BT:

    – Công tác GPMB: Mặt bằng thi công tuy có vướng mắc các hộ đất ở và các hạng mục công trình công, song đến thời điểm hiện tại cơ bản đảm bảo mặt bằng để Nhà đầu tư thi công theo kế hoạch.

    – Về tiến độ thi công: Tiến độ thi công dự án chậm khoảng 02 tháng so với kế hoạch. Trách nhiệm thuộc Nhà đầu tư và UBND huyện Lạng Giang.

    b) Đối với dự án khác: Công tác chuẩn bị đầu tư thực hiện chậm. Trách nhiệm thuộc Nhà đầu tư.

    2.4 . Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021:

    a) Đối với dự án BT:

    – Hoàn thành GPMB đất ở xong trong tháng 10/2021; hoàn thành dịch chuyển công trình công trong tháng 9/2021.

    – Đôn đốc Nhà đầu tư tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ thi công các hạng mục công trình trên phần tuyến.

    b) Dự án khác:

    – Nhà đầu tư phối hợp với các đơn vị liên quan hoàn thiện hồ sơ trình phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi trong tháng 10/2021.

    – Tập trung cao thực hiện công tác bồi thường GPMB dự án, trong đó hoàn thành đất nông nghiệp trước 31/12/2021.

    3. Dự án Xây dựng đường vành đai thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn

    3.1. Tình hình thực hiện:

    a) Dự án BT:

    – Công tác GPMB: Đanng triển khai thông báo thu hồi đất.

    – Công tác thi công: Chưa triển khai (dự kiến khởi công trong tháng 10/2021).

    b) Dự án đối ứng BT: Nhà đầu tư đang triển khai lập chủ trương đầu tư dự án thuộc Khu đô thị mới phía Tây thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn.

    3.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân:

    – Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên việc tổ chức họp dân, kiểm đếm lập phương án bồi thường GPMB dự án và công tác rà phá bom mìn chưa thực hiện được.

    – Chưa khởi công xây dựng công trình do chưa có mặt bằng.

    3.3. Nhận xét, đánh giá:

    Tiến độ GPMB dự án BT đang chậm khoảng 30 ngày; công tác rà phá bom mìn, khởi công xây dựng và triển khai thi công chậm do chưa có mặt bằng thi công. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Lục Ngạn và Nhà đầu tư.

    3.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021:

    a) Dự án BT:

    – Công tác GPMB:Thực hiện GPMB, bàn giao để thi công khoảng 1,0Km xong trước ngày 30/9/2021. Các đoạn còn lại xong trong năm 2021.

    – Công tác thi công: Khởi công công trình, dự kiến trước ngày 15/10/2021.

    b) Dự án đối ứng:

    – Trình thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư dự án khác trước 15/10/2021.

    – Lập, trình thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi dự án trước 30/11/2021.

    4. Dự án Xây dựng một số trục đường giao thông trên địa bàn huyện Yên Dũng

    4.1. Tình hình thực hiện

    a) Dự án BT:

    * Công tác GPMB:

    – Tuyến Lê Đức Trung: Đã bàn giao mặt bằng (không phải giản phóng).

    –  Tuyến Hoàng Hoa Thám: Đã giải phóng và bàn giao một phần diện tích (với diện tích khoảng 16.820m2) cho Nhà đầu tư để tổ chức thi công; đoạn còn lại liên quan đến khoảng 251 hộ đã đo vẽ xong ranh giới GPMB và và chỉnh lý bản đồ xong.

    – Tuyến Trần Nhân Tông: Đã đo vẽ xong ranh giới GPMB với diện tích khoảng 16.058m2, đang rà soát nguồn gốc sử dụng đất, quy chủ lập phương án.

    * Công tác thi công: Đã thi công cơ bản xong tuyến đường Lê Đức Trung; tuyến đường Trần Nhân Tông: chưa triển khai thi công; tuyến Hoàng Hoa Thám: Thi công đào, đắp nền đường, thi công cấp phối đá dăm loại II và lắp đặt cống dọc thoát nước.

    * Giá trị khối lượng thực hiện: Giá trị thực hiện dự án đạt 12,7 tỷ đồng, tương ứng 14,87%.

    b) Dự án đối ứng: Đang trình đề xuất chủ trương đầu tư dự án.

    4.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân:

    a) Dự án BT:

    – Dự án gồm 03 tuyến đường giao thông chạy qua khu vực trung tâm thị trấn Nham Biền nên công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn.

    – Do trong thời gian vừa qua tình hình dịch Covid – 19 diễn biến phức tạp, toàn huyện Yên Dũng phải thực hiện cách ly xã hội nên Nhà đầu tư đã tạm dừng triển khai thi công từ ngày 21/5/2021 đến tháng 7/2021.

    b) Dự án khác: Thực hiện thủ tục chuẩn bị đầu tư dự án khác chậm.

    4.3. Nhận xét, đánh giá:

    a) Dự án BT: Tiến độ GPMB chậm khoảng 05 tháng so với kế hoạch. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Yên Dũng.

    b) Dự án đối ứng: Tiến độ thực hiện lập dự án đối ứng chậm khoảng 03 tháng. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Yên Dũng và Nhà đầu tư.

    4.4. Kế hoạch thực hiện trong quý IV/2021

    a) Dự án BT:

    – Giải phóng mặt bằng toàn bộ dự án xong trước 31/12/2021.

    – Tổ chức thi công theo đúng nội dung Hợp đồng được ký kết.

    b) Dự án đối ứng: Trình phê duyệt chủ trương đầu tư và lập hồ sơ báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đối ứng dự án BT.

    5. Dự án nhà máy xử lý rác thải và phát điện thành phố Bắc Giang

    5.1. Tình hình thực hiện:

    Hiện nay, UBND thành phố đang phối hợp với các cơ quan xem xét xử lý tài sản trên đất trong phạm vi dự án. 

    5.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân:

    Dự án chưa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào quy hoạch Điện lực Quốc gia.

    5.3. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021:

    – Bám sát theo ý kiến tham thẩm định bổ sung quy hoạch điện lực của các Bộ, ngành để hoàn thiện hồ sơ trình Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt.

    – Xây dựng giá khởi điểm, phương án đấu giá trình UBND tỉnh phê duyệt, tổ chức đấu giá lựa chọn nhà đầu tư sau khi được phê duyệt vào quy hoạch Điện lực Quốc gia.

    III. CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    1. Dự án Nhà máy nhiệt điện An Khánh – Bắc Giang

    1.1. Tình hình thực hiện dự án:

    Giá trị khối lượng thực hiện theo báo cáo của Nhà đầu tư đạt 3.729 tỷ đồng (đạt 16,5% tổng vốn đầu tư), không tăng từ năm 2019 trở lại đây.

    1.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Khó khăn lớn nhất hiện nay của dự án là việc huy động nguồn vốn vay (khoảng 753 triệu USD).

    1.3. Đánh giá, nhận xét: Đến nay, dự án đã chậm tiến độ hoàn thành thủ tục thuê đất so với quyết định chủ trương đầu tư là 49 tháng (từ tháng 6/2017 đến tháng 9/2021), hiện tại dự án mới được UBND tỉnh cho thuê đất với diện tích 11,7ha/89,7ha (chiếm 13%). Phần diện tích đã GPMB (khoảng 32,21ha) chưa được thuê do tiến độ hoàn thành thủ tục thuê đất tại Quyết định chủ trương đầu tư đã hết (tháng 6/2017). Nhà đầu tư đã nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án, hiện nay Sở Kế hoạch và Đầu tư đang xem xét, xử lý. Trách nhiệm để xảy ra việc chậm tiến độ huy động vốn, chậm tiến độ thực hiện dự án thuộc Nhà đầu tư.

    1.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: Yêu cầu Nhà đầu tư hoàn thiện việc huy động nguồn vốn vay với ngân hàng thương mại trong quý IV/2021 để triển khai thi công xây dựng hạng mục nhà máy chính của dự án từ tháng 12/2021. Hoàn thành điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án trong tháng 9/2021 để hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích đất đã GPMB trong tháng 10/2021 và hoàn thành công tác bồi thường GPMB khu bãi xỉ 35ha trong năm 2021. Bên cạnh đó, UBND tỉnh sẽ giao các cơ quan chuyên phối hợp với Nhà đầu tư tiếp tục đề xuất các Bộ, ngành có liên quan tháo gỡ khó khăn trong chính sách hoàn thuế VAT.

    2. Dự án Xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Hòa Phú

    2.1. Tình hình thực hiện dự án:

    Đến nay, dự án đã GPMB đạt khoảng 187,3 ha (tăng 7,3ha so với quý II/2021) còn lại 20,15ha đang tiến hành công tác GPMB; tổng số tiền chi trả đạt đến nay đạt 414 tỷ đồng (tăng 19 tỷ đồng so với quý II/2021). Đã được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất 05 đợt với tổng diện tích 129,5ha (tăng 12ha so với quý II/2021), chủ đầu tư đang phối hợp với UBND huyện Hiệp Hòa GPMB phần diện tích còn lại. Đã hoàn thành xây dựng hạ tầng kỹ thuật giai đoạn I của dự án trên diện tích 82 ha (đạt 100%); giai đoạn II (125,45ha) đã xây dựng cơ bản đồng bộ hạ tầng kỹ thuật đối với diện tích 105ha (đã GPMB xong), xây dựng và đưa vào sử dụng Nhà máy xử lý nước sạch công suất 2.000 m3/ngày đêm, Nhà máy xử lý nước thải công suất 2.000 m3/ngày đêm. Chủ đầu tư đang tiếp tục hoàn thiện các hạng mục hạ tầng còn đang dở dang.

    Tính đến nay, đã thu hút được 19 dự án đầu tư trong đó có 12 dự án FDI với số vốn đăng ký đạt 252,85 triệu USD và 07 dự án đầu tư trong nước với số vốn đăng ký đạt 2.908,3 tỷ đồng (không tăng so với quý II/2021). Tổng số lao động hiện nay tại KCN khoảng 500 lao động. Tổng vốn đầu tư thực hiện trong quý đạt 32 tỷ đồng.

    2.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Công tác bồi thường GPMB còn nhiều khó khăn, vướng mắc, nhiều thửa ruộng vẫn trong tình trạng xen kẹp, “xôi đỗ” nên chưa thể triển khai thi công. Ngoài ra, việc bán đất thuộc dự án trái thẩm quyền qua nhiều thời kỳ dẫn đến việc xác định nguồn gốc, chủ sử dụng diện tích đất nằm trong khu vực thực hiện dự án gặp khó khăn. Công tác BT, GPMB của dự án chậm thuộc trách nhiệm của UBND huyện Hiệp Hòa.

    2.3. Đánh giá, nhận xét: Sau khi dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh được kiểm soát, Chủ đầu tư đã tích cực phối hợp với các cơ quan có liên quan hoàn thành thủ tục thuê đất đợt 6 với diện tích 12ha và hoàn thành GPMB được thêm 7,3ha. Giá trị thực hiện Quý III/2021 tăng 32 tỷ đồng so với quý II/2021, tổng giá trị thực hiện trong 9 tháng đầu năm 2021 đạt khoảng 102 tỷ đồng. Đến nay, dự án đang triển khai thực hiện đảm bảo theo tiến độ mặt bằng được bàn giao. Đã cơ bản lấp đầy phần diện tích đất công nghiệp được UBND tỉnh cho thuê.

    2.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND huyện Hiệp Hòa tập trung cao chỉ đạo các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ GPMB phần diện tích còn lại, bàn giao toàn bộ mặt bằng cho Nhà đầu tư trong tháng 11/2021; yêu cầu nhà đầu tư phối hợp với các cơ quan có liên quan hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích đã hoàn thành GPMB trong tháng 10/2021.

    3. Dự án Hạ tầng, kho bãi trung tâm Logistics quốc tế TP Bắc Giang

    3.1. Tình hình thực hiện dự án: Đã hoàn thành GPMB; thi công xong đắp đất san nền K90, thi công hệ thống hạ tầng giao thông đạt 69%, thi công xong các hạng mục cấp điện, hệ thống cấp nước đạt 70%.

    3.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Đến nay Công ty Cổ phần BOT Hà Nội – Bắc Giang vẫn chưa phối hợp bàn giao mặt bằng để thi công đấu nối từ dự án với QL1.

    3.3. Đánh giá, nhận xét: Công tác GPMB còn chậm so với kế hoạch và chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh, trách nhiệm thuộc UBND thành phố Bắc Giang. Công tác thi công các hạng mục công trình rất chậm; tiến độ góp vốn của Nhà đầu tư vào triển khai thực hiện dự án chậm. Trách nhiệm trong việc chậm triển khai thực hiện thuộc Nhà đầu tư.

    3.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh sẽ chỉ đạo Sở Giao thông vận tải phối hợp hỗ trợ Nhà đầu tư làm việc với Công ty Cổ phần BOT Hà Nội – Bắc Giang thực hiện bàn giao tuyến đấu nối của dự án với QL1 và giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan kiểm tra, xem xét tiến độ góp vốn của Nhà đầu tư, xử lý vi phạm (nếu có). Đồng thời, yêu cầu Nhà đầu tư hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích còn lại trong tháng 10/2021.

    4. Dự án Cụm cảng hàng hóa tổng hợp, chế biến than, khu liên hợp chế tạo thiết bị cơ khí, sản xuất gỗ MDF

    4.1. Tình hình thực hiện dự án: Tổng vốn đầu tư đã thực hiện từ đầu dự án đến nay ước đạt khoảng 626,9 tỷ đồng/2.146 tỷ đồng (chiếm 29,2%) không thay đổi từ Quý IV/2019 đến nay.

    4.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Do gặp khó khăn trong công tác huy động vốn. Nguyên nhân chủ yếu do hạn chế về năng lực tài chính của Nhà đầu tư.

    4.3. Đánh giá, nhận xét: Đến nay dự án đã chậm tiến độ khởi công xây dựng các hạng mục công trình còn lại của dự án 14 tháng (từ tháng 7/2020 đến tháng 9/2021). Đồng thời, trong 9 quý gần dây dự án không triển khai thực hiện. Trách nhiệm để xảy ra việc chậm tiến độ thực hiện dự án thuộc Nhà đầu tư.

    4.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh sẽ tổ chức làm việc với Nhà đầu tư để làm rõ khả năng thực hiện dự án và kế hoạch triển khai thực hiện dự án trong thời gian tới, thời gian dự kiến trong tháng 9/2021. Đồng thời, yêu cầu Nhà đầu tư hoàn thiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 của dự án trong tháng 10/2021 gửi về Sở Xây dựng xem xét, thẩm định và yêu cầu Nhà đầu tư cam kết thực hiện dự án theo đúng tiến độ được điều chỉnh, nếu quá thời hạn tự nguyện chấm dứt hoạt động dự án.

    5. Dự án Đầu tư xây dựng kho cảng tổng hợp Petro Bình Minh

    5.1. Tình hình thực hiện dự án: Đang thực hiện GPMB, cụ thể:

    – Thôn Đạo Ngạn 2 100% số hộ đã ký hồ sơ quy chủ và nhận tiền bồi thường, GPMB.

    – Thôn Nam Ngạn 70/131 hộ ký hồ sơ quy chủ và nhận tiền bồi thường, hỗ trợ GPMB  (1,3 ha/3,36 ha).

    Tổng số tiền Chủ đầu tư đã ứng chi trả cho công tác bồi thường, GPMB là 13,7 tỷ đồng (thôn Nam Ngạn là 3 tỷ đồng, thôn Đạo Ngạn 2 là 10,7 tỷ đồng).

    5.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Hiện tại, phần diện tích đất thuộc thôn Nam Ngạn còn lại chưa hoàn thành việc quy chủ, kê khai, trả tiền bồi thường GPMB đối với 61 hộ gia đình có đất và 58 ngôi mộ thuộc phạm vi dự án. Do đây là khu vực ngập nước nên khó xác định diện tích đất của từng hộ gia đình, cá nhân có đất thuộc phạm vi dự án. Bên cạnh đó trong quá trình triển khai thực hiện các hộ gia đình không hợp tác cung cấp hồ sơ, giấy tờ có liên quan để xác định diện tích của các hộ.

    5.3. Đánh giá, nhận xét: Đến nay, dự án đã chậm tiến độ hoàn thành thủ tục thuê đất 21 tháng (từ tháng 11/2019 đến tháng 9/2021), chậm tiến độ hoàn thành giai đoạn I của dự án 15 tháng (từ tháng 6/2020 đến tháng 9/2021), chậm hoàn thành khởi công xây dựng các hạng mục công trình giai đoạn II của dự án 14 tháng (từ tháng 7/2020 đến tháng 9/2021) so với tiến độ đã được phê duyệt do công tác GPMB gặp nhiều khó khăn. Mặc dù, UBND huyện Việt Yên đã tích cực tập trung tuyên truyền vận động để thực hiện công tác GPMB đạt kết quả cao hơn so với kế hoạch nhưng tính đến nay công tác GPMB của dự án là rất chậm. Trách nhiệm chủ yếu thuộc UBND huyện Việt Yên.

    5.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh sẽ chỉ đạo UBND huyện Việt Yên tiếp tục đẩy nhanh tiến độ GPMB đối với phần diện tích còn lại của dự án, vận động sự ủng hộ của người dân, hoàn thành GPMB toàn bộ dự án trong năm 2021. Yêu cầu Nhà đầu tư hoàn thiện thủ tục điều chỉnh dự án (trong đó điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án) trong tháng 10/2021.

    6. Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Việt Hàn

    6.1. Tình hình triển khai thực hiện:

    Về công tác GPMB: Đã ban hành thông báo thu hồi đất, đang thực hiện công tác kiểm kê đạt 185/600 hộ tương ứng 16/50ha; lũy kế đến nay đã bồi thường GPMB được khoảng 43,5/50ha (496/600 hộ).

    6.2. Đánh giá, nhận xét: Dự án cơ bản triển khai thực hiện đảm bảo theo Kế hoạch của UBND tỉnh.

    6.3. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo UBND huyện Việt Yên hoàn thành chi trả, bồi thường GPMB, bàn giao mặt bằng cho Nhà đầu tư. Yêu cầu chủ đầu tư phối hợp với UBND huyện Việt Yên sớm hoàn thiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê đất đối với phần diện tích đã hoàn thành GPMB; đẩy nhanh tiến độ lập báo cáo nghiên cứu khả thi trình Bộ Xây dựng thẩm định trong tháng 10/2021 và thực hiện các thủ tục cấp Giấy phép xây dựng; khởi công xây dựng các hạng mục công trình trong tháng 12/2021.

    7. Dự án Sân Golf và nghỉ dưỡng Bắc Giang

    7.1. Tình hình triển khai thực hiện: Đã thực hiện chi trả tiền bồi thường, diện tích 104,3ha/140ha; còn lại 17 hộ gia đình, cá nhân chưa nhận tiền do chưa đồng thuận với phương án BT, GPMB đã được phê duyệt. Ngoài ra, đã thực hiện chi trả được 73/81 ngôi mộ đạt 90,1% và đã hoàn thành việc di dời 73 ngôi mộ này ra khỏi khu đất thực hiện dự án. Đến nay, dự án đã được UBND tỉnh cho thuê đất (đợt 1) với diện tích 275.825,6m2 (khoảng 27,6ha), Chủ đầu tư đang tiến hành thi công rà phá bom mìn.

    7.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Công tác BT, GPMB và bàn giao mặt bằng còn xôi đỗ nên chưa được thuê đất đối với phần diện tích đã GPMB nhưng không liền thửa, liền khoảnh ảnh hưởng đến tiến độ triển khai xây dựng các hạng mục công trình chính của dự án như khu nhà Club House, nhà bảo trì. Bên cạnh đó, việc thu dọn tài sản (bán cây lâm nghiệp) của một số hộ gia đình còn chậm. Liên quan 17 hộ gia đình, cá nhân chưa đồng ý với phương án GPMB thuộc diện tái định cư hiện nay chưa thực hiện khảo sát giá để thực hiện chi trả do tại vị trí thu hồi chưa có giao dịch chuyển nhượng làm cơ sở tham chiếu, ngoài ra giá trị các thửa đất ở tại các xã không đồng nhất nên việc xác định giá đất ở của 3 xã chưa được thống nhất. Việc di dời một số công trình xây dựng (lò đốt than, trang trại chăn nuôi vịt) từ trước ngày 01/7/2014 đến nay còn khó khăn do các hộ gia đình chưa đồng ý. Việc xác định nguồn gốc đất đối với phần diện tích đất thuỷ sản thuộc dự án còn khó khăn. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Lục Nam.

    7.3. Đánh giá, nhận xét: Công tác GPMB một số hạng mục còn chậm và chưa có tiến triển rõ rệt đặc biệt là việc quy chủ, xác định nguồn gốc, loại đất đối với diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản và đất ở trong phạm vi sân golf Lục Nam. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Lục Nam.

    7.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh sẽ chỉ đạo UBND huyện Lục Nam khẩn trương xác định rõ diện tích thu hồi, giá đất đối với phần diện tích 2,2ha đất ở, đất trồng cây lâu năm và phần đất nuôi trồng thủy sản còn lại để hoàn thành việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trước ngày 30/9/2021; hoàn thành GPMB toàn bộ diện tích đất thực hiện dự án, bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư trong tháng 10/2021. Yêu cầu chủ đầu tư khẩn trương hoàn thiện thi công rà phá bom mìn để khởi công xây dựng trước ngày 30/9/2021.

    8. Dự án Sân Golf Việt Yên

    8.1. Tình hình triển khai thực hiện dự án: Đã GPMB diện tích 111,5ha và 371/423 ngôi mộ. Đối với diện tích tại xã Trung Sơn (121ha của 258 hộ) đã thu hồi đất 3 đợt với diện tích 93,6ha và được UBND tỉnh cho thuê đất 02 đợt diện tích 52,3ha; đang hoàn thiện thủ tục thẩm định thuê đất đợt 3 với diện tích 40,01ha. Đối với xã Hương Mai (diện tích 18,9ha) hiện tại chi trả được 50/52 hộ với diện tích 17,88ha. Nhà đầu tư đã tiến hành khởi công xây dựng các hạng mục công trình, vận chuyển đất dư thừa và các hạng mục phụ trợ.

    8.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Dự án đang gặp khó khăn trong công tác GPMB: Đối với 08 hộ nằm trong chỉ giới thu hồi đất ở (02 hộ tại thôn Dĩnh Sơn, 03 hộ thuộc thôn Sơn Hải, 03 hộ thôn Tân Sơn) đã thực hiện kiểm kê, kiểm đếm nhưng các hộ dân này chưa cung cấp GCNQSDĐ gây khó khăn trong việc xác định vị trí, diện tích tăng thêm so với GCNQSDĐ đã được cấp. Về đất rừng thuộc dự án, một số hộ có vướng mắc về chế độ chính sách bồi thường (03 hộ thuộc thôn Tân Sơn chưa xác định được thời điểm trồng cây sưa); về đất vườn còn 20 hộ thuộc thôn Dĩnh Sơn chưa nhất trí việc xác định loại đất lập phương án BT, GPMB là đất rừng, một số hộ có ý kiến về việc tính giá cây trồng trên đất thấp. Bên cạnh đó, một phần diện tích đất hiện trạng là đất ao thuỷ sản chưa xác định được nguồn gốc đất; ngoài ra một số hộ có diện tích chồng lấn bao gồm hộ ông Trần Xuân Hoàn thôn Khả Lý Thượng xã Quảng Minh và các hộ thôn Núi. Việc di chuyển 37 ngôi mộ có chủ của 28 hộ dân thuộc nghĩa trang thôn Sơn Hải khó khăn do các hộ dân không đồng thuận.

    8.3. Đánh giá, nhận xét: Công tác GPMB và thuê đất cơ bản đảm bảo tiến độ theo kế hoạch. Công tác thi công xây dựng các hạng mục công trình chính của dự án đang chậm so với kế hoạch đề ra do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai thi công (vận chuyển đất dư thừa từ dự án) để xảy ra tình trạng mất an toàn giao thông do sử dụng các xe vận chuyển đất với tải trọng lớn, cơi nới thành thùng xe. Trách nhiệm thuộc Nhà đầu tư.

    8.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: Chỉ đạo UBND huyện Việt Yên tập trung cao, hoàn thành GPMB trong tháng 12/2021, đồng thời giao UBND huyện Việt Yên chủ trì giám sát việc thi công xây dựng của dự án kịp thời phát hiện các sai phạm của Nhà đầu tư để xử lý hoặc kiến nghị xử lý đảm bảo theo quy định không để ảnh hưởng đến khu vực xung quanh; các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh yêu cầu Nhà đầu tư hoàn thành thi công xây dựng tường rào bao quanh dự án xong trước 15/10/2021, khởi công xây dựng các hạng mục công trình chính của dự án trước ngày 30/9/2021.

    9. Dự án Quần thể Khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái thể thao và vui chơi giải trí FLC Bắc Giang tại hồ Khuôn Thần

    9.1. Tình hình thực hiện: UBND huyện Lục Ngạn đã phối hợp với đơn vị tư vấn hoàn thiện xong nhiệm vụ Quy hoạch chi tiết Khu đô thị, du lịch sinh thái thể thao Khuôn Thần tại xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỷ lệ (1/500); ngày 09/9/2021 UBND huyện Lục Ngạn đã đề nghị Sở Xây dựng thẩm định, phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch chi tiết dự án (tỷ lệ 1/500).

    9.2. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh chỉ đạo Sở Xây dựng phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch chi tiết Khu đô thị, du lịch sinh thái thể thao Khuôn Thần tại xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỷ lệ (1/500), thời gian xong trong tháng 9/2021. Đôn đốc UBND huyện Lục Ngạn phối hợp với Chủ đầu tư tổ chức lập Quy hoạch chi tiết, trình Sở Xây dựng thẩm định, dự kiến xong trong tháng 10/2021 để tổ chức thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch chi tiết, dự kiến xong trong tháng 11/2021.

    10. Dự án Khu du lịch Tâm linh – Sinh thái Tây Yên Tử

    10.1. Tình hình triển khai thực hiện dự án: Tổng diện tích đất đã thu hồi đến nay đạt 78,6ha/136,36 ha tăng 15,46ha. Đến nay, dự án đã được UBND tỉnh cho thuê đất với tổng diện tích 42,51ha. Lũy kế giá trị thực hiện đến nay đạt 1.108,906 tỷ đồng.

    10.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng rất chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu; công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chưa có hiệu quả, một số hộ dân có những yêu cầu việc bồi thường, GPMB không đúng quy định; trách nhiệm thuộc UBND huyện Sơn Động.

    10.3. Nhận xét, đánh giá: Dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án, theo đó dự án hoàn thành đi vào hoạt động toàn bộ từ quý IV/2024. Tuy nhiên, tính đến nay công tác GPMB và bàn giao mặt bằng còn xôi đỗ và rất chậm so với tiến độ đã được phê duyệt và kế hoạch đề ra, trách nhiệm thuộc UBND huyện Sơn Động. Đồng thời, việc hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích đã hoàn thành GPMB, việc điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng dự án chậm so với kế hoạch. Trách nhiệm thuộc Nhà đầu tư.

    10.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2021: UBND tỉnh sẽ chỉ đạo UBND huyện Sơn Động khẩn trương chỉ đạo các cơ quan có liên quan hoàn thành công tác GPMB toàn bộ diện tích đất dự án trong Quý IV/2021; yêu cầu Chủ đầu tư khẩn trương hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích đã hoàn GPMB thời gian xong trong tháng 11/2021 và hoàn thành thủ tục phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết dự án trong tháng 12/2021 để khởi công xây dựng các hạng mục công trình giai đoạn 2,3 của dự án trong tháng 12/2021.

  • Bắc Giang: Lao động tại các khu công nghiệp tăng cao

    Bắc Giang: Lao động tại các khu công nghiệp tăng cao

    (BGĐT)-Với sự hoạt động trở lại của hầu hết doanh nghiệp (DN) sản xuất sau dịch, hiện nay, số lao động làm việc tại các khu công nghiệp (KCN) của tỉnh Bắc Giang tăng mạnh.

    Theo Sở Công Thương, tình hình dịch Covid-19 tại tỉnh đã được kiểm soát, tất cả DN trong KCN đã ổn định, sản xuất trở lại, sản lượng và doanh thu sản phẩm đều tăng so với cùng kỳ.

    Cụ thể, 377 DN trong các KCN hoạt động trở lại (đạt tỷ lệ 100%) với khoảng 169.000 lao động làm việc, tăng hơn 19 nghìn lao động so với trước dịch. Lượng lao động tăng thêm này chủ yếu là những người trước đây đi làm ở các DN ngoài tỉnh, nay ở lại làm việc tại DN trong tỉnh. Cùng đó, nhiều DN mở rộng quy mô thu hút lao động cao hơn so với trước.

    Với quyết tâm không để đứt gãy chuỗi cung ứng, tỉnh Bắc Giang đã linh hoạt áp dụng nhiều giải pháp; thành lập Ban Chỉ đạo hỗ trợ khôi phục hoạt động sản xuất công nghiệp, kinh doanh thương mại, trong đó quan tâm giúp DN tuyển dụng lao động. 

    Bên cạnh sự vào cuộc của chính quyền địa phương, các sở, ngành, nhiều DN cũng có chế độ đãi ngộ người lao động nên thu hút nhiều công nhân đến làm việc. Công ty TNHH Newwing Interconnect Technology (KCN Vân Trung) ngoài lương cơ bản, tiền ăn, trợ cấp chuyên cần còn hỗ trợ công nhân chi phí thuê trọ. Công ty TNHH Vina Solar Technology (KCN Vân Trung) hỗ trợ cho hàng trăm công nhân ngoài tỉnh ăn nghỉ tại DN, trang bị các vật dụng cá nhân, giúp người lao động yên tâm làm việc. 

    Nhờ đồng bộ các giải pháp, công nhân làm việc tại KCN tăng mạnh, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của DN.

    Dự báo, thời gian tới, nhiều DN, nhất là tập đoàn lớn có nhu cầu tuyển hơn 20 nghìn lao động để mở rộng sản xuất như: Công ty TNHH Luxshare – ICT Việt Nam cần khoảng 12.000 người; Công ty TNHH Newwing Interconnect Technology cần 5.000 người; Công ty TNHH Công nghệ Lens Việt Nam 1.000 người; Công ty TNHH Hosiden Việt Nam cần 2.000 người…

    Để đáp ứng nguồn nhân lực, ngày 20/9, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Chỉ thị số 14/CT-UBND về việc phòng, chống dịch Covid-19 tại các DN sản xuất công nghiệp trong các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

    Theo đó quy định, DN trong các KCN chỉ được tuyển dụng và sử dụng lao động cư trú ở vùng xanh; không được tuyển dụng và sử dụng lao động đang cư trú ở vùng đỏ, vùng vàng ngoài tỉnh; không sử dụng lao động thời vụ, ngắn hạn. DN phải thực hiện nghiêm việc giao kết hợp đồng lao động với người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động và phải cập nhật đầy đủ thông tin của tất cả người lao động vào phần mềm quản lý lao động và truy vết.

    Đối với lao động ngoài tỉnh mới tuyển dụng, khi vào tỉnh Bắc Giang phải có kết quả xét nghiệm bằng phương pháp RT-PCR âm tính với SARS-CoV-2 trong vòng 48 giờ; DN phải thực hiện cách ly 7 ngày và qua 2 lần xét nghiệm SARS-CoV-2 bằng phương pháp RT-PCR (mỗi lần cách nhau 3 ngày), có kết quả âm tính mới được phép vào DN làm việc. Sau khi vào DN làm việc được xác định là đối tượng nguy cơ cao trong 10 ngày tiếp theo phải thực hiện xét nghiệm tầm soát với tần suất 3 ngày/lần. DN lập danh sách cụ thể gửi Ban Quản lý các KCN tỉnh để theo dõi, giám sát.

    Tin, ảnh: Trường Sơn