Danh mục: Tin tức kinh tế

  • Bắc Giang nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã

    (BGĐT) – Trong thời đại công nghiệp 4.0, việc liên kết, chia sẻ thông tin để tăng cường xúc tiến thương mại là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã (HTX), đặc biệt đối với khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

    Chủ động hội nhập

    Với mục tiêu tạo ra các sản phẩm từ lợn sạch, HTX Chăn nuôi và Dịch vụ thực phẩm sạch Tín Nhiệm (TP Bắc Giang) đã hợp đồng với nhà sản xuất thức ăn cung cấp nguồn thức ăn chính bằng thực phẩm hữu cơ. HTX cũng đã xây dựng nhà xưởng và áp dụng quy trình giết mổ tập trung, đóng gói và đa dạng các sản phẩm từ lợn. Cuối năm 2018, sản phẩm sạch 3S của HTX đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa.

    Bình quân mỗi ngày, HTX cung ứng ra thị trường 5 tấn các sản phẩm từ lợn như: thịt chân giò, thịt ba chỉ, thịt vai… và giò nạc, xúc xích, lạp xườn qua hệ thống các cửa hàng thực phẩm sạch, siêu thị tại Bắc Giang, Bắc Ninh và Thủ đô Hà Nội. Ngoài ra, HTX còn triển khai bán hàng qua hệ thống thương mại điện tử khi khách hàng có yêu cầu.Theo anh Lưu Văn Nhiệm, Giám đốc HTX, khi đã có sản phẩm chất lượng thì việc liên kết, chia sẻ thông tin để xúc tiến thương mại là yếu tố quan trọng. Đơn vị đã tham gia nhiều cuộc triển lãm, hội chợ giới thiệu sản phẩm. Kết quả, sản phẩm đầu ra của HTX đã tiếp cận với chuỗi các cửa hàng thực phẩm sạch, siêu thị trong và ngoài tỉnh. 

    Cũng như HTX Chăn nuôi và Dịch vụ thực phẩm sạch Tín Nhiệm, một trong những việc được HTX Nông nghiệp Đồng Tâm 3 (Hiệp Hòa) quan tâm, đó chính là khâu liên kết và mở rộng thị trường tiêu thụ. Theo ông Nguyễn Văn Nghiệp, Giám đốc HTX, với sản phẩm chính: Dưa lưới và nho trồng theo quy trình công nghệ cao, nên thị trường mà HTX quan tâm là các siêu thị và chuỗi cửa hàng bán thực phẩm sạch. 

    Để vào được các điểm bán hàng này, đơn vị đã sản xuất các sản phẩm theo quy trình VietGAP gắn với tem truy xuất nguồn gốc, đồng thời tiếp cận, giới thiệu quảng bá rộng rãi. Hiện nay, các mặt hàng của HTX đã được người tiêu dùng ở Thủ đô Hà Nội tiếp nhận qua siêu thị và các chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch.

    Giữ vai trò “bà đỡ”

    Được biết, nhằm tạo điều kiện giúp các HTX trong khâu liên kết, chia sẻ thông tin, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành liên quan triển khai nhiều giải pháp. Chỉ tính 5 năm trở lại đây, tỉnh hỗ trợ kinh phí cho các HTX tham gia hội chợ trong và ngoài nước với số tiền gần 1,5 tỷ đồng, bình quân 10-15 triệu đồng/HTX/lần. Nhiều HTX được hướng dẫn đăng ký mã số, mã vạch quốc gia, ghi nhãn hiệu lên bao bì sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. 

    Hiện toàn tỉnh có 46 sản phẩm được cấp chứng nhận quyền sở hữu công nghiệp trong thời hạn. Trong đó, 1 chỉ dẫn địa lý, 4 nhãn hiệu chứng nhận và 41 chứng nhận tập thể do các HTX và hội đăng ký. Đặc biệt, ngoài việc được bảo hộ trong nước, 4 nông sản được bảo hộ ở nước ngoài gồm: Vải thiều Lục Ngạn, mỳ Chũ, mỳ Kế, gà đồi Yên Thế.

    Liên minh HTX tỉnh đã thực hiện hỗ trợ các HTX, tổ hợp tác, hộ kinh doanh cá thể sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hoàn thiện sản phẩm, đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn, đưa sản phẩm vào trưng bày, giới thiệu và tiêu thụ trong các siêu thị, chuỗi bán lẻ hiện đại. Tại hội nghị xúc tiến thương mại sản phẩm nông nghiệp của các HTX tỉnh Bắc Giang với các tỉnh, TP gần đây, đã có hàng chục lượt biên bản ghi nhớ, hợp tác giữa các doanh nghiệp, siêu thị, đơn vị tiêu thụ sản phẩm với các HTX và Liên minh HTX tỉnh được ký kết.

    Không chỉ ở tỉnh, để mở đường cho nông sản an toàn của địa phương vào các siêu thị, hệ thống phân phối hiện đại, Liên minh HTX tỉnh là cầu nối đưa các sản phẩm tiêu biểu của các HTX tiếp cận với các hội chợ xúc tiến thương mại tại nhiều địa phương trong cả nước, gần đây nhất là tại Ninh Bình và Thái Nguyên.

    Ông Nguyễn Đức Hiền, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh cho biết: Tìm giải pháp đưa sản phẩm của các HTX vào hệ thống phân phối thương mại hiện đại là bước đi quan trọng nhằm hướng đến mục tiêu sản xuất an toàn, cung ứng sản phẩm chất lượng cho người tiêu dùng và thực hiện tốt cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. 

    Những kết quả bước đầu thông qua việc liên kết, xúc tiến thương mại đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được vào các siêu thị, chuỗi bán lẻ. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX trên địa bàn.

  • EU hoàn tất phê chuẩn EVFTA

    Hiện tại, EVFTA chỉ cần được Quốc hội phê chuẩn và hai bên hoàn tất thủ tục thông báo là sẽ có hiệu lực.

    Hôm qua (30/3), Hội đồng châu Âu (EC) quyết định thông qua Hiệp định thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam (EVFTA). Đây là bước pháp lý cuối cùng theo thủ tục phê chuẩn nội bộ của EU để EVFTA có hiệu lực. Trước đó, ngày 12/2, Nghị viện châu Âu (EP) đã bỏ phiếu thông qua hiệp định này .

    Hiện tại, EVFTA chỉ cần được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn và hai bên hoàn tất thủ tục thông báo (dự kiến 30 ngày kể từ ngày thông báo) là sẽ có hiệu lực. Ngày 21/2, Bộ Công Thương đã trình Chính phủ bộ hồ sơ về việc phê chuẩn Hiệp định EVFTA. Đến ngày 24/3, Bộ Công Thương đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo bộ hồ sơ của Chính phủ trình Chủ tịch nước để Chủ tịch nước xem xét, quyết định trình Quốc hội về việc phê chuẩn Hiệp định.

    Thỏa thuận này sẽ gỡ bỏ gần như toàn bộ thuế nhập khẩu giữa hai bên trong vòng 10 năm. Theo đó, 65% hàng xuất khẩu của EU vào Việt Nam sẽ ngay lập tức được miễn thuế. Thuế với số hàng hóa còn lại sẽ dần về 0% trong vòng 10%.

    Ngược lại, 71% hàng xuất khẩu của Việt Nam vào EU sẽ được miễn thuế ngay trong ngày đầu tiên. Số hàng hóa còn lại sẽ được miễn trong vòng 7 năm. Thỏa thuận còn bao gồm các điều khoản về gỡ bỏ rào cản phi thuế quan, chỉ dẫn địa lý, về ngành dịch vụ, mua sắm công và phát triển bền vững.

    EU là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, song thị phần hàng hoá của khu vực này còn khiêm tốn, bởi năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam còn hạn chế. Vì vậy, với cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ, khả năng cạnh tranh về giá của hàng hóa Việt Nam khi nhập khẩu vào EU sẽ tăng.

    EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

    Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý-thể chế.

    Theo: Hà Thu 

  • Vietcombank cho vay mới hơn 41.200 tỷ đồng trong đại dịch

    Vietcombank cho vay mới hơn 41.200 tỷ đồng trong đại dịch

    Vietcombank cho biết sẽ tiếp tục thực hiện nhanh và mạnh hơn nữa các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị tác động bởi Covid- 19.

    Con số được công bố tại cuộc họp các chi nhánh trên toàn hệ thống Vietcombank sáng ngày 30/3, tổ chức qua các điểm cầu truyền hình trực tuyến. Cuộc họp nhằm đánh giá việc triển khai các biện pháp hỗ trợ khách hàng doanh nghiệp của Vietcombank trong Covid-19, đặc biệt là sau 2 tuần kể từ ngày Thông tư 01 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực.

    Vietcombank cho biết đã thực hiện giải ngân cho vay mới hơn 41.200 tỷ đồng từ ngày 23/1 đến nay, góp phần hỗ trợ các khách hàng chịu ảnh hưởng bởi Covid-19, đảm bảo duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và cân đối dòng tiền. Nhà băng còn đồng hành với khách hàng rà soát đánh giá các phương án sản xuất kinh doanh, cân đối tài chính, dòng tiền để có những tư vấn và hỗ trợ phù hợp.

    Tổng dư nợ của các khách hàng có gặp khó khăn tạm thời do bị ảnh hưởng bởi Covid-19 được Vietcombank giữ nguyên nhóm nợ từ đầu năm đến nay là trên 8.200 tỷ đồng.

    Trong thời gian tới, nhiều trường hợp trong tổng số hơn 50.000 tỷ đồng dư nợ cho vay bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 sẽ được ngân hàng xem xét cơ cấu nợ, giữ nguyên nhóm nợ theo quy định.

    Một quầy giao dịch của Vietcombank.

    Một quầy giao dịch của Vietcombank.

    Thời gian qua, Vietcombank đồng bộ việc giảm, ưu đãi lãi suất cho vay và giảm phí dịch vụ cho khách hàng. Cụ thể, tổng số dư nợ các ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng bởi Covid-19 được Vietcombank hỗ trợ, ưu đãi lãi suất thấp hơn 0,5% – 1,5% so với mặt bằng lãi suất chung đến nay lên tới trên 112.700 tỷ đồng.

    Về phí dịch vụVietcombank giảm đồng loạt phí giao dịch ngân hàng điện tử 24/7, nhằm khuyến khích khách hàng sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, đồng thời miễn phí chuyển tiền ủng hộ phòng chống dịch Covid-19 và chống hạn mặn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

    Vietcombank cho biết sẽ đảm bảo duy trì hoạt động liên lục trong mùa dịch tại tất cả các chi nhánh, phòng giao dịch trên toàn quốc. Thời gian giao dịch từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần, trừ các ngày nghỉ theo quy định. Ngân hàng khuyến khích khách hàng sử dụng các dịch vụ trực tuyến 24/7 do Vietcombank cung cấp, nhằm tối ưu hóa hiệu quả tài chính đồng thời hạn chế rủi ro lây nhiễm bệnh cho khách hàng, nhân viên và cộng đồng. Vietcombank cũng sớm triển khai kế hoạch ứng phó toàn diện theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Y tế và Ngân hàng Nhà nước về việc phòng, chống Covid-19. Các thông tin quan trọng sẽ được thông báo trên trang thông tin điện tử chính thức, kênh liên lạc khách hàng đã đăng ký, đảm bảo các quyền lợi của khách hàng.

    Các chi nhánh trên toàn hệ thống Vietcombank tham gia Hội nghị qua các điểm cầu truyền hình trực tuyến hôm 30/3.

    Các chi nhánh trên toàn hệ thống Vietcombank tham gia hội nghị qua các điểm cầu truyền hình trực tuyến hôm 30/3.

    Thời gian qua, Vietcombank triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ an sinh xã hội, như trao tặng 10 tỷ đồng cho công tác phòng, chống Covid-19 do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, hỗ trợ 2 tỷ đồng cho 7 cơ sở quân đội được giao nhiệm vụ tiếp nhận, cách ly người dân trở về từ vùng dịch.

    Đại diện Vietcombank (bên phải) ủng hộ 10 tỷ đồng tại lễ phát động toàn dân ủng hộ phòng, chống Covid-19.

    Đại diện Vietcombank (bên phải) ủng hộ 10 tỷ đồng tại lễ phát động toàn dân ủng hộ phòng, chống Covid-19 hôm 17/3.

    Tại các địa phương, nhà băng giao chi nhánh Hưng Yên hỗ trợ hơn 2,6 tỷ đồng cho Sở Y tế Hưng Yên, mua một xe cứu thương và 2 máy siêu âm màu xách tay. Chi nhánh Hà Tĩnh hỗ trợ 500 triệu đồng cho Ủy ban mặt trận Tổ quốc huyện Hương Sơn và tặng 500 triệu đồng cho Sở Y tế tỉnh Hà Tĩnh, mua các dụng cụ y tế cần thiết như khẩu trang, nước rửa tay…

    Ngoài ra, nhiều chi nhánh, tổ chức đoàn thể khác có mức hỗ trợ từ 50-100 triệu đồng cùng các nhu yếu phẩm và thiết bị cho các đơn vị làm công tác phòng chống dịch và cách ly của các địa phương.

    Theo: Phong Vân

  • Mỗi lít xăng đang ‘gánh’ bao nhiêu thuế, phí

    Mỗi lít xăng đang ‘gánh’ bao nhiêu thuế, phí

    Giá xăng có thể thấp hơn nhiều mức 12.000 đồng hiện nay nếu như không phải “cõng” gần 70% thuế, phí.

    Mỗi lít xăng đang 'gánh' bao nhiêu thuế, phí

    Theo: Anh Minh – Tạ Lư

  • Những nét mờ trong bức tranh kinh tế quý I

    Những nét mờ trong bức tranh kinh tế quý I

    Kinh tế quý I không chỉ tăng thấp nhất 11 năm mà còn ghi nhận khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản hầu như không góp gì vào tăng trưởng chung. 

    Tổng cục Thống kê vừa công bố số liệu kinh tế ba tháng đầu năm, với tăng trưởng GDP chỉ đạt 3,82%. Lần gần nhất kinh tế Việt Nam tăng trưởng dưới 4% trong quý I là năm 2009 – năm đầu tiên khi khủng hoảng tài chính nổ ra. Và đây chưa phải là số liệu duy nhất phản ánh khó khăn của nền kinh tế do ảnh hưởng của đại dịch.

    %Tăng trưởng GDP quý I2010 – 20205.845.845.95.94.754.754.764.765.065.066.126.125.485.485.155.157.387.386.796.793.823.82201020122014201620182020024682014● Tăng trưởng GDP: 5.06

    Bởi phía sau là sự đi xuống của cả ba khu vực chính (nông, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp & xây dựng; dịch vụ). Trong đó, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản gần như không đóng góp gì vào bức tranh chung. Tăng trưởng của mảng này trong quý đầu tiên chỉ đạt 0,08% do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, Covid-19 và dịch tả lợn châu Phi. Trong đó, riêng khu vực nông nghiệp giảm 1,17% so với cùng kỳ.

    %Tăng trưởng ba khu vực của nền kinh tế2010 – 2020Nông lâm nghiệp và thủy sảnCông nghiệp và xây dựngDịch vụ201020122014201620182020-2.502.557.51012.5

    Trong quá khứ, như năm 2016 khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản suy yếu, nền kinh tế được “đỡ” lại bằng công nghiệp và dịch vụ. Còn quý I năm nay, cả hai khu vực này cùng giảm sút, xuống mức thấp nhất nhiều năm, với một lý do chung “tác động của Covid-19”. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng thấp nhất ba năm, trong khi dịch vụ tăng thấp nhất hơn một thập kỷ. 

    Ở khía cạnh thương mại và xuất nhập khẩu, kết quả cũng không khả quan hơn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I đạt hơn 1,2 triệu tỷ đồng, chỉ tăng 4,7% so với cùng kỳ và là mức tăng thấp nhất hơn 10 năm. Trong đó, riêng tháng 3, chỉ tiêu này giảm 0,8% – lần đầu tiên ghi nhận mức tăng âm trong 5 năm gần đây.

    Nghìn tỷ đồngTổng mức bán lẻ hàng hóa trong quý I2010 – 2020364.5364.5451.8451.8569.7569.7636.2636.2701.4701.4790.8790.8859.6859.6921.1921.11 0481 0481 184.91 184.91 246.11 246.120102012201420162018202002505007501000125015002016● Tổng mức bán lẻ hàng hóa: 859.6

    “Covid-19 đã tác động tới tâm lý người tiêu dùng, làm hạn chế mua sắm, du lịch và ăn uống ngoài gia đình do lo ngại dịch lây lan”, Tổng cục Thống kê lý giải.

    Với hoạt động xuất nhập khẩu, tính chung quý I, tổng kim ngạch hàng hóa đạt hơn 115 tỷ USD, giảm 0,7% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu chỉ tăng 0,5% còn nhập khẩu giảm 1,9%. Kết quả này đã chấm dứt chuỗi tăng liên tục từ năm 2010 đến 2019. 

    Tỷ USDKim ngạch xuất nhập khẩu quý I2010 – 2020141419.219.224.524.529.729.733.333.335.735.737.937.943.743.754.354.358.558.5595917.517.522.322.324.824.829.229.232.332.337.537.537.137.145.645.65353585856.356.3Xuất khẩuNhập khẩu20102012201420162018202002550751001252016● Nhập khẩu: 37.1

    Tương tự, những chỉ số chính như tổng vốn đầu tư vào nền kinh tế cũng chứng kiến đà giảm mạnh. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I tăng 2,2% so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng thấp nhất 10 năm, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 5,4%. Theo cơ quan thống kê, Covid-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh.

    %Tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội trong quý I2010 – 202026.226.214.714.712.812.85.55.53.83.89.19.110.710.78.68.610.410.48.88.82.22.2201020122014201620182020051015202530

    Dù những chỉ số trên chỉ suy giảm thay vì tăng trưởng âm, bức tranh kinh tế quý I đã phản ánh sự yếu đi rõ rệt về tổng cung và tổng cầu, sự chậm lại trong hoạt động sản xuất và tiêu dùng. Những yếu tố không chắc chắn cũng ngày càng hiện rõ. 

    Nhiều tiểu thương trong chợ bến Thành đã phải đóng các sạp hàng, ngày 27/3. Ảnh: Quỳnh Trần.

    Nhiều tiểu thương trong chợ bến Thành đã phải đóng các sạp hàng, ngày 27/3. Ảnh: Quỳnh Trần.

    Đầu tiên về cấu trúc nền kinh tế. “Trụ đỡ” trong quý I chủ yếu đến từ khu vực công nghiệp và xây dựng, nhưng điều này được dự báo khó duy trì. Vì những biện pháp hạn chế lây lan dịch bệnh chủ yếu áp dụng từ nửa cuối tháng 3, tình trạng dừng sản xuất, thiếu nguyên liệu, thị trường bắt đầu diễn ra trong giai đoạn này nên khả năng ảnh hưởng đến khu vực công nghiệp và xây dựng sẽ rõ ràng hơn trong quý II. Và ngành dịch vụ có thể còn tiếp tục sụt giảm. 

    Trong hoạt động thương mại, xuất khẩu chỉ tăng 0,5% ba tháng đầu năm nhưng riêng tháng 3 đã giảm hơn 12% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng cuối quý I, xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước giảm 3,7%, khu vực vốn đầu tư nước ngoài giảm 15,4%. Những mặt hàng chủ lực như dệt may, sắt thép, giày dép, thủy sản, điện thoại và linh kiện đều giảm ở mức hai con số.

    Vốn đầu tư FDI – được xem là điểm sáng trong nhiều năm gần đây, cũng suy giảm trong quý I. Còn vốn thực hiện từ nguồn ngân sách ba tháng đầu năm mới đạt 13,2% kế hoạch năm.

    Trước kiến nghị điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng khi GDP năm nay khó tăng 6,8%, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống Kê, cho rằng việc điều chỉnh là không cần thiết. 

    “Dưới góc độ cơ quan thống kê, chúng tôi cho rằng không nên đề xuất sửa mục tiêu tăng trưởng chỉ để hoàn thành kế hoạch. Tăng trưởng 6,8% trong năm nay là điều rất khó, nếu đạt 5% cũng xem là rất thành công”, ông Lâm nói.

    Theo khuyến nghị của cơ quan thống kê, bài toán khó trong tăng trưởng năm nay có thể giải quyết bằng động lực thể chế, gia tăng hiệu quả sử dụng vốn, cải thiện năng suất lao động, thay đổi cơ cấu kinh tế. Giải ngân thêm 1% vốn đầu tư công giúp GDP tăng 0,06%. Trong khi đó, nếu hệ số đầu tư tăng trưởng (ICOR) giảm 0,5 thì GDP tăng 0,64%, ICOR giảm 1 thì GDP tăng 1,42%. Năng suất lao động cũng là một yếu tố tạo lực đẩy cho tăng trưởng khi tăng 1% có thể làm GDP tăng 0,94%.

    “Kinh tế đang rất khó khăn, thậm chí kéo dài những quý sau. Việt Nam không có nguồn lực mạnh như Mỹ để có thể phát cho dân 1.000 USD, cung cấp các gói cứu trợ mấy nghìn tỷ USD, nhưng chúng ta sẽ có những giải pháp khác. Tăng trưởng kinh tế sẽ đạt mức tích cực, có thể không hoàn thành mục tiêu 6,8% nhưng sẽ hơn hiện trạng chung của thế giới”, Tổng cục trưởng Thống kê cho biết.

     Theo: Minh Sơn

  • TS Vũ Đình Ánh: Cần vận hành kinh tế an toàn thay vì đóng băng

    TS Vũ Đình Ánh: Cần vận hành kinh tế an toàn thay vì đóng băng

    Không ủng hộ việc duy trì sản xuất nhưng lại dừng kinh doanh, ông Vũ Đình Ánh cho rằng nền kinh tế vẫn có thể được vận hành an toàn dù trong đại dịch.

    – Chính phủ đã ban hành gói tín dụng 285.000 tỷ và đang xem xét gói tài khoá giãn thuế hơn 80.200 tỷ nhằm giảm áp lực tài chính ngắn hạn cho doanh nghiệp. Ông đánh giá như thế nào về tác động của các giải pháp này?

    – Các giải pháp tài khoá như giãn, hoãn, giảm thuế sẽ giúp doanh nghiệp giảm gánh nặng nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Hiện tại, đó là một phương án hợp lý.

    Trong khi đó, gói tín dụng 285.000 tỷ đồng với lãi suất thấp thực tế không tác động nhiều tới các ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp. Doanh nghiệp hiện không có nhu cầu vay mới do sản xuất – kinh doanh đã suy giảm đáng kể. Điều họ lo ngại nhất là nghĩa vụ tài chính khi các khoản vay đến hạn, nhất là vay ngân hàng. Lúc này, họ cần được giãn, hoãn các nghĩa vụ tài chính liên quan đến trả nợ gốc, lãi vay đối với các khoản nợ cũ, chứ không phải giảm lãi suất cho hợp đồng tín dụng mới.

    Giải pháp cho doanh nghiệp vay vốn với lãi suất 0% để trả lương cho người lao động cũng không hợp lý, bởi chưa biết dịch bệnh bao lâu mới kết thúc. Nếu doanh nghiệp không thể hồi phục, người lao động cũng không còn cơ hội trở lại doanh nghiệp làm việc.

    Cuối cùng, kích cầu kinh tế đồng nghĩa với việc phải nới lỏng điều kiện hoạt động kinh doanh cho người dân, doanh nghiệp. Nhưng hành động này lại mâu thuẫn với biện pháp hạn chế tập trung đông người, dừng hoạt động kinh doanh, dịch vụ, thương mại đang được nhiều địa phương áp dụng.

    – Trong cuộc họp thường trực Chính phủ ngày 27/3, Thủ tướng đã đề nghị tính toán, nghiên cứu một gói hỗ trợ từ trái phiếu chính phủ để kích cầu. Ông đánh giá sao về tính khả thi của giải pháp này?

    – Tôi cho là không phù hợp. Phát hành trái phiếu là việc được thực hiện khi nền kinh tế vận hành bình thường. Sau 3 tháng đầu năm nay, các tổ chức và định chế tài chính rơi vào trạng thái gián đoạn dòng tiền do các hoạt động kinh tế, thương mại đình trệ. Vậy ai sẽ mua số trái phiếu được Chính phủ phát hành?

    Tiếp đó, nợ công của Việt Nam gia tăng qua từng năm, việc phát hành trái phiếu chính phủ chắc chắn sẽ khiến tỷ lệ nợ công/GDP thay đổi, tạo áp lực đáng kể lên thu – chi ngân sách năm nay và các năm tiếp theo.

    Chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh.

    Chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh. Ảnh: Trọng Hiếu.

    – Trong điều kiện ngân sách có hạn, theo ông, Chính phủ nên có những giải pháp ưu tiên gì để hỗ trợ doanh nghiệp?

    – Theo tôi, Chính phủ cần có phương án vận hành nền kinh tế trong bối cảnh dịch bệnh thay vì dừng hẳn hoạt động kinh doanh để chống dịch. Không thể đồng ý cho nhà máy, phân xưởng hoạt động sản xuất, nhưng dừng hoạt động kinh doanh được. Như vậy hàng hoá sản xuất ra sẽ bán cho ai? Việc cần làm trước tiên là xây dựng phương án vận hành cả sản xuất – kinh doanh nhưng vẫn tránh lây nhiễm bệnh.

    Thứ hai, giai đoạn đầu diễn ra Covid-19, doanh nghiệp bị gián đoạn nguồn cung nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất do phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Gần đây, khi dịch bệnh tại Trung Quốc dần được kiểm soát, nguồn cung có thể được nối lại, doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với bài toán thiếu thị trường tiêu thụ do dịch lan rộng ra nhiều quốc gia, dẫn tới tình trạng cách ly, kiểm soát chặt chẽ ở các cửa khẩu hải quan.

    Vậy nên, cần tìm nguồn cung thay thế, giảm phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc thông qua gia tăng tỷ lệ nội địa hoá, tăng cường các ngành công nghiệp hỗ trợ. Nếu có gói hỗ trợ cho vay, nên dành cho đối tượng này. Từ đó, họ sẽ có thêm cơ hội mở rộng quy mô sản xuất, tiến tới giảm dần sự phụ thuộc với thị trường cung cấp nguyên vật liệu nước ngoài.

    Thứ ba, Chính phủ phải quan tâm tới đầu ra tiêu thụ sản phẩm. Khi dịch đã lan tới nhiều quốc gia, mục tiêu kích thích xuất khẩu cực kỳ khó khăn, doanh nghiệp cũng phải chịu một khoản phí tổn lớn. Những chính sách lúc này cần tập trung phát triển thị trường nội địa. Việc này vừa giúp doanh nghiệp Việt Nam giải bài toán thị trường trong ngắn hạn, vừa tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    Thứ tư, cần giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp. Khi doanh thu từ hoạt động sản xuất – kinh doanh không phát sinh, dòng tiền của doanh nghiệp gặp khó khăn, giải pháp đơn giản nhất là giảm các nghĩa vụ của họ với nhà nước và bạn hàng.

    Những giải pháp này sẽ duy trì sức cầu của nền kinh tế, đồng thời bảo đảm đầu ra cho hoạt động sản xuất – kinh doanh.

    Các cửa hàng trên phố Đào Duy Từ (Hà Nội) đóng cửa theo yêu cầu để tránh lây lan trong mùa dịch. Ảnh: Giang Huy.

    Các cửa hàng trên phố Đào Duy Từ (Hà Nội) đóng cửa theo yêu cầu để tránh lây lan trong mùa dịch. Ảnh: Giang Huy.

    – Với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần làm sao để đảm bảo sự phá sản hàng loạt không xảy ra?

    – Đặc điểm nổi bật của đối tượng này là tính linh hoạt cao, có thể nhanh chóng chuyển đổi phương thức hoạt động. Tôi thấy không ít cơ sở giáo dục tổ chức học nhóm bằng skype, zalo, livestream trên fanpage. Nhiều tiệm cà phê, nhà hàng đã tiếp thị, bán hàng qua trang thương mại điện tử, facebook, sử dụng dịch vụ vận chuyển. Vậy nên, Chính phủ và các địa phương cần định hướng sản xuất – kinh doanh cho họ.

    Song vấn đề nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối mặt rất đa dạng, thay vì áp dụng chính sách chung cho hàng trăm nghìn doanh nghiệp, nên có những chính sách khác biệt cho từng nhóm.

    Những doanh nghiệp cần nguồn lực tài chính để duy trì hoạt động, ngân hàng có thể hỗ trợ họ bằng qua các tín dụng với lãi suất thấp. Với doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm hướng đi mới, các địa phương, Bộ, ngành có thể cung cấp thông tin mang tính chất tư vấn. Nếu doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn về lực lượng lao động, cần kích hoạt thị trường này. Trường hợp doanh nghiệp không thể hoạt động liên tục, nên tạo điều kiện cho họ dừng kinh doanh hoặc giải thể.

    Tôi chỉ lưu ý là cần hết sức tránh để doanh nghiệp rơi vào tình trạng tới hạn vẫn không trả được nợ, buộc phải phá sản. Các phương án giãn, hoãn, giảm thuế, tiền thuê đất sẽ giúp Chính phủ giải quyết điều này.

    – Ngoài gói hỗ trợ tín dụng 285.000 tỷ đồng, phần lớn các phương án hỗ trợ nền kinh tế vẫn nằm trên giấy do phải trải qua quy trình thông qua về pháp luật phức tạp theo quy định. Ông có đề xuất gì để các chính sách hỗ trợ sớm được ban hành và phát huy hiệu quả?

    – Hiện quy định phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm của từng tổ chức khá phức tạp nhưng không đến mức cản trở một quyết định, đề xuất nào. Với những vấn đề cấp bách, vượt quá quyền hạn của Chính phủ, vẫn có thể trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định, không cần đợi đến kỳ họp Quốc hội hàng năm.

    Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải có đề án và lựa chọn định hướng rõ ràng, theo hệ thống, có những chi tiết cụ thể để đảm bảo tính khả thi. Không nên để diễn ra tình trạng hôm nay nghĩ ra cái này, ngày mai nghĩ ra cái khác đều trình Quốc hội cho ý kiến. Cách làm việc như vậy thể hiện sự manh mún, không đồng bộ, thậm chí các đề xuất dễ xung đột nhau.

    – Bên cạnh hình thức hỗ trợ trực tiếp tài chính, theo ông nên chuyển đổi công việc cho nhóm lao động bị mất việc làm ra sao?

    – Việc này nên để thị trường giải quyết. Nhà nước chỉ cần hướng nguồn lực của nền kinh tế phát triển vào đâu, dòng chảy lao động sẽ dịch chuyển tới đó.

    Dịch bệnh là yếu tố xuất hiện nhất thời, nhưng chúng ta không biết nó kéo dài bao lâu. Còn bài toán đào tạo, chuyển dịch, chuyển đổi công việc mang tính dài hạn. Vậy nên, nhà nước không thể can thiệp, phải để cho thị trường tự vận động. Khi các hoạt động sản xuất – kinh doanh chuyển động theo hướng vừa phải duy trì hoạt động, vừa phải đảm bảo an toàn thì thị trường lao động sẽ tự chuyển dịch theo.

    Theo: Hoàng Thắng (vnexpress.net)

  • Khai thác đất san lấp mặt bằng trái phép tại xã Trù Hựu (Lục Ngạn)

    (BGĐT) – Theo phản ánh của người dân, những ngày gần đây trên địa bàn thôn Hựu, xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) xảy ra tình trạng khai thác đất san lấp mặt bằng trái phép vận chuyển ra khỏi địa bàn nhằm trục lợi bất chính. 

    Hiện trường khu vực khai thác đất san lấp mặt bằng trái phép tại thôn Hựu, xã Trù Hựu (Lục Ngạn).

    Hiện trường khu vực khai thác đất san lấp mặt bằng trái phép tại thôn Hựu, xã Trù Hựu (Lục Ngạn).

    Đại diện lãnh đạo xã Trù Hựu xác nhận có tình trạng trên xảy ra. Các đối tượng múc đất san lấp mặt bằng tại diện tích đất của gia đình ông Phạm Văn Đô và Nguyễn Văn Hiện được cấp phép hạ độ cao từ cuối năm ngoái nhưng nay đã hết hạn.

    Thực trạng trên gây thất thoát tài nguyên khoáng sản, thất thu ngân sách, mất an ninh trật tự trên địa bàn khiến người dân bức xúc.

    Đề nghị UBND huyện Lục Ngạn khẩn trương chỉ đạo lực lượng chức năng, UBND xã Trù Hựu kiểm tra, xử phạt nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm.

    Theo: Báo Bắc Giang 

  • DN Việt chia sẻ vì sao không nên sa thải lao động trong đại dịch COVID-19: Bạn sẽ biến khủng hoảng do dịch bệnh thành một cuộc suy thoái kinh tế! Đây cũng là lúc người tài nhìn cách hành xử của DN để quyết định gắn bó sau này!

    DN Việt chia sẻ vì sao không nên sa thải lao động trong đại dịch COVID-19: Bạn sẽ biến khủng hoảng do dịch bệnh thành một cuộc suy thoái kinh tế! Đây cũng là lúc người tài nhìn cách hành xử của DN để quyết định gắn bó sau này!

    Trong một cuộc khủng hoảng, doanh nghiệp cần chuẩn bị tốt về nguồn lực Tài chính và Con người. Khủng hoảng do dịch bệnh chu kỳ thường ngắn, giờ nếu sa thải hết thì lấy gì phát triển trong tương lai? Ở góc độ người lao động, đây cũng là lúc nhìn cách doanh nghiệp hành xử với mình để đưa lựa nơi chốn gắn bó sau này…

    DN Việt chia sẻ vì sao không nên sa thải lao động trong đại dịch COVID-19: Bạn sẽ biến khủng hoảng do dịch bệnh thành một cuộc suy thoái kinh tế! Đây cũng là lúc người tài nhìn cách hành xử của DN để quyết định gắn bó sau này!

    Tính đến 16 giờ ngày 21/3/2020, đại dịch COVID-19 đã lan ra 181 quốc gia và vùng lãnh thổ, với gần 280.000 ca nhiễm và hơn 11.400 ca tử vong. Tác động tới kinh tế từ đại dịch lần này không còn được so với dịch SARS năm 2003, mà được đưa lên bàn cân với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008.

    Trong cuộc khủng hoảng này, nhiều doanh nghiệp đang vật lộn sinh tồn, tìm cách cắt giảm chi phí.

    Doanh nhân nào thời bình cũng khẳng định con người là tài sản quý nhất của công ty, nhưng trong khủng hoảng, con người là yếu tố hàng đầu được rất nhiều doanh nhân lựa chọn để cắt giảm

     

    Doanh nhân nào thời bình cũng khẳng định con người là tài sản quý nhất của công ty, nhưng trong khủng hoảng, con người là yếu tố hàng đầu được rất nhiều doanh nhân lựa chọn để cắt giảm.

    Tọa đàm “Covid-19: Doanh nghiệp chung tay vượt qua thử thách” do VnExpress tổ chức mới đây cũng nhận được câu hỏi từ một doanh nhân liên quan đến việc hành xử với nhân sự trong tâm bão COVID-19, cần nhắc việc nên sa thải hay giảm lương trong bối cảnh bài toán chi phí không còn kham nổi.

    Trả lời câu hỏi này, ông Phạm Phú Trường – CEO Công ty Tư vấn Hội Nhập Toàn Cầu (GIBC) kiêm Phó chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ TPHCM cho rằng cách hành xử thế nào sẽ tùy thuộc vào kịch bản của doanh nghiệp.

    Tùy vào dự báo khủng hoảng lần này kéo dài 3 tháng hay 6 tháng mà người doanh nhân sẽ đưa ra quyết sách phù hợp. Tuy nhiên, theo góc nhìn của ông Trường, đa số nền kinh tế sau thời gian khủng hoảng ngắn sẽ bật lên rất nhanh. Doanh nghiệp nào không sẵn sàng sẽ bị tụt hậu lại, bình bình như cũ hay thậm chí tệ hơn, nếu không có sự chuẩn bị.

    “Sự chuẩn bị ở đây là về tiềm lực về Tài chính, và Con người. Nếu sa thải hết thì lấy gì phát triển trong tương lai? Ở góc độ người lao động, đây cũng là lúc nhìn cách doanh nghiệp hành xử với mình để đưa lựa nơi chốn gắn bó sau này”, ông Trường chia sẻ.

    [22/3] DN Việt chia sẻ vì sao không nên sa thải lao động trong đại dịch COVID-19: Bạn sẽ biến khủng hoảng do dịch bệnh thành một cuộc suy thoái kinh tế! Đây cũng là lúc người tài nhìn cách hành xử của DN để quyết định gắn bó sau này! - Ảnh 2.

    Ông Kao Siêu Lực – Tổng giám đốc ABC Bakery – đơn vị được báo Mỹ ca ngợi sau khi sáng tạo ra bánh mỳ thanh long để hỗ trợ nông dân giải quyết vấn đề đầu ra khi nông sản dồn ứ – cũng đồng tình với ý kiến này.

    “Ở công tytôi coi công nhân là anh em. Bao nhiêu năm có được hôm nay là nhờ anh em, hôm nay mình gặp khó khăn lại tính chuyện sa thải họ, thực sự tôi làm không được. Công nhân là tài sản của tôi, tôi rất quý, tôi không dám nghĩ tới việc sa thải đó”, ông Lực chia sẻ.


     

    Khi câu chuyện sa thải nhân sự kéo theo một cuộc suy thoái kinh tế

    [22/3] DN Việt chia sẻ vì sao không nên sa thải lao động trong đại dịch COVID-19: Bạn sẽ biến khủng hoảng do dịch bệnh thành một cuộc suy thoái kinh tế! Đây cũng là lúc người tài nhìn cách hành xử của DN để quyết định gắn bó sau này! - Ảnh 4.

    Ảnh: Bloomberg.

    Ở góc độ vĩ mô, Phó chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ TPHCM phân tích: Khi người lao động bị sa thải, việc mất đi nguồn thu nhập sẽ kéo lực cầu giảm xuống, trở thành vòng xoáy kéo cả một nền kinh tế.

    “Lúc ấy, khủng hoảng do dịch bệnh sẽ trở thành suy thoái kinh tế thực sự. Còn chúng ta cố gắng cầm cự, cố gắng xử lý vấn đề nhân sự, đảm bảo một số yếu tố, chúng ta có thể ngăn không cho dịch này biến thành một cuộc suy thoái kinh tế”, ông Trường nói.

    [22/3] DN Việt chia sẻ vì sao không nên sa thải lao động trong đại dịch COVID-19: Bạn sẽ biến khủng hoảng do dịch bệnh thành một cuộc suy thoái kinh tế! Đây cũng là lúc người tài nhìn cách hành xử của DN để quyết định gắn bó sau này! - Ảnh 5.

    Ông Phạm Phú Trường – Phó chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ TPHCM

    Cùng chung ý kiến với ông Trường, ông Võ Minh Nhựt – Tổng giám đốc NS BlueScope Việt Nam – so sánh giữa khủng hoảng do đại dịch và khủng hoảng kinh tế và cho rằng: Hai cuộc khủng hoảng này có khác biệt.

    “Khủng hoảng do dịch bệnh chu kỳ thường ngắn, trong khi khủng hoảng kinh tế sẽ kéo dài vài năm”, ông Nhựt nói.

    Lấy ví dụ ảnh hưởng tới kinh tế từ dịch SARS năm 2003, ông Nhựt cho biết chu kỳ khủng hoảng do SARS kéo dài dưới 8 tháng, tức chỉ diễn ra trong một giai đoạn ngắn.

    Nay thay vì giải quyết một bài toán ngắn hạn, doanh nghiệp nào cũng tính chuyện phải cắt giảm nhân sự, đẩy một lực lượng lao động lớn ra ngoài xã hội, sẽ tạo nên một gánh nặng rất lớn cho ngân sách Nhà nước.

    “Nhân viên hiện nay đang trong giai đoạn khó khăn, nếu bị sa thải lại càng chồng chất thêm khó khăn hơn nữa. Chúng ta phải nhìn nhận rất tỉnh táo các kịch bản. Tôi vẫn cho rằng đây là kịch bản ngắn hạn và chúng ta phải bình tĩnh quyết định, tránh vấp phải sai lầm lớn hơn”, ông Nhựt nói.

    Một số gợi ý ứng xử với nhân sự của các doanh nhân:

    – Cắt giảm một số chi phí không ảnh hưởng nhiều đến người lao động và khách hàng như chi phí Marketing, Thương hiệu

    – Không tuyển mới hay thay thế nhân sự trong giai đoạn này thay vì nghĩ đến phương án giảm thiểu nhân viên

    – Dùng hết ngày phép trong năm, thậm chí cho “mượn” trước ngày phép của năm sau.

    “Có thể tôi sẽ không được quyền quyết định vì công ty có những chính sách từ tập đoàn đi xuống, nhưng trong phạm vi tôi có thể quyết định được, tôi sẽ không chọn phương án sa thải công nhân trong giai đoạn này”.

    “Nếu doanh số giảm tôi sẽ có biện pháp khác. Ví dụ cả người lao động và người sử dụng lao động cùng nhau giảm ngày phép mà chúng ta chưa sử dụng hết, hoặc cho mượn trước ngày phép sang năm. Những giải pháp này sẽ ít ảnh hưởng tới đời sống của người lao động nhất”, Tổng giám đốc NS BlueScope Việt Nam chia sẻ.

    – Sáng tạo ra sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu, thậm chí tạo cầu cho thị trường, từ đó hút thêm doanh số và tạo việc làm cho nhân viên, ông chủ thương hiệu bánh ABC gợi ý. Sau khi ABC cho ra đời bánh mỳ thanh long, thị trường xuất hiện thêm pizza thanh long của Pizza Home và burger thanh long của KFC.

    – Bố trí nhân viên ở các công đoạn phải giảm năng suất do ít việc, bù qua các công đoạn cần tăng năng suất, đại diện Vissan hiến kế.

    “Dịch này ngắn hạn chứ không thể dài hạn. Với cách quản lý tốt như Việt Nam, tôi nghĩ sẽ sớm dập tắt dịch”, ông Phan Văn Dũng – Phó tổng giám đốc Vissan – nhìn nhận.

    Theo: cafebiz.vn 

  • Kinh doanh thời Covid-19: Hiểu về BCP – “bí kíp” sinh tồn trong khủng hoảng được giới CEO nhắc đến nhiều nhất, khi CEO quản lý từ xa, còn nhân viên ở nhà cũng không lơ là công việc!

    Kinh doanh thời Covid-19: Hiểu về BCP – “bí kíp” sinh tồn trong khủng hoảng được giới CEO nhắc đến nhiều nhất, khi CEO quản lý từ xa, còn nhân viên ở nhà cũng không lơ là công việc!

    Khi Việt Nam xuất hiện bệnh nhân số 17 kéo theo làn sóng lo lắng thứ 2 với đại dịch Covid-19, để đảm bảo an toàn cho nhân viên cũng như tránh dịch bệnh lây lan, một loạt doanh nghiệp áp dụng chính sách làm việc từ xa. Thực tế, làm việc từ xa chỉ là một phần trong BCP (Business Continuity Plan – Kế hoạch đảm bảo kinh doanh không gián đoạn) – kế hoạch giúp giảm thiểu tối đa ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi có những rủi ro bất chợt như thiên tai, dịch bệnh…

    BCP là viết tắt của từ Business Continuity Plan – Kế hoạch đảm bảo kinh doanh không gián đoạn – một thuật ngữ được giới C-Levels nhắc đến khá nhiều trong bối cảnh Covid-19 diễn biến khó lường tới mức Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố là đại dịch như hiện nay.

    Để hiểu rõ hơn về BCP, chúng tôi xin trích lại nội dung trao đổi với bà Nguyễn Thu Trang – Giám đốc Dịch vụ Tuyển dụng và Tư vấn Nhân sự, Tập đoàn ManpowerGroup Việt Nam. ManpowerGroup là một trong những công ty cung cấp giải pháp nhân sự hàng đầu thế giới có trụ sở tại Hoa Kỳ, với lịch sử 72 năm hoạt động tại 80 thị trường toàn cầu, mã niêm yết chứng khoán New York MAN.


    BCP là gì?

    BCP (Business Continuity Plan) là kế hoạch ứng phó nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh liên tục, giúp ĐẢM BẢO AN TOÀN CAO NHẤT cho nhân viên, khách hàng, đối tác khi có những rủi ro bất chợt như thiên tai, dịch bệnh… Đồng thời giảm thiểu tối đa ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

     

    Triển khai BCP trong doanh nghiệp thế nào cho hiệu quả?

    Kinh doanh thời Covid-19: Hiểu về BCP - “bí kíp” sinh tồn trong khủng hoảng được giới CEO nhắc đến nhiều nhất, khi CEO quản lý từ xa, còn nhân viên ở nhà cũng không lơ là công việc! - Ảnh 2.

    Một ủy ban BCP hiệu quả nên bao gồm các nhóm lãnh đạo cấp cao với vai trò cụ thể như sau:

     Chủ tịch (BCP Chairman): chịu trách nhiệm phê duyệt kế hoạch ứng phó sát với tình hình thực tế.

    – Đội Phản ứng nhanh (Contingency Team): lên kế hoạch ứng phó, hướng dẫn cụ thể cho các bộ phận, cập nhật thông tin về diễn biến của dịch bệnh trong và ngoài nước, áp dụng các biện pháp dịch tễ hữu hiệu theo hướng dẫn của WHO và Bộ Y Tế, sắp xếp việc triển khai những chính sách ứng phó kịp thời đối với tình hình hoạt động kinh doanh (ví dụ: làm việc ở nhà, tách nhóm làm việc khi cần để hạn chế rủi ro,…).

    – Đội Ứng phó khẩn cấp và truyền thông (Emergency Response and Communication Team): là đầu mối liên lạc khi nhân viên báo cáo về tình hình dịch bệnh, lên kế hoạch và triển khai việc truyền thông trong nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp,…

    – Đội kỹ thuật và IT (IT Technical Services Team): quản lý và đảm bảo hỗ trợ kỹ thuật kịp thời đối với hoạt động kinh doanh và hoạt động của ủy ban BCP, lên kế hoạch chuẩn bị thiết bị cho nhân viên làm việc tại nhà,….

    Do đặc tính của mỗi ngành nghề khác nhau nên BCP cũng sẽ khác nhau. Tại ManpowerGroup Việt Nam, để triển khai BCP thành công, chúng tôi đã thành lập ủy ban BCP với các thành viên là các quản lý cấp cao trong doanh nghiệp.

     

    BCP bao gồm một chuỗi hành động, trong đó có việc cho phép nhân viên làm việc online. Phương thức này có làm giảm hiệu suất công việc?

     

    Theo nghiên cứu What Workers Want – Người Lao Động Quan Tâm Gì vừa ra mắt của tập đoàn ManpowerGroup, chúng tôi khuyến nghị doanh nghiệp cân nhắc các chế độ làm việc linh hoạt cho nhân viên, như làm việc tại nhà (work from home), làm việc từ xa (work from wherever),… vì đây là mong muốn của hầu hết các thế hệ người lao động (từ thế hệ Z – sinh sau năm 1995 đến thế hệ Y – thế hệ sinh sau năm 84).

    Theo nghiên cứu trên, thu nhập cao, sự linh hoạt trong công việc và công việc nhiều thử thách là các yếu tố chính thu hút và giữ chân người lao động. Làm việc online, hay còn gọi là làm việc trực tuyến, từ xa cũng là hình thức quen thuộc đối với các nước phát triển trên toàn cầu.

    Kinh doanh thời Covid-19: Hiểu về BCP - “bí kíp” sinh tồn trong khủng hoảng được giới CEO nhắc đến nhiều nhất, khi CEO quản lý từ xa, còn nhân viên ở nhà cũng không lơ là công việc! - Ảnh 3.

    Về chủ đề này, có thể nói ManpowerGroup Việt Nam là công ty có chế độ làm việc rất linh hoạt và luôn khuyến khích nhân viên sáng tạo trong công việc. Tuần làm việc đầu tiên ngay sau Tết chúng tôi đã áp dụng phương thức làm việc từ xa và nhận được những phản hồi tích cực về hiệu quả làm việc. Điều này cho thấy khi người lao động được linh hoạt hơn trong cách thức làm việc, họ sẽ rất trân trọng và đó chính là một trong các yếu tố quan trọng giúp vượt qua khủng hoảng nếu tình huống không mong muốn đó xảy ra.

     

    Còn quan ngại về việc nhân sự thiếu tự giác, chủ động…?

    Như đã đề cập ở trên, khảo sát của chúng tôi cho thấy thế hệ Y, Z có nhu cầu làm việc từ xa Chúng ta nói câu chuyện sợ người lao động liệu có tự giác làm việc hay không, nhưng nếu các công ty vẫn trả chế độ đãi ngộ tốt cộng thêm cơ chế làm việc linh hoạt, người lao động sẽ tự ý thức làm việc nghiêm túc vì thực sự trong tình hình dịch bệnh hiện nay, bản thân người lao động cũng rất sợ mất việc.

    Kinh doanh thời Covid-19: Hiểu về BCP - “bí kíp” sinh tồn trong khủng hoảng được giới CEO nhắc đến nhiều nhất, khi CEO quản lý từ xa, còn nhân viên ở nhà cũng không lơ là công việc! - Ảnh 4.

    Về phía doanh nghiệp, tôi cho rằng điều cần thiết là phải xây dựng một hệ thống quản lý báo cáo chi tiết đến từng cá nhân cũng như hệ thống đo lường hiệu quả làm việc (KPI) của mỗi cá nhân. Nếu áp dụng đúng thì đây là phương thức làm việc hiệu quả mà vẫn giảm được chi phí cố định.

    Nói như vậy không có nghĩa là người lao động nên làm việc từ xa toàn thời gian, lãnh đạo doanh nghiệp nên tạo điều kiện để trong những thời điểm phù hợp nhân viên có thể thay đổi địa điểm làm việc (làm tại nhà, tại quán café, tại một không gian làm việc chung,…) để tạo sự thay đổi tích cực, khuyến khích họ làm việc hiệu quả hơn. Vai trò của người quản lý ở đây cũng rất quan trọng, bởi sự hiện diện đơn thuần nơi công sở chưa đảm bảo được hiệu quả làm việc.

    Về phía người lao động, tôi cho rằng một trong những rào cản lớn nhất là họ cần phải học được tác phong tự chủ và khả năng tự giác. Người lao động cần biết cách chủ động giải quyết vấn đề. Đây là lúc khả năng học hỏi (learnability) cần được phát huy để người lao động luôn ở thế chủ động trong mọi tình huống. Trên thực tế, hình thức làm việc từ xa không phù hợp với mọi đối tượng, nên doanh nghiệp cần cân nhắc đối tượng phù hợp khi áp dụng hình thức này để đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    Kinh doanh thời Covid-19: Hiểu về BCP - “bí kíp” sinh tồn trong khủng hoảng được giới CEO nhắc đến nhiều nhất, khi CEO quản lý từ xa, còn nhân viên ở nhà cũng không lơ là công việc! - Ảnh 5.

    Những ngành sản xuất, bán lẻ, ngân hàng… đòi hỏi có sự hiện diện của con người, có thể ứng dụng phương thức này?

    Những ngành nói trên đã áp dụng công nghệ vào các dịch vụ đối với khách hàng từ trước khi dịch bệnh xuất hiện.

    Đợt dịch này càng khiến cho doanh nghiệp phải sáng tạo đổi mới hơn nữa để nghĩ ra những phương thức kinh doanh hiệu quả. Theo tôi, các ngành đòi hỏi sự hiện diện của con người nói riêng và các ngành nghề nói chung đều có thể áp dụng phương thức làm việc linh hoạt. Như đã chia sẻ ở trên, điều doanh nghiệp cần làm là xây dựng hệ thống đo lường hiệu quả và cân nhắc áp dụng cho nhân viên/bộ phận phù hợp. Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần chuẩn bị bản kế hoạch ứng phó (BCP hay Business Continuity Plan) để đảm bảo công việc sản xuất kinh doanh cũng như quản lý các nguồn lực (bao gồm con người) không bị gián đoạn trước những sự cố bất khả kháng như đợt dịch Covid-19 lần này.

    Điều quan trọng là cần đảm bảo sự an toàn cho tất cả mọi người và trong mọi trường hợp doanh nghiệp cần đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt các quy định và hướng dẫn của Bộ Y tế/WHO.

    Kinh doanh thời Covid-19: Hiểu về BCP - “bí kíp” sinh tồn trong khủng hoảng được giới CEO nhắc đến nhiều nhất, khi CEO quản lý từ xa, còn nhân viên ở nhà cũng không lơ là công việc! - Ảnh 6.

    Tính đến 21h40 ngày 22/3, Việt Nam có 113 ca dương tính với Covid-19, trong đó 17 ca đã khỏi bệnh. Bên cạnh đó, hiện có 645 ca nghi nhiễm và gần 52.790 người phải cách ly, theo trang tin về dịch bệnh viêm đường hô cấp cấp Covid-19 của Bộ Y tế.

    Một số tập đoàn cho biết, hầu như công ty họ đã chuyển sang làm việc online, hạn chế làm việc trực tiếp; tuyên truyền cho các công nhân lao động, trong đó có chuyên gia nước ngoài, tuân thủ nghiêm các quy định phòng chống dịch, đặc biệt là cách ly y tế.

    Theo Trí Thức Trẻ

  • Hoạt động kinh tế mùa dịch Covid-19 ở Bắc Giang: Giao dịch qua mạng tăng mạnh

    BGĐT) – Tâm lý ngại đến khu vực đông người để phòng ngừa dịch Covid-19 đã tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh qua mạng phát triển mạnh. Đây cùng là giải pháp đang được cơ quan chức năng tỉnh Bắc Giang khuyến khích. 

    Đơn hàng online tăng mạnh

    Nhiều năm nay, chị Nguyễn Thị Vân Anh, đường Nguyễn Đình Tuân (TP Bắc Giang) vốn có thói quen đi siêu thị, chợ mua thực phẩm tươi sống vào buổi chiều. Hai tuần nay, khi dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, chị đã chuyển sang đặt mua hàng theo phương thức nhận và chuyển tiền qua người vận chuyển (shipper). “Tôi hạn chế đến nơi đông người để phòng bệnh cho bản thân, gia đình cũng như cộng đồng nên đặt mua online mọi mặt hàng. Mỗi lần giao dịch tôi thường chọn lượng đồ đủ để sử dụng cho một tuần”, chị Vân Anh chia sẻ.

    Lượng hàng hóa giao dịch qua Công ty chuyển phát nhanh Nhất Tín (TP Bắc Giang) hơn một tháng qua tăng gấp đôi so với trước.

    Lượng hàng hóa giao dịch qua Công ty chuyển phát nhanh Nhất Tín (TP Bắc Giang) hơn một tháng qua tăng gấp đôi so với trước.

    Tương tự, không chỉ tại các chợ truyền thống, cửa hàng tiện ích hay siêu thị, gần đây lượng khách đến quán ăn nhanh, quán cơm văn phòng, nhà hàng, cửa hàng thời trang… cũng giảm mạnh, trong khi đơn hàng đặt mua online lại tăng cao. Đại diện chủ quán cơm sườn Đào Duy Từ, đường Lê Lợi (TP Bắc Giang) cho biết, đơn vị kinh doanh ẩm thực nhiều năm, chủ yếu là cơm và nước uống. Thông thường khách vẫn tới tận nơi để lựa chọn, sử dụng dịch vụ. Từ khi có dịch Covid-19, mặc dù cửa hàng đã trang bị đầy đủ nước rửa tay khô, quy định nhân viên đeo khẩu trang, hạn chế nói chuyện nhưng từ đầu tháng trở lại đây lượng khách đến quán giảm 60%. Mọi người chuyển sang gọi điện đặt cơm. Trung bình mỗi ngày, quán cung cấp khoảng 100 suất ăn theo phương thức vận chuyển đến tận nơi người mua yêu cầu.

     

    Từ tháng 2 đến nay, tỷ lệ giao dịch hàng hóa qua thương mại điện tử trên địa bàn tỉnh tăng khoảng 20%; trong đó tập trung ở một số nhóm hàng tiêu dùng thiết yếu”.

    Ông Nguyễn Văn Tập, Trưởng phòng Quản lý xuất nhập khẩu

    (Sở Công Thương)

     

    Dịp này, các đơn vị chuyển phát trên địa bàn cũng tăng cường nhân viên phục vụ nhu cầu mua sắm online tăng đột biến của người dân. Chị Vũ Thị Phương Thùy, quản lý Công ty TNHH một thành viên Chuyển phát nhanh Thuận Phong, Chi nhánh Thái Nguyên tại Bắc Giang, đường Lý Thái Tổ, phường Trần Phú (TP Bắc Giang) thông tin: “Từ khi có dịch Covid-19, nhu cầu mua sắm qua mạng của người dân tăng mạnh. Tính riêng trong tháng hai, đơn hàng giao dịch qua công ty tăng gấp đôi so với trước đó. Một tuần trở lại đây, công ty vận chuyển khoảng 6-7 nghìn đơn hàng, cao gấp 3 lần so với mọi khi. Công ty vừa tăng cường thêm nhân viên, chuẩn bị đồ bảo hộ, nhất là khẩu trang 4 lớp cho công nhân làm việc thường xuyên”. Các đơn vị khác như: Bưu điện tỉnh, Viettel Bắc Giang, Giaohangnhanh, Giaohangtietkiem, Shopee, chuyển phát nhanh Nhất Tín… cũng có lượng hàng tăng cao hơn so với những tháng trước đó.

    Khuyến khích giao dịch qua mạng

    Theo ông Nguyễn Văn Tập, Trưởng phòng Quản lý xuất nhập khẩu (Sở Công Thương Bắc Giang), kinh doanh thương mại điện tử là hoạt động buôn bán trực tuyến, chủ yếu diễn ra trên mạng Internet. Hình thức này phù hợp với công tác phòng, chống dịch Covid-19 bởi cả người mua và bán đều sử dụng thiết bị điện tử có kết nối Internet để thực hiện giao dịch. Sau khi thỏa thuận mua bán, hàng hóa được shipper mang đến tận nơi.

    Qua đánh giá, từ tháng 2 đến nay, tỷ lệ giao dịch hàng hóa qua thương mại điện tử trên địa bàn tỉnh tăng khoảng 20%; trong đó tập trung ở một số nhóm hàng tiêu dùng thiết yếu. Để chủ động ứng phó với dịch Covid-19, Sở Công Thương đã đề nghị các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh tham gia bình ổn thị trường; đặc biệt các đơn vị cần đẩy mạnh hoạt động phân phối, bán hàng qua kênh thương mại điện tử. Cùng với đó, các cá nhân, đơn vị chủ động áp dụng nhiều chương trình khuyến khích người dân ưu tiên sử dụng hình thức mua hàng trực tuyến nhằm hạn chế đến những nơi tập trung đông người.

    Thời gian tới, Sở cũng khuyến khích các đơn vị, cá nhân tiếp tục phát triển kinh doanh thương mại điện tử. Cùng đó, các cơ quan, đơn vị liên quan quan tâm hỗ trợ cài đặt ứng dụng các phần mềm giao dịch qua mạng Internet cho các doanh nghiệp, cá nhân. Ngoài ra, người dân chú ý lựa chọn đơn vị, nhà phân phối uy tín để mua hàng.

    Theo: Báo Bắc Giang 

  • Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông sản và cơ giới hóa trong nông nghiệp

    (BGĐT)-Ngày 21-2, Chính phủ tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc về phát triển công nghiệp chế biến nông sản và cơ giới hóa trong nông nghiệp. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thu Hà dự tại điểm cầu Bắc Giang. 

    Quang cảnh tại điểm cầu Bắc Giang.

    Quang cảnh tại điểm cầu Bắc Giang.

    Trong 10 năm trở lại đây, cơ giới hóa nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản của nước ta đã có những bước phát triển đáng kể. Hình thành hệ thống công nghiệp chế biến nông sản có công suất thiết kế chế biến khoảng 120 triệu tấn nguyên liệu nông sản/năm.

    Cơ giới hóa trong nông nghiệp ngày càng được áp dụng rộng rãi trong nhiều khâu của chuỗi sản xuất nông nghiệp. Nhờ đó đã nâng cao năng suất và giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp, tạo tiền đề quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, góp phần đáng kể vào tăng trưởng chung của toàn ngành.

    Tuy vậy, khả năng chế biến đối với một số ngành hàng còn yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là vào cao điểm mùa vụ như rau quả, gây tổn thất sau thu hoạch. Lĩnh vực cơ giới hóa một số khâu trong nông nghiệp đang có xu hướng tăng nhanh song mức độ cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp một số khâu còn thấp. Trang bị máy động lực còn lạc hậu, hầu hết các máy làm đất công suất nhỏ.

    Chế biến dưa chuột tại Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vifoco (TP Bắc Giang).

    Chế biến dưa chuột tại Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vifoco (TP Bắc Giang).

    Phát biểu tại hội nghị, một số đại biểu cho rằng, nguyên nhân của tình trạng trên là do nhiều doanh nghiệp chưa chủ động được nguồn cung nguyên liệu bảo đảm về số lượng, chất lượng (ngoại trừ một số ngành hàng đã tổ chức tốt khâu chế biến gắn với sản xuất nguyên liệu như mía đường, cá tra, tôm). Giá thành sản phẩm cơ khí nông nghiệp trong nước cao. 

    Chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ còn hạn chế, nhất là công nghiệp hỗ trợ cho máy động lực, máy canh tác phục vụ sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, các hộ nông dân vẫn là chủ thể sản xuất chính, do vậy khó ứng dụng cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp.

    Trước tình hình mới cần đẩy mạnh cơ cấu lại lĩnh vực chế biến nông sản và nâng cao trình độ, tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp. Cụ thể, đến năm 2030, công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản Việt Nam đứng trong số 10 nước hàng đầu thế giới; những vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa tập trung đều được cơ giới hóa đồng bộ và tiến tới tự động hóa.

    Một số đại biểu kiến nghị, các bộ chủ quản cần làm rõ các quy chuẩn, tiêu chuẩn để phù hợp cho phát triển ngành hàng; xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ cho các nhà máy chế biến; có chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ cho phát triển chế biến nông sản, tích tụ đất đai cho trang trại lớn, sản xuất lớn; Ngân hàng Nhà nước đánh giá, xem xét cởi mở hơn về tín dụng với ngành nông nghiệp. Chính phủ xem xét, chỉ đạo thu hồi dự án nông nghiệp bỏ hoang để thu hút dự án mới sao cho phát huy hiệu quả. Có hướng dẫn quy định cụ thể về truy xuất nguồn gốc xuất xứ đối với các mặt hàng; đầu tư nghiên cứu chiến lược phục vụ chế biến thủy sản nội địa.

    Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, nâng cao năng lực công nghiệp chế biến nông sản và thúc đẩy cơ giới hóa trong nông nghiệp là nội dung cơ bản góp phần nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho nông sản. Áp dụng cơ giới hóa đồng bộ trong tổ chức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị để nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp, bảo đảm khả năng cung cấp nguyên liệu cho chế biến, đủ về số lượng và chất lượng, giá cả hợp lý và ổn định đối với tất cả mặt hàng.

    Nông nghiệp Việt Nam còn nhiều tiềm năng lớn để phát triển. Các địa phương, DN, bộ, ngành cần lắng nghe tiếp thu tháo gỡ, tạo điều kiện cho nông dân, HTX phát triển nông nghiệp trong điều kiện mới. Ngoài nông dân, vai trò của HTX, DN cũng rất lớn. Sau hội nghị này, Thủ tướng sẽ ban hành Chỉ thị, Chính phủ xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp của nước ta, trong đó chú trọng tìm kiếm thị trường, mở rộng thị trường.

    Trên cơ sở kiến nghị của một số đại biểu, đồng chí đề nghị Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo về việc cho vay vốn trong lĩnh vực nông nghiệp theo hướng kéo dài thời gian vay, giảm lãi suất. Áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm; giảm giá thành, chi phí đầu vào sản xuất.

    Để đạt mục tiêu đề ra, đồng chí yêu cầu Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì thực hiện đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến và cơ giới hóa trong nông nghiệp. Đồng thời phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng phát triển ngành chế tạo máy và sản xuất vật liệu phụ trợ nhằm thúc đẩy cơ giới hóa trong nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản.

    Đi đôi với giải pháp trên, đồng chí đề nghị cần đẩy mạnh chuyển giao kết quả các đề tài khoa học công nghệ về cơ điện nông nghiệp vào sản xuất; xây dựng và hình thành các cụm nghiên cứu – đào tạo – sản xuất công nghệ cao theo vùng sinh thái, khuyến khích hình thành các cơ sở nghiên cứu tư nhân và các viện gắn với doanh nghiệp; xây dựng các đề án, mô hình trình diễn về công nghiệp chế biến và cơ giới hoá đồng bộ sản xuất nông nghiệp, mô hình nông nghiệp thông minh. Áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến của thế giới trong tất cả các cơ sở chế biến nông sản; xây dựng và áp dụng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, truy xuất nguồn gốc, tiêu chí đánh giá về năng lực của ngành chế biến nông sản và cơ giới hóa nông nghiệp. Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển thị trường. 

    Xây dựng thương hiệu cho nông sản; nghiên cứu, thực hiện cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp chế biến nông sản và cơ giới hóa nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại ngành đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập kinh tế quốc tế. Đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi. Xây dựng khung pháp lý và có chính sách hỗ trợ giao dịch đất nông nghiệp nhằm tích tụ đầu tư vùng sản xuất quy mô lớn, tập trung.

    Theo: Báo Bắc Giang 

  • Thu hút doanh nghiệp chế biến nông sản: Cần có chính sách tạo bước đột phá

    (BGĐT) – Để thu hút doanh nghiệp (DN) đầu tư vào nông nghiệp, T.Ư và tỉnh Bắc Giang đã có một số chính sách khuyến khích nhưng số DN tham gia vào lĩnh vực chế biến nông sản còn ít.  Thực tế đó đòi hỏi phải có những chính sách tạo bước đột phá trong lĩnh vực này.

    DN chưa mặn mà

    Nhằm thu hút DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, tỉnh đã có các chính sách như: Đẩy mạnh chương trình tín dụng hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc, thiết bị phục vụ phát triển nông nghiệp theo Quyết định 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ; hỗ trợ khuyến khích dồn điền, đổi thửa. Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

    Dây chuyền sản xuất nước cam tại Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Toàn Cầu.

    Dây chuyền sản xuất nước cam tại Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Toàn Cầu.

    Những ưu đãi từ chính sách trên bước đầu đã thu hút được một số DN tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp. Đơn cử như Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Toàn Cầu đầu tư hơn 4 triệu USD xây dựng nhà máy, lắp đặt dây chuyền chế biến nông sản tại xã Phượng Sơn (Lục Ngạn). Nhà máy đi vào hoạt động hơn một năm qua, sản xuất các sản phẩm chuyên sâu như: Hàng đóng hộp, đóng lon, nước cốt, đông lạnh. Năm 2019, Công ty chế biến 300 tấn vải thiều thành cùi vải đóng hộp, nước ép vải; cam ép đóng lon, cam nguyên chất và ngô ngọt đóng lon. 

    Trong đó, nước cam chủ yếu tiêu thụ nội địa khoảng 20 nghìn thùng/tháng. Vải thiều chế biến đã xuất khẩu sang Đức, Úc, Pháp. Ông Đỗ Hoàng Phương, Giám đốc Công ty cho biết: “Vụ vải này, Công ty đã đàm phán, ký kết đơn hàng xuất khẩu sang Nhật Bản 100 tấn vải đông lạnh và 100 tấn vải chế biến sang thị trường châu Âu. Hiện nay, Công ty đang cùng đơn vị chuyên môn của huyện lựa chọn vườn, bảo đảm nguồn cung cho đối tác”.

    Công ty TNHH Thương mại Kim Ngân cũng thành công trong việc chế biến giấm từ vải thiều. Ban đầu chỉ có vài sản phẩm, qua nhiều năm nghiên cứu, Công ty đã cho ra nhiều dòng giấm từ vải như: Giấm vải, giấm tỏi ớt chuyên trộn rau, sa-lát. Ngoài ra, Công ty còn xây dựng quy trình pha giấm để dùng như một thức uống. Mỗi tháng sản xuất 15 nghìn lít giấm cung cấp cho thị trường. 

    Trung bình mỗi năm Công ty tiêu thụ 50- 60 tấn cùi vải để sản xuất giấm. Các sản phẩm của Công ty đã xuất hiện tại một số siêu thị lớn như Vinmart, Aeon, Fivimart. Thời gian tới, Công ty tiếp tục mở rộng thị trường, đưa sản phẩm ra nước ngoài để quảng bá nông sản Việt. Trên thực tế, số DN chế biến như hai công ty trên không nhiều. Thống kê của cơ quan chuyên môn, toàn tỉnh có khoảng 200 DN đầu tư vào nông nghiệp song chủ yếu là nhỏ lẻ, hoạt động cung ứng vật tư còn DN chế biến nông sản chỉ đạt khoảng 5% tổng số DN.

    Xây dựng cụm công nghiệp chế biến, mời gọi đầu tư

    Cơ chế chính sách của Nhà nước đã có nhưng DN đầu tư vào nông nghiệp nói chung, lĩnh vực chế biến nói chung vẫn ít. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Trước hết, sản xuất nông nghiệp thường xuyên đối mặt với thiên tai, dịch bệnh; thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định. Mối liên kết nông dân-DN trong chuỗi giá trị sản xuất chưa chặt chẽ. 

     

    Thống kê của cơ quan chuyên môn, toàn tỉnh có khoảng 200 DN đầu tư vào nông nghiệp song chủ yếu là hoạt động cung ứng vật tư còn DN chế biến nông sản chỉ đạt khoảng 5%.

     

    Đặc biệt, tỷ lệ sinh lời lại thấp. Bên cạnh đó, DN còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận đất đai. Ví như, Công ty TNHH Dịch vụ thương mại Hoàn Mỹ (Hà Nội) đã nhiều lần đàm phán, thỏa thuận thuê 50 ha đất tại xã Cảnh Thụy (Yên Dũng) để trồng chuối chế biến xuất khẩu nhưng vẫn chưa được người dân chấp nhận. Một số hộ dân đòi giá thuê quá cao, DN không đáp ứng được nên đành hoãn lại.

    Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, chế biến nông sản là xu thế tất yếu. Chỉ có chế biến thì sản phẩm mới mở rộng thị trường, vào kênh phân phối cao hơn, hướng tới xuất khẩu, góp phần cho sản xuất hiệu quả hơn. Nhận thức rõ điều này, ngày 11/7/2019, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết 07/2019/NQ-HĐND về chính sách đặc thù nhằm khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, DN có dự án đầu tư cơ sở chế biến sản phẩm từ rau, vải, cam, bưởi, nhãn, thịt lợn, thịt gà được hỗ trợ. 

    Hỗ trợ 50% chi phí đầu tư và không quá 3 tỷ đồng/dự án để xây dựng cơ sở hạ tầng về xử lý chất thải, giao thông, điện, nước, nhà xưởng và mua thiết bị trong hàng rào dự án. Điều kiện hỗ trợ là công suất cơ sở chế biến sản phẩm từ rau, vải, cam, bưởi, nhãn đạt tối thiểu 5 tấn sản phẩm/ngày; chế biến sản phẩm từ thịt lợn đạt tối thiểu 7 tấn sản phẩm/ngày; chế biến sản phẩm từ thịt gà đạt tối thiểu 3 tấn sản phẩm/ngày. Giá trị sản phẩm sau chế biến tăng ít nhất 1,25 lần so với giá trị nguyên liệu thô ban đầu. Bước đầu, Sở Nông nghiệp và PTNT đã giới thiệu một số DN, kỳ vọng sẽ thu hút được tập đoàn có tiềm lực lớn đầu tư vào địa bàn.

    Bên cạnh đó, một số ý kiến cho rằng để phát triển công nghiệp chế biến nông sản cần hình thành cụm công nghiệp chế biến. Có như vậy mới phát triển bền vững, thuận lợi trong thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường. Tiếp tục xây dựng khung pháp lý và có chính sách hỗ trợ giao dịch đất nông nghiệp nhằm tích tụ đầu tư vùng sản xuất quy mô lớn, nâng cao năng suất, chất lượng, bảo đảm nguồn cung cấp nguyên liệu cho chế biến. Rà soát, đề xuất sửa đổi chính sách ưu đãi về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập DN đối với lĩnh vực chế biến nông sản.

    Theo: Báo Bắc Giang 

  • Làm gì để hạn chế suy giảm kinh tế trước đại dịch Covid-19?

    Tại thời điểm này, việc hỗ trợ DN thông qua chính sách tài khóa sẽ quan trọng hơn chính sách tiền tệ như:Giảm lãi suất, bơm thêm tiền ra thị trường…

    Dịch Covid-19 đang bùng phát dữ dội và lan rộng đến 170 quốc gia và vùng lãnh thổ, những thiệt hại do đại dịch gây ra cho nền kinh tế đất nước thật nặng nề.

    Theo số liệu Tổng cục Thống kê, 2 tháng đầu năm nay, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 16.200 doanh nghiệp, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 9.400 doanh nghiệp, giảm 31,4%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 2.800 doanh nghiệp, giảm 11,1%, trong đó, gần 90% là doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng. 

    Như vậy, tính trung bình mỗi ngày, cả nước có 473 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, ngừng hoạt động chờ giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể.

    Để hạn chế sự suy giảm kinh tế, doanh nghiệp rất cần sự đồng hành của Chính phủ.

    Để hạn chế sự suy giảm kinh tế, doanh nghiệp rất cần sự đồng hành của Chính phủ.

    Nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực: dệt may, da giày, thủy sản, lâm vào tình trạng thiếu nguyên liệu sản xuất trầm trọng, có doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ phá sản vì sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ. 

    Với ngành nông nghiệp, xuất khẩu nông sản gặp nhiều khó khăn do tạm ngừng thông quan cửa khẩu, sản phẩm nông sản bị ùn ứ, phải quay đầu bán với giá rẻ tại thị trường trong nước. 

    Các ngành nghề khác như: Du lịch, dịch vụ lưu trú và ăn uống; vận tải, kho bãi thì doanh thu sụt giảm nghiêm trọng.

    Với ngành du lịch, dịch Covid-19 đã khiến sụt giảm mạnh lượng khách du lịch đến từ thị trường Trung Quốc vốn đang chiếm trên 30% tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Còn với ngành hàng không, dự báo, doanh thu sẽ sụt giảm khoảng 25.000 tỷ đồng. 

    Đặc biệt, để ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh, mới đây, Chính phủ Việt Nam đã quyết định tạm dừng cấp thị thực cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam trong khoảng thời gian 30 ngày, do đó, con số thiệt hại được sự báo sẽ cao hơn nhiều…

    Trước những tác động mạnh và tiêu cực của dịch bệnh, các chuyên gia kinh tế cho rằng, sự suy giảm của nền kinh tế là không thể tránh khỏi.

    Vấn đề mà doanh nghiệp mong muốn lúc này là Chính phủ các quốc gia, vùng lãnh thỗ cần tăng thêm hỗ trợ qua việc giảm thuế, phí, tăng chi tiêu của Chính phủ. Bởi khi giảm thuế, phí, doanh nghiệp sẽ giảm bớt gánh nặng về tài chính. 

    Còn việc Chính phủ tăng chi tiêu tức là số tiền dành cho đầu tư công sẽ nhiều hơn, tạo thêm việc làm giúp cho nền kinh tế có thêm tiền, làm tăng sức mua, kích thích doanh nghiệp sản xuất hàng hóa. 

    Tại thời điểm này, việc hỗ trợ doanh nghiệp thông qua chính sách tài khóa sẽ quan trọng hơn chính sách tiền tệ như: Giảm lãi suất, bơm thêm tiền ra thị trường…

    Theo chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long, để hạn chế suy giảm kinh tế, công việc trước mắt tại thời điểm này là cần kiểm soát và phòng chống dịch bệnh. Khi dập được dịch thì mới phát triển kinh tế được, vì tổn thất do dịch bệnh gây ra là rất lớn. Nếu dịch bệnh đang tiếp diễn sẽ làm cho mọi hoạt động kinh tế bị ngừng trệ.

    “Cần có thêm gói kích thích để hỗ trợ cho nền kinh tế, tương tự như gói hỗ trợ tín dụng là 285.000 tỷ, gói giảm hoặc giãn nợ thuế là 30.000 tỷ. 

    Đó là những giải pháp tích cực đối với mọi đối tượng, mọi doanh nghiệp để làm sao giúp các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, giảm bớt chi phí và giảm bớt khó khăn trong thời điểm hiện nay”, ông Ngô Trí Long nói.

    Có cùng quan điểm, TS. Bùi Quang Tín chia sẻ: “Như các quốc gia khác, điều mà doanh nghiệp Việt Nam cần gấp trong năm 2020 là Chính phủ sớm có lộ trình giảm thuế để giảm chi phí, hỗ trợ sản xuất – kinh doanh, ngăn chặn kinh tế suy giảm. 

    Trước mắt, Nhà nước có thể giảm thuế khoán đối với hộ kinh doanh vì thuế suất của sắc thuế này do chính quyền các tỉnh, thành phố quyết định. Còn việc giảm lãi suất sẽ hỗ trợ một phần cho doanh nghiệp tăng năng lực sản xuất trong vài năm tới, tiếp tục thúc đẩy kinh tế đi lên”.

    Cũng theo ông Tín, trong xu hướng Mỹ giảm lãi suất, chi phí vay vốn nước ngoài của Việt Nam sẽ giảm theo, giúp cho nền kinh tế có thêm nguồn lực để phát triển. 

    Đặc biệt, mới đây, Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) cam kết tài trợ gần 300 triệu USD cho 4 ngân hàng thương mại của Việt Nam với giá rẻ, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận nguồn vốn này để vượt qua khó khăn.

    Như vậy, nếu trong năm nay, Mỹ và nhiều quốc gia khác tiếp tục giảm lãi suất, tăng thêm chính sách giảm thuế, phí… cho doanh nghiệp, nhiều khả năng kinh tế toàn cầu sẽ kìm hãm được đà suy giảm do tác động của đại dịch Covid-19.

    Theo: Báo Bắc Giang 

  • Thế hệ kế nghiệp Việt Nam: Tham vọng phát triển lớn, cơ hội lãnh đạo chưa tương xứng

    Giàu tham vọng và khát khao được lãnh đạo, thế hệ kế nghiệp các doanh nghiệp gia đình Việt Nam có niềm tin để dẫn dắt doanh nghiệp phát triển trong bối cảnh tương lai nhiều biến động, nhưng chỉ khi có sự tin tưởng và trao quyền từ thế hệ đương nhiệm. Đây là một trong những kết quả mới nhất từ Khảo sát Thế hệ kế nghiệp toàn cầu của PwC – Tâm điểm Việt Nam, được ra mắt lần đầu tiên, mang đến tiếng nói chung của các lãnh đạo tương lai của doanh nghiệp gia đình tại Việt Nam.

    Kết quả khảo sát cho thấy gần một nửa Thế hệ kế nghiệp Việt Nam đang đóng góp tích cực vào các doanh nghiệp gia đình, tỉ lệ này thấp hơn nhiều so với mức độ tham gia ghi nhận được trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương (73%) và trên thế giới (70%). Tuy nhiên xét ở góc độ tích cực thì đây là con số đáng khích lệ – khi đại đa số Nextgen được khảo sát tại Việt Nam ở độ tuổi trung bình từ 21-34, cùng với đó là tới 27% có kế hoạch tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp gia đình trong vòng 5 năm tới, con số này cao gấp đôi tỉ lệ chung 13% của Châu Á Thái Bình Dương và trên toàn cầu.

    Không chỉ dừng lại ở việc tham gia ngày một sâu hơn vào hoạt động doanh nghiệp, Nextgen Việt Nam mang nhiều tham vọng được nắm giữ vị trí dẫn đầu để mang đến những thay đổi trong doanh nghiệp trong 5 năm tới. Hiện 16% Nextgen tham gia khảo sát đang nắm giữ vị trí giám đốc điều hành doanh nghiệp, con số này dự kiến sẽ tăng hơn gấp đôi vào năm 2025 ở mức 38%.

    Những tham vọng kể trên cũng tương quan với việc có tới 60% Nextgen Việt Nam tự tin rằng họ có năng lực để đóng góp giá trị trong việc chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa phương pháp quản lý cho doanh nghiệp. Điều này được coi là ưu tiên kinh doanh hàng đầu đối với doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại bên cạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để doanh nghiệp có thể thích ứng với môi trường kinh doanh trong tương lai. Có thể thấy rằng, là thế hệ của thời đai công nghệ, lãnh đạo tương lai của các doanh nghiệp gia đình Việt Nam có nhận thức rõ rệt về vai trò của công nghệ đối với doanh nghiệp cũng như những lợi thế về công nghệ số của họ.

    Với kinh nghiệm nhiều năm đồng hành cùng các doanh nghiệp gia đình tại Việt Nam, ông Hoàng Hùng, Lãnh đạo khối Doanh nghiệp tư nhân và Doanh nghiệp gia đình của PwC Việt Nam chia sẻ: “Chuyển giao thế hệ luôn là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp gia đình. Việc lắng nghe và ghi nhận về những yếu tố gây trở ngại hay khuyến khích thế hệ lãnh đạo kế tiếp là rất quan trọng cho kế hoạch chuyển giao trong tương lai. Thế hệ kế nghiệp tại Việt Nam muốn trau dồi bản thân để có thể dẫn dắt doanh nghiệp trước bối cảnh tương lại sẽ có nhiều phức tạp. Họ có chung mối quan tâm lớn tới việc phát triển kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn, và trông cậy được thế hệ lãnh đạo đương nhiệm tin tưởng và trao quyền để có thể phát huy tối đa tiềm năng của bản thân.”

    Bên cạnh những ghi nhận tích cực về Nextgen Việt Nam: họ có tham vọng và muốn cống hiến, thì trên thực tế chưa có nhiều lối đi để thế hệ này phát triển khi chỉ có một phần ba trong số họ được trao cơ hôi để lãnh đạo (so với chỉ số 52% trong khu vực), và một tỉ lệ tương tự các Nextgen được lắng nghe với vai trò tham vấn.

    Thế hệ kế nghiệp Việt Nam nhìn nhận hai rào cản lớn nhất đối với họ trong việc tạo ra tác động mong muốn cho doanh nghiệp là cấp độ kinh nghiệm của bản thân (41%) và phương thức quản trị công ty hiện tại (33%).

    Có thể thấy tác động của những rào cản này đặc biệt rõ rệt hơn đối với Nextgen Việt Nam so với trong khu vực và trên thế giới. Điều này cũng phù hợp với tỉ lệ được trao cơ hội để lãnh đạo còn thấp được đề cập ở trên.

    Ông Peter Englisch, Lãnh đạo Doanh nghiệp Gia đình Toàn cầu của PwC nhận xét, “Thế hệ kế nghiệp rất đa dạng và mang trong mình những nhu cầu cũng như nguyện vọng khác nhau. Để tiếp cận, họ cần có phương pháp phù hợp xây dựng trên nền tảng của chính những nhu cầu và mong muốn đó. Kết quả khảo sát lần này sẽ mang đến định hướng quan trọng giúp thế hệ kế nghiệp xác định những bước tiến sự nghiệp trong tương lai.’

    Chia sẻ thêm về hướng đi cho thế hệ kế nghiệp Việt Nam, ông Hoàng Hùng, Lãnh đạo khối Doanh nghiệp tư nhân và Doanh nghiệp gia đình của PwC Việt Nam cho biết “Trong khảo sát Thế hệ Kế nghiệp 2019 – Tâm điểm Việt Nam, PwC đã xác định bốn định hướng kế nghiệp để thành công. Đồng thời, chúng tôi cũng đưa ra bốn đề xuất cho từng nhóm để giúp họ đạt được hoài bão vươn lên những vị trí lãnh đạo hàng đầu trong doanh nghiệp của mình.”

    Theo: Nhịp sống kinh tế

  • Chiến lược ‘ngủ đông động’ trong mùa dịch bệnh

    Chiến lược ‘ngủ đông động’ trong mùa dịch bệnh

    CEO Group bước vào “ngủ đông” trong thời dịch Covid-19 nhưng theo Chủ tịch HĐQT Đoàn Văn Bình, “ngủ” ở đây là “ngủ đông động” để sẵn sàng bật dậy và tăng tốc như xe Lexus về đích.

     

    Cũng như lựa chọn của nhiều doanh nghiệp trong thời dịch bệnh, CEO Group đã kích hoạt nút “ngủ đông” từ nhiều tuần trước. Theo đó, Tập đoàn đã cấu trúc lại hệ thống, cắt giảm các chi tiêu không cần thiết, thiết lập danh mục công việc ưu tiên.

    Tuy nhiên, ông Đoàn Văn Bình, Chủ tịch HĐQT CEO Group nhấn mạnh, “ngủ” ở đây là “ngủ đông động”. “Ngủ nhưng thức để sẵn sàng bật dậy về đích năm 2020, 2021 và xa hơn nữa.”

    Trong khi tạm hoãn các kế hoạch mở bán bất động sản hoặc những hoạt động đông người, CEO Group vẫn tiếp tục hoàn thiện thủ tục pháp lý, đền bù và giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, bảo trì công trình, tiếp tục duy trì vận hành các khu nghỉ dưỡng Novotel Phu Quoc Resort, Novotel Villas và BW Premier Sonasea Phu Quoc.

    Bên cạnh đó, CEO Group dành thời gian này cho đào tạo thực tập sinh điều dưỡng và sinh viên ngành du lịch.

    Ông Bình kêu gọi cán bộ, nhân viên ở những khu vực Tập đoàn đầu tư như Vân Đồn, Bắc Ninh, Hà Nội, Nha Trang, TP. HCM, Cần Thơ, Kiên Giang và Phú Quốc làm việc miệt mài với tinh thần không khuất phục để thực hành kế hoạch tiếp tục sản xuất kinh doanh.

    Người đứng đầu tập đoàn chuyên kinh doanh bất động sản, bất động sản nghỉ dưỡng, xây dựng, quản lý khách sạn và phát triển nguồn nhân lực, cho rằng mỗi đơn vị, mọi thành viên ban lãnh đạo và cả tập đoàn cần xây dựng kế hoạch duy trì công việc trong bất cứ kịch bản chống dịch nào để hướng về mục tiêu, để làm yên lòng khách hàng, cổ đông và đối tác.

    Tất cả sự chuẩn bị này là nhằm mục đích “để hết dịch, CEO Group có thể tăng tốc như chiếc xe Lexus, đủ nhanh, đủ mạnh”, ông Bình nhấn mạnh.

    Ông Bình cho rằng, Covid-19 bất ngờ xuất hiện đang làm cả thế giới chao đảo, thách thức sự sinh tồn của loài người. 

    “Do ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh, ba sự dịch chuyển chính trong kinh doanh đều bị hạn chế, đó là sự đi lại của con người, sự dịch chuyển hàng hóa và dòng tiền. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Nhiều doanh nghiệp đã và sẽ đóng cửa. Nhiều lao động mất việc làm, giảm thu nhập”, lãnh đạo CEO Group nhận định. 

    “Ngủ đông động” là một trong những hàng động của CEO Group trong lúc dịch Covid-19 vẫn đang hoành hành trên thế giới và khiến nhiều doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là những doanh nghiệp trong ngành du lịch – khách sạn phải đóng cửa, cắt giảm nhân viên. 

    Một tập đoàn lớn như Sun Group cũng đã quyết định bước vào giai đoạn “ngủ đông” khi chấp nhận tạm thời đóng cửa trong thời gian ngắn, hoặc cho đến khi có thông báo mới, nhưng khu vui chơi giải trí ở Sa Pa, Hạ Long và Phú Quốc. 

    Công ty CP Vinpearl cũng đã đóng cửa tạm thời bảy khách sạn ở Nha Trang, Đà Nẵng, Hội An và Phú Quốc. 

    Ông Đặng Hồng Anh, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam cho rằng, khi chưa biết khủng hoảng bao giờ kết thúc thì giải pháp ngủ đông là cần thiết và cấp bách cho tất cả các doanh nghiệp lớn hay nhỏ, dù có hay không có áp lực mất thanh khoản hay khủng hoảng dòng tiền.

    Theo ông Hồng Anh, chuyển sang trạng thái ngủ đông bằng cách cắt giảm chi phí không phải vì tình trạng tài chính của doanh nghiệp không ổn, mà đó là cách ứng phó với việc giảm sút nguồn thu và cân bằng thu chi, không có thu thì giảm chi.

    Bên cạnh chiến lược “ngủ mà thức”, ông Bình cho rằng, ban lãnh đạo doanh nghiệp cũng như mọi cán bộ nhân viên phải suy nghĩ, học hỏi để tìm ra các cách thức, lĩnh vực, sản phẩm, dịch vụ mới để tập đoàn chủ động trong cuộc chơi thách thức hơn. 

    Theo ông Bình, đại dịch Covid-19 bắt đầu và sẽ định hình lại cuộc chơi toàn cầu. Chính trị, tôn giáo, các giá trị, các khái niệm và nhiều thứ nữa sẽ khác đi. Các dòng chảy chính của kinh tế thế giới sẽ thay đổi để thích ứng. Các quốc gia cũng sẽ thay đổi để ứng phó. Vì vậy, các doanh nghiệp cũng phải hành động tương tự.

    Mặc dù thừa nhận vi rút siêu nhỏ bé đang ngăn cản dòng chảy của văn minh nhân loại là sự tự do, nhân quyền và sự thịnh vượng nhưng lãnh đạo CEO Group cho rằng “chắc chắn Covid-19 không đánh bại được văn minh loài người”.

    “Nhìn vào lịch sử 13 nghìn năm của loài người, vi trùng luôn song hành. Đó là cái chết đen, đậu mùa, bệnh tả, sốt xuất huyết Ebola, sốt rét, cúm Tây Ban Nha, SARS, MERS-COV. Gần nhất là đại dịch cúm Tây Ban Nha 1918 – 1919 giết chết từ 50-100 triệu người” ông Bình hồi tưởng. 

    “Bây giờ là Covid19 – một loại vi rút nguy hiểm tương tự trong lịch sử. Nhưng loài người thông minh đã chứng minh khả năng sinh tồn tuyệt vời như thế nào để tất cả chúng ta hiểu thêm và yên tâm rằng nhân loại sẽ thắng và tiếp tục tiến về phía trước”, ông nói.

    Dẫn lại những mốc lịch sử đó, lãnh đạo Tập đoàn CEO cho rằng, để quyết thắng Covid-19 trước hết là hiểu về đại dịch để bớt sợ hãi, tự tin và chủ động đối mặt với nó. 

    CEO Group đã thành lập nhóm chỉ huy chống dịch và cùng với Chính phủ và chính quyền địa phương,Tập đoàn chủ động và sẵn sàng bố trí khu cách ly cho người CEO và cho cộng đồng. 

    “Nếu chẳng may ai đó bị phơi nhiễm, bị cách ly, CEO Group sẽ làm hết sức trong khả năng của mình để họ và gia đình có sự chăm sóc y tế tốt nhất”, ông Bình gửi thông điệp đến cán bộ, nhân viên tập đoàn.

    Ông Bình nói rằng, cán bộ, nhân viên phải biết cách tự bảo vệ bản thân, gia đình, đề cao ý thức bảo vệ cộng đồng; đồng thời cần nghiêm chỉnh chấp hành các biện pháp phòng, chống dịch của Chính phủ, của các địa phương và của CEO Group. 

    “Đây cũng là thời gian thích hợp để mỗi người có thời gian bên gia đình, nâng cao sức khoẻ, tự học, yêu mình và yêu người hơn”, ông nói.

    Bên cạnh đó, Tập đoàn đang triển khai các hoạt động chung tay như sản xuất và tặng hàng trăm nghìn khẩu trang, hàng vạn quần áo bảo hộ cho các bệnh viện tuyến đầu và ngành y tế các địa phương như Hà Nội, Quảng Ninh, Phú Quốc, Hà Nam, TP. HCM và các tỉnh miền Tây.

    /TheLeader

  • Gia hạn thuế, miễn tiền chậm nộp cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng dịch Covid-19

    Gia hạn thuế, miễn tiền chậm nộp cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng dịch Covid-19

    Tổng cục Thuế cho biết, đã chỉ đạo các cục thuế địa phương triển khai việc gia hạn nộp thuế, miễn thuế tiền chậm nộp cho các doanh nghiệp do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, theo quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành.    

    Cụ thể, đối với gia hạn thuế, trường hợp được gia hạn nộp thuế: Bị thiệt hại vật chất gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh do gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ. Trong đó, thiệt hại vật chất là những tổn thất về tài sản của người nộp thuế, tính được bằng tiền như máy móc, thiết bị, phương tiện, vật tư, hàng hoá, nhà xưởng, trụ sở làm việc, tiền, các giấy tờ có giá trị như tiền.

    Tai nạn bất ngờ là việc không may xảy ra đột ngột ngoài ý muốn của người nộp thuế, do tác nhân bên ngoài gây ra làm ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, không phải do nguyên nhân từ hành vi vi phạm pháp luật. Những trường hợp được coi là tai nạn bất ngờ bao gồm: tai nạn giao thông; tai nạn lao động; mắc bệnh hiểm nghèo; bị dịch bệnh truyền nhiễm vào thời gian và tại những vùng mà cơ quan có thẩm quyền đã công bố có dịch bệnh truyền nhiễm; các trường hợp bất khả kháng khác.”

    trien khai gia han thue mien tien cham nop cho doanh nghiep bi anh huong dich covid 19
    Giải quyết thủ tục thuế tại Cục thuế Hà Nội

    Để được gia hạn nộp thuế theo quy định, người nộp thuế phải lập và gửi hồ sơ đề nghị tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Hồ sơ bao gồm:

    Văn bản đề nghị gia hạn nộp thuế của người nộp thuế theo mẫu qui định; biên bản kiểm kê, đánh giá giá trị vật chất thiệt hại do người nộp thuế hoặc người đại diện hợp pháp của người nộp thuế lập; văn bản xác nhận về việc người nộp thuế có thiệt hại tại nơi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ và thời gian xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ của một trong các cơ quan, tổ chức sau: cơ quan công an; UBND cấp xã, phường; Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế nơi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc tổ chức cứu hộ, cứu nạn; hồ sơ bồi thường thiệt hại được cơ quan bảo hiểm chấp nhận (bản sao có công chứng hoặc chứng thực nếu có); hồ sơ quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phải bồi thường (bản sao có công chứng hoặc chứng thực nếu có).

    Đối với người nộp thuế là pháp nhân thì các tài liệu nêu trên phải là bản chính hoặc bản sao có chữ ký của người đại diện theo pháp luật, đóng dấu của đơn vị. Thủ trưởng cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế quyết định số tiền thuế được gia hạn, thời gian gia hạn nộp thuế.

    Về miễn tiền chậm nộp thuế:

    Người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp theo quy định hiện hành có quyền đề nghị miễn tiền chậm nộp trong trường hợp gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo hoặc trường hợp bất khả kháng khác.

    Hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp bao gồm: Văn bản đề nghị miễn tiền chậm nộp của người nộp thuế, trong đó có các nội dung chủ yếu sau: tên, mã số thuế, địa chỉ của người nộp thuế; căn cứ đề nghị xử lý miễn tiền chậm nộp; số tiền chậm nộp đề nghị miễn.

    Trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh, hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp phải có: Biên bản xác định mức độ, giá trị thiệt hại về tài sản của cơ quan có thẩm quyền như Hội đồng định giá do Sở Tài chính thành lập, hoặc các công ty định giá chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ định giá theo hợp đồng, hoặc Trung tâm định giá của Sở Tài chính; văn bản xác nhận về việc người nộp thuế có thiệt hại tại nơi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ và thời điểm xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh của một trong các cơ quan, tổ chức sau: công an cấp xã, phường hoặc UBND cấp xã, phường, ban quản lý ku công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế nơi xảy ra thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc tổ chức cứu hộ, cứu nạn; hồ sơ bồi thường thiệt hại được cơ quan bảo hiểm chấp nhận (nếu có); hồ sơ quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phải bồi thường (nếu có).

    Thủ trưởng cơ quan thuế đã ban hành thông báo tiền chậm nộp có quyền ban hành quyết định miễn tiền chậm nộp theo qui định.

    Theo: Ngọc Quỳnh (congthuong.vn)

     

     

  • Sản xuất nông nghiệp trước tác động của dịch COVID- 19: Kỳ II- Mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu

    (BGĐT) – Bắc Giang chưa bước vào thời kỳ cao điểm chăm sóc cây trồng cũng như thu hoạch nông sản xuất khẩu nhưng sản xuất nông nghiệp đã bước đầu bị tác động gián tiếp bởi “cơn bão” Covid-19. Để hạn chế thiệt hại rất cần có những  giải pháp trước mắt, lâu dài nhằm phát triển nông nghiệp bền vững. 

    Nông sản chủ lực phát huy lợi thế

    Qua các dẫn chứng và phân tích ở phần trước, có thể thấy, dịch Covid -19 đã tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Vì lo ngại dịch Covid -19 tiếp tục xâm nhập vào nước ta nên Chính phủ đã hạn chế xuất, nhập khẩu với Trung Quốc. Tuy nhiên, chính điều này đã giúp chúng ta kiểm soát, hạn chế lượng lớn hàng nhập lậu như: Rau, củ, quả… nhập về từ nước bạn. Do đó nhiều mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh gồm rau xanh, thịt lợn đã tăng giá ở mức cao.

    Dây chuyền chế biến dưa chuột bao tử xuất khẩu của Công ty G.O.C.

    Dây chuyền chế biến dưa chuột bao tử xuất khẩu của Công ty G.O.C.

    Nếu như những năm trước, vào dịp giêng, hai, rau xanh thường rất rẻ. Trái lại, năm nay, từ sau Tết đến nay giá rau luôn đạt mức cao. Đơn cử như rau cần Hoàng Lương (Hiệp Hòa) giá tăng gấp 10 lần. Bình quân mỗi sào cần hiện thu lãi khoảng 25 triệu đồng. Ở vùng chuyên canh rau thuộc các xã Cảnh Thụy, Tiến Dũng (Yên Dũng); Thái Đào (Lạng Giang), Song Mai (TP Bắc Giang); Chu Điện, Bảo Đài (Lục Nam), nông dân thu rau đến đâu, thương lái mua hết đến đó với giá cao. Bà Nguyễn Thị Bẩy, xã Chu Điện- chuyên thu gom rau cung cấp cho thị trường Thái Nguyên, Quảng Ninh nói: “Dạo này nhiều khách đặt song tôi không đủ hàng cung cấp. Để giữ mối làm ăn, tôi phải chuyển cho các bạn buôn một phần, bởi rau khan quá”.

    Hiện khoai tây cũng có giá khá cao, từ 15-20 nghìn đồng/kg. Một số người dân ở xã Cảnh Thụy đã năng động tích trữ khoai thương phẩm trong kho lạnh. Do chênh lệch giá, nhiều hộ thu bộn tiền. Anh Nguyễn Văn Tùng, chủ kho lạnh tại xã Cảnh Thụy cho hay: “Vụ đông vừa qua, khoai tây không được giá như năm trước nên sau khi thu hoạch tôi trữ trong kho lạnh. Rất may, giờ đây khoai tăng giá nên với hơn 200 tấn, tôi thu thêm gần một tỷ đồng”.

    Cùng với sản phẩm trồng trọt, gà thịt các loại của Bắc Giang vẫn tiêu thụ ổn định. Ông Nguyễn Văn Đông, Trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT Yên Thế cho biết, vài tháng nay, giá gà trong huyện dao động từ 57-90 nghìn đồng/kg (tùy loại); trừ chi phí, người nuôi lãi khoảng 15-20 triệu đồng/một nghìn con.

    Củng cố chất lượng hàng hóa, khơi thông thị trường nội địa

    Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, nhằm giảm thiểu thiệt hại về sản xuất, một số tổ chức, cá nhân đã chủ động thực hiện các giải pháp. Về phía người chăn nuôi vịt đã tạm ngừng vào đàn mới. DN chế biến nông sản đang tìm nguồn và đơn hàng mới ngoài đối tác Trung Quốc. 

    dịch viêm đường hô cấp, Covid-19, sản xuất nông nghiệp, Bắc Giang, chăn nuôi

    Chúng ta phải điều chỉnh từ sản xuất đến thị trường và chất lượng hàng nông sản. Hàng nông sản phải đi từ gốc, đó là sản xuất an toàn, điều chỉnh quy mô cho phù hợp với thị trường, đặc biệt là trong tình hình dịch Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp như hiện nay”.

    Ông Dương Thanh Tùng, Giám đốc

    Sở Nông nghiệp và PTNT.

    Đó là trong ngắn hạn, nếu dịch bệnh Covid-19 kéo dài thì kinh tế nông nghiệp của Bắc Giang sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Viễn cảnh, nếu dịch Covid-19 tiếp diễn tới thời điểm thu hoạch vải thiều thì chắc chắn Bắc Giang sẽ khó tiêu thụ do thương nhân Trung Quốc không thể sang thu mua. Trong khi dự báo năm nay vải sẽ được mùa. Thực tế, từ nhiều năm qua, lượng vải thiều của Bắc Giang xuất sang Trung Quốc chiếm tỷ lệ cao.

    Theo ông Dương Thanh Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, ngành đang triển khai tổ chức lại sản xuất, không để nguồn cung quá lớn. Các địa phương cần giảm diện tích, sản lượng các loại hàng có thể xuất khẩu sang Trung Quốc như: Dưa hấu, sắn, gia cầm… 

    Theo đó, người chăn nuôi không nên vào đàn ồ ạt bởi ngoài việc ảnh hưởng tiêu thụ do dịch Covid-19 thì dịch cúm gia cầm có nguy cơ cao xuất hiện tại tỉnh. Bên cạnh đó, ngành chức năng cần phối hợp, tăng cường kiểm soát lưu thông thị trường, không để gà giống, gà thương phẩm mang mầm bệnh vào (kể cả đi qua) địa bàn Bắc Giang.

    Thuốc bảo vệ thực vật của Công ty TNHH Việt Thắng được đóng thùng trước khi xuất bán.

    Thuốc bảo vệ thực vật của Công ty TNHH Việt Thắng được đóng thùng trước khi xuất bán.

    Với điều kiện hiện nay, tất cả hàng nông sản của Bắc Giang sẽ tập trung cao cho thị trường nội địa thông qua các kênh phân phối. Bắc Giang có thuận lợi là nằm sát các TP đông dân như: Hà Nội, Thái Nguyên, Quảng Ninh, có nhu cầu thực phẩm lớn. Nhằm tạo được chỗ đứng trong thị trường nội địa, bắt buộc hàng nông sản trong tỉnh phải bảo đảm về chất lượng. Năm nay sẽ là năm trọng tâm nâng cao chất lượng nông sản.

    Để đạt mục tiêu đặt ra, ngành nông nghiệp sẽ huy động nguồn lực, tập trung chỉ đạo, tập huấn, xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện để nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm (ATTP) cho nông sản. Xây dựng kế hoạch tổng thể về nâng cao chất lượng nông sản của Bắc Giang; khâu nối các chi cục trực thuộc, Phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện nhằm tạo bước đột phá về chất lượng ATTP. Không để vùng trọng điểm sản xuất nông sản hàng hóa của cả nước lại chỉ có 42% sản phẩm đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.

    Về xuất khẩu vải thiều, Sở Nông nghiệp và PTNT sẽ phối hợp với các sở, ngành liên quan mở rộng đến các thị trường mới. Cụ thể, Sở Nông nghiệp, Sở Công Thương xây dựng kế hoạch sản xuất và xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Nếu vải thiều của Bắc Giang vào được thị trường Nhật Bản thì đồng nghĩa cơ hội tiếp cận các thị trường khác sẽ được mở ra. Cùng đó, Bắc Giang cần tập trung cho tiêu thụ vải tại thị trường trong nước.

    Hiện ngành nông nghiệp vẫn chỉ đạo sản xuất đồng đều, tránh hẫng vụ, đặc biệt là trong chăn nuôi gia cầm vì Bắc Giang là vùng sản xuất gà lớn, cung cấp cho thị trường cả nước, đồng thời phòng, chống dịch bệnh tốt để tránh bị thiệt hại kép.

    Trên tinh thần chủ động, Sở Công Thương đã xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại tiêu thụ vải thiều và các sản phẩm đặc trưng, chủ lực của tỉnh ở trong và ngoài nước. Đồng thời đề nghị Bộ Công Thương hỗ trợ tìm các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ vải thiều cho năm 2020 và những năm tiếp theo.

    Cụ thể, về tiêu thụ tại thị trường trong nước: Mời gọi, kết nối các hệ thống phân phối, bán buôn và bán lẻ, hệ thống kinh doanh các cửa hàng tiện ích, chợ đầu mối, các thương nhân tiêu thụ nông sản… tham gia tiêu thụ vải thiều nói riêng và các sản phẩm chủ lực của tỉnh Bắc Giang nói chung; đẩy mạnh tiêu thụ nông sản ở thị trường nội địa trong tình hình hiện nay, hướng tới cơ cấu thị trường hợp lý, đa dạng giúp quả vải có được thị trường tiêu thụ ổn định và bền vững.

    Về xuất khẩu, tiếp tục hỗ trợ các hoạt động dự báo, xúc tiến tiêu thụ tại thị trường truyền thống (Trung Quốc) và các thị trường tiềm năng. Mời gọi, kết nối các tập đoàn phân phối của thế giới (Aeon, Walmart, Mega Market, Lotte, Emart, Central Group,…) tham gia tiêu thụ vải thiều của tỉnh Bắc Giang; hỗ trợ khảo sát, tìm kiếm thị trường, giúp quảng bá sản phẩm vải thiều và thông tin về cơ chế chính sách, điều kiện, tiêu chuẩn (bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc,…) để xuất khẩu quả vải sang các thị trường khó tính (Nhật Bản, EU, Mỹ, Úc,…), thị trường tiềm năng (Nga, Trung Đông, Ấn Độ, Myanma…).

    Ngoài những giải pháp trên, để giúp các hộ gia đình, DN vượt khó cần thêm một số giải pháp khác. Về vốn, ngành ngân hàng cần triển khai ngay việc hỗ trợ lãi suất, giảm nợ, giãn nợ cho hộ sản xuất, kinh doanh bị thiệt hại do tác động của dịch Covid-19. Ngành thuế cho hoãn hoặc gia hạn nộp thuế. Bảo hiểm xã hội quan tâm xem xét cho chậm nộp các loại bảo hiểm để DN có vốn tái tạo sản xuất, kinh doanh, trả lương người lao động.

    Chính quyền, ngành chức năng tổ chức gặp mặt, lắng nghe kiến nghị đề xuất của DN để tháo gỡ khó khăn; thực hiện đồng bộ các giải pháp về quản lý thị trường bảo đảm chất lượng vật tư phân bón cung ứng cho nông dân.

    Thực tế, dịch Covid-19 khiến kinh tế nông nghiệp của Bắc Giang gặp khó, chẳng khác gì “cơn bão” đang ập đến. Hy vọng từ trong khó khăn đó, chúng ta lại có cơ hội để cơ cấu lại sản xuất, củng cố chất lượng hàng nông sản.

    Theo: Nhóm PVKT – Báo Bắc Giang 

  • Sản xuất nông nghiệp trước tác động của dịch Covid-19: Kỳ 1- Đối mặt thách thức

    (BGĐT) – Dịch Covid-19 đang tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp của nước ta. Tại Bắc Giang, địa phương có vùng sản xuất hàng hóa tập trung cũng bị chi phối đáng kể. Không xuất khẩu được cộng với cung vượt cầu nên hiện nay giá nhiều mặt hàng nông sản đang “tụt dốc”. Doanh nghiệp (DN) xuất khẩu hàng hóa, cung ứng vật tư nông nghiệp cũng gặp trở ngại. Thực tế này khiến nông dân và DN đang phải đối mặt với nhiều thách thức. 

    Hàng nông sản rớt giá, tồn kho

    Do giá vịt xuống thấp nên nhiều chủ trang trại chăn nuôi lỗ nặng. Ảnh chụp tại một trang trại  ở xã Hợp Thịnh (Hiệp Hòa).

    Do giá vịt xuống thấp nên nhiều chủ trang trại chăn nuôi lỗ nặng. Ảnh chụp tại một trang trại  ở xã Hợp Thịnh (Hiệp Hòa).

    Chiều cuối tháng 2, chúng tôi về thôn Thọ Điền 1, xã Ngọc Thiện (Tân Yên). Dọc đường bê tông nội đồng là những đống ớt vừa được nhổ lên vứt chỏng chơ, trên cành vẫn còn nhiều quả chín đỏ, quả non và hoa khiến người chứng kiến không khỏi xót xa. Bà Nguyễn Thị Thái vừa đánh bật từng gốc ớt tại ruộng vừa nói: “Bây giờ một cân ớt chỉ bán 3-4 nghìn đồng nhưng phải nhặt sạch cuống mới được giá như vậy. 

    Tính ra vài tạ ớt thu về chỉ mấy trăm nghìn đồng nên tôi nhổ đi để trồng ngô”. Theo bà Thái, tầm này mọi năm, bình quân 30-35 nghìn đồng/kg ớt, vì thế phải đến cuối tháng 3 Âm lịch người dân mới phá ớt để trồng cây mới.

    Theo đại diện lãnh đạo xã Ngọc Thiện, toàn xã có hơn 100 ha ớt. Hiện nay, nông dân phá bỏ hơn 50% tổng diện tích cây trồng này, chuyển sang gieo rau, màu khác.

    Tương tự, tại các vùng trồng ớt khác thuộc địa bàn huyện Tân Yên, Việt Yên, Lạng Giang và Lục Nam cũng chung tình cảnh này. Một kg ớt dịp này giá chỉ bằng 1/3 so với trước Tết, 1/10 so với cùng kỳ năm ngoái. Nhiều năm trồng ớt để phát triển kinh tế, người dân xã Nghĩa Phương (Lục Nam) chia sẻ, lần đầu tiên giá ớt thấp như bây giờ. Vì vậy, không còn mấy người mặn mà với cây trồng này.

    Bà Nguyễn Thị Thái phá ớt bỏ đi khi trên cây vẫn còn nhiều quả.

    Bà Nguyễn Thị Thái phá ớt bỏ đi khi trên cây vẫn còn nhiều quả.

    Thời điểm này, những người chăn nuôi thủy cầm cũng đang chịu lỗ vì giá xuống thấp, thu không đủ chi. Trang trại nuôi vịt của gia đình anh Phạm Văn Phương, thôn Trung Tâm, xã Hợp Thịnh (Hiệp Hòa) mỗi lứa nuôi hàng nghìn vịt lai. Tưởng chừng đàn vật nuôi được bán sẽ cho anh khoản tiền lớn sau bao ngày chăm bẵm. Ai dè, đến lúc xuất chuồng, giá vịt lại “lao dốc”, còn 17 nghìn đồng/kg. Bán xô cả đàn, anh lỗ gần 80 triệu đồng. 

    Anh Phương cho biết: “Vịt đến lứa là phải xuất chuồng, nếu không càng nuôi càng lỗ. Với 3 nghìn con vịt mà nuôi cầm chừng thì mỗi ngày chi phí vài triệu đồng tiền thức ăn, chúng tôi không thể cáng nổi nên rẻ cũng phải bán”.

    Bắc Giang hiện có hơn 230 trang trại, hộ nuôi gà và hàng chục hộ nuôi vịt sinh sản với tổng lượng trứng trên 200 nghìn quả mỗi ngày. Giá trứng thương phẩm rẻ chỉ bằng một nửa so với trước, từ 1,5-1,7 nghìn đồng/quả. Ngoài ra, Bắc Giang còn có 30 cơ sở ấp nở và kinh doanh gà, vịt giống. Giá trứng, giá con giống gia cầm, thủy cầm thấp nên các cơ sở này cũng đang gặp bất lợi. 

    Đơn cử cơ sở ấp nở thủy cầm của gia đình anh Ngô Quang Luyến, thôn Tam Bình, xã Ngọc Thiện (Tân Yên) cũng đang hoạt động cầm chừng để giữ khách, chờ giá lên. Lò của anh mỗi ngày ấp nở 5 nghìn vịt con. Hiện giá vịt giống chỉ được 4-5 nghìn đồng/con nên cứ sau một phiên bán vịt (4 ngày) gia đình anh Luyến lỗ 80 triệu đồng. 

    Anh Ngô Quang Luyến, xã Ngọc Thiện (Tân Yên) chia sẻ khó khăn trong sản xuất với đại diện lãnh đạo xã Ngọc Thiện.

    Anh Ngô Quang Luyến, xã Ngọc Thiện (Tân Yên) chia sẻ khó khăn trong sản xuất với đại diện lãnh đạo xã Ngọc Thiện.

    Vậy nhưng, những năm qua để có nguồn cung duy trì 10 lò ấp hoạt động thường xuyên, gia đình anh liên kết với khoảng 20 hộ nuôi vịt sinh sản trong và ngoài xã. Do đó, dù lỗ anh vẫn nhập trứng cho các hộ. Anh Luyến chia sẻ: “Làm ăn có lúc được lúc mất. Nếu giờ mình không nhập trứng thì người nuôi thêm khó khăn, có thể bỏ nghề nên tôi phải chia sẻ lúc này mới sản xuất, kinh doanh bền vững được”.

     

    Nhiều DN xuất khẩu nông sản cũng như sản xuất vật tư nông nghiệp nhập nguyên liệu từ Trung Quốc đang đối mặt với không ít trở ngại. Riêng DN cung ứng phân bón thì thắc thỏm âu lo vì đã cấp phân bón trả chậm cho nông dân, nếu nông sản không tiêu thụ được, nhất là nông sản xuất khẩu thì khó thu hồi vốn.

     

    Sở dĩ nông sản khó tiêu thụ là do các lễ hội, cuộc gặp mặt, liên hoan… đầu xuân giảm mạnh; nhiều hàng quán, khu du lịch vắng khách bởi người dân lo ngại dịch Covid- 19 lan rộng. 

    Điều này đã ảnh hướng lớn đến việc tiêu thụ hàng hóa, trong đó có nông sản của Bắc Giang. Các trường học, nhất là những trường tổ chức bếp ăn bán trú cũng nghỉ học là một trong yếu tố chính khiến trứng ở nhiều trang trại xuống thấp, khó tìm đầu ra. 

    Khảo sát tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp (Bộ Công Thương); Trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên (TP Bắc Giang), mỗi tuần 2 trường này chế biến từ 3,5-4 nghìn quả trứng cho học sinh, sinh viên… Như vậy, việc học sinh nghỉ học đồng loạt trong vài tuần qua là một trong nguyên nhân khiến lượng trứng tiêu thụ giảm đáng kể. 

    Riêng với vịt thương phẩm, ngoài yếu tố lo ngại dịch bệnh còn do cung vượt cầu. Đàn vịt tăng nhanh ở các xã vùng trũng, ven sông. Chỉ tính tại Hiệp Hòa, tổng đàn vịt của huyện hơn 400 nghìn con, tăng gần 100 nghìn con so với cùng kỳ năm trước.

    Xuất khẩu hàng hóa, cung ứng vật tư gặp khó

    Do các cửa khẩu với Trung Quốc hạn chế xuất, nhập hàng qua biên giới vì dịch Covid-19 nên giá nông sản chuyên xuất khẩu đi Trung Quốc cũng rẻ, tiêu thụ không mấy dễ dàng như: Dưa hấu, sầu riêng, thanh long của các tỉnh phía Nam. Tại Bắc Giang, có nhiều quầy trưng biển giải cứu dưa hấu, sầu riêng cho bà con. Hội DN trẻ, Huyện Đoàn Hiệp Hòa, Thành Đoàn TP Bắc Giang cũng chung tay mua hàng chục tấn dưa hấu ủng hộ nông dân.

    Ông Nguyễn Văn Nam, Giám đốc HTX Sản xuất và Kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Vinh Quang, xã Cao Xá (Tân Yên) cho biết, trước đây, mỗi tháng HTX xuất khoảng 80 tấn ớt sang nội địa Trung Quốc song gần 2 tháng nay gặp trở ngại. 35 tấn hàng đã mua của bà con, HTX phải bảo quản trong kho lạnh. Qua mối liên hệ, sự giúp đỡ của bạn bè, HTX mới xuất được hàng sang thị trường Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc). 

    Một phần ớt còn lại của HTX được nghiền nhỏ, cung cấp cho cơ sở sản xuất tương ớt trong nước. Hay HTX Nông nghiệp tổng hợp Lục Nam hiện cũng gặp cảnh tương tự. Được biết, mỗi tuần HTX này xuất 20 tấn ớt sang Trung Quốc nhưng gần tháng qua không bán được cân nào trong khi vẫn phải thu mua ớt cho bà con. 

    Ông Hoàng Văn Diện, Giám đốc HTX cho hay, từ khi có dịch Covid-19, HTX của ông đã bị lỗ hơn 1 tỷ đồng vì ớt rớt giá. Điều ông Nam và ông Diện lo lắng nữa là toàn bộ chai, lọ đóng gói phải nhập từ Trung Quốc. Nếu dịch bệnh cứ tiếp diễn thì bao bì bảo quản sẽ không đủ để phục vụ sản xuất lâu dài. Vì thế, các HTX đang tính chuyển sang phương thức đóng gói bằng thùng nhựa hoặc gỗ để thay thế.

    Dù không xuất khẩu trực tiếp nông sản sang Trung Quốc nhưng Công ty cổ phần chế biến Thực phẩm xuất khẩu G.O.C, xã Tân Dĩnh (Lạng Giang) đang thiếu bao bì đóng gói hàng hóa. Một tháng qua, DN phải đàm phán, điều chỉnh lịch xuất hàng cho đối tác vì chai, lọ nhập về chậm. Ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc điều hành Công ty thông tin, mỗi tháng, đơn vị nhập hàng trăm nghìn lọ từ Trung Quốc để đóng gói dưa chuột, ớt chế biến xuất khẩu. Nếu kéo dài tình trạng như hiện nay thì hoạt động sản xuất có thể đình trệ vào giữa tháng 3, vì đây là thời điểm nông sản thu hoạch rộ. 

    Được biết, G.O.C là DN chế biến, xuất khẩu nông sản quy mô lớn nhất tại tỉnh, bình quân xuất khẩu 300 tấn nông sản/tháng. Để bảo đảm nguồn hàng, DN liên kết với hàng nghìn hộ sản xuất tại địa phương và các tỉnh, TP lân cận xây dựng vùng nguyên liệu. Điều này có nghĩa là nếu việc sản xuất, kinh doanh của DN có biến động sẽ kéo theo hàng nghìn nông dân cũng bị xáo trộn.

    Chưa có thống kê cụ thể song nguyên liệu để sản xuất thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong nước có nguồn gốc từ Trung Quốc khá lớn. Nếu sâu bệnh trên cây trồng diễn biến phức tạp thì nguy cơ cao thuốc BVTV không đủ cung cấp cho thị trường, giá bán tăng, đẩy chi phí đầu vào sản xuất lên cao. 

    Ông Lê Văn Thùa, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Việt Thắng – DN duy nhất tại tỉnh sản xuất, sang chai đóng gói thuốc BVTV chia sẻ, 60% nguyên liệu Công ty phải nhập từ Trung Quốc nên rất lo vì thiếu nguồn sản xuất thuốc thành phẩm. Hiện chưa vào thời kỳ đỉnh điểm chăm sóc cây trồng nhưng nếu trong vòng hơn một tháng nữa mà cửa khẩu với Trung Quốc hạn chế thông quan thì Công ty sẽ không còn hàng để cung ứng.

    Đánh giá chung cho thấy, nhiều DN xuất khẩu nông sản cũng như sản xuất vật tư nông nghiệp nhập nguyên liệu từ Trung Quốc đang đối mặt với không ít trở ngại. Riêng DN cung ứng phân bón thì thắc thỏm âu lo vì đã cấp phân bón trả chậm cho nông dân, nếu nông sản không tiêu thụ được, nhất là nông sản xuất khẩu thì khó thu hồi vốn. Dịch Covid- 19 như “cơn sóng ngầm”, âm thầm dâng cao, tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh.

    Theo: Nhóm PVKT – Báo Bắc Giang 

    (Còn nữa)

  • Xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam sạch, an toàn, chất lượng

    Ngày 21/02, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc về thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến nông sản và cơ giới hóa nông nghiệp.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thu Hà chủ trì hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang. Cùng dự có đại diện lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị trong tỉnh. 

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thu Hà chủ trì hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, trong 10 năm trở lại đây, cơ giới hóa nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản của Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Hệ thống công nghiệp chế biến nông sản có công suất thiết kế khoảng 120 triệu tấn nguyên liệu nông sản/năm đã được hình thành.

    Hệ thống công nghiệp chế biến bảo quản nông sản có trên 7.500 cơ sở quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu và hàng vạn cơ sở chế biến nông sản nhỏ lẻ, hộ gia đình. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của công nghiệp chế biến nông sản đạt khoảng 5 – 7%/năm. Nhờ đó, kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng mạnh, bình quân tăng khoảng 8 – 10%/năm.

    Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 41,3 tỷ USD, xuất khẩu tới hơn 186 nước và vùng lãnh thổ. Công nghiệp chế biến nông sản giải quyết việc làm trực tiếp cho khoảng 1,6 triệu lao động, trong đó phần lớn là con em nông dân, với mức thu nhập bình quân 5 – 7 triệu đồng/tháng.

    Tuy nhiên, Bộ NN&PTNT cũng thẳng thắn nhìn nhận ngành nông nghiệp vẫn còn nhiều tồn tại, khả năng chế biến đối với một số ngành hàng còn yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là vào cao điểm mùa vụ như rau quả, gây tổn thất sau thu hoạch. 

    Lĩnh vực cơ giới hóa một số khâu trong nông nghiệp đang có xu hướng tăng nhanh, song mức độ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp một số khâu còn thấp. Trang bị máy động lực còn lạc hậu, hầu hết các máy làm đất công suất nhỏ, chỉ thích hợp với quy mô hộ và đất manh mún. Cơ chế, chính sách chưa đủ hấp dẫn đầu tư vào chế biến nông sản. Một số chính sách về đất đai, tài chính, tín dụng, khoa học công nghệ… chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn sản xuất kinh doanh.

    Phát biểu thảo luận tại hội nghị, một số đại biểu cho rằng, nguyên nhân của tình trạng trên là do nhiều doanh nghiệp chưa chủ động được nguồn cung nguyên liệu bảo đảm về số lượng, chất lượng. Giá thành sản phẩm cơ khí nông nghiệp trong nước cao. Chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ còn hạn chế, nhất là công nghiệp hỗ trợ cho máy động lực, máy canh tác phục vụ sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, các hộ nông dân vẫn là chủ thể sản xuất chính, do vậy khó ứng dụng cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp.

    Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết, ngành Nông nghiệp Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 đưa công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản Việt Nam “đứng trong số 10 nước hàng đầu thế giới”, là trung tâm chế biến sâu và logistics nông sản toàn cầu, đồng thời có đủ năng lực chế biến, đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị – Ảnh: VGP/Quang Hiếu

    Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, hiện nay, nông nghiệp Việt Nam còn tiềm năng lớn, có thể làm giàu từ nông nghiệp. Tuy vậy, lãng phí và thất thoát trong nông nghiệp vẫn còn cao trong các khâu chế biến, thu hoạch, bảo quản.

    Thủ tướng đề nghị các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho hộ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam.

    Sau hội nghị, Thủ tướng sẽ ban hành Chỉ thị về các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến và cơ giới hóa trong nông nghiệp. Bộ NN&PTNT tiếp thu các ý kiến của các đại biểu tại hội nghị, khẩn trương hoàn thiện nội dung Chỉ thị trình ban hành.

    Về vai trò của thị trường nội địa trong thời gian tới, Thủ tướng nhấn mạnh, đây được xem là ưu tiên hàng đầu để nhân dân có nông, thủy sản sạch, có chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm. Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục áp dụng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ số, công nghệ sinh học, cơ khí để nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm nông nghiệp; giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp bằng cách áp dụng cơ giới hóa; phấn đấu xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam sạch, an toàn, chất lượng, nông nghiệp hữu cơ…/.

    Nguồn: bacgiang.gov.vn

  • Xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam sạch, an toàn, chất lượng

    Ngày 21/02, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc về thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến nông sản và cơ giới hóa nông nghiệp.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thu Hà chủ trì hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang. Cùng dự có đại diện lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị trong tỉnh. 

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thu Hà chủ trì hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, trong 10 năm trở lại đây, cơ giới hóa nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản của Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Hệ thống công nghiệp chế biến nông sản có công suất thiết kế khoảng 120 triệu tấn nguyên liệu nông sản/năm đã được hình thành.

    Hệ thống công nghiệp chế biến bảo quản nông sản có trên 7.500 cơ sở quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu và hàng vạn cơ sở chế biến nông sản nhỏ lẻ, hộ gia đình. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của công nghiệp chế biến nông sản đạt khoảng 5 – 7%/năm. Nhờ đó, kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng mạnh, bình quân tăng khoảng 8 – 10%/năm.

    Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 41,3 tỷ USD, xuất khẩu tới hơn 186 nước và vùng lãnh thổ. Công nghiệp chế biến nông sản giải quyết việc làm trực tiếp cho khoảng 1,6 triệu lao động, trong đó phần lớn là con em nông dân, với mức thu nhập bình quân 5 – 7 triệu đồng/tháng.

    Tuy nhiên, Bộ NN&PTNT cũng thẳng thắn nhìn nhận ngành nông nghiệp vẫn còn nhiều tồn tại, khả năng chế biến đối với một số ngành hàng còn yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là vào cao điểm mùa vụ như rau quả, gây tổn thất sau thu hoạch. 

    Lĩnh vực cơ giới hóa một số khâu trong nông nghiệp đang có xu hướng tăng nhanh, song mức độ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp một số khâu còn thấp. Trang bị máy động lực còn lạc hậu, hầu hết các máy làm đất công suất nhỏ, chỉ thích hợp với quy mô hộ và đất manh mún. Cơ chế, chính sách chưa đủ hấp dẫn đầu tư vào chế biến nông sản. Một số chính sách về đất đai, tài chính, tín dụng, khoa học công nghệ… chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn sản xuất kinh doanh.

    Phát biểu thảo luận tại hội nghị, một số đại biểu cho rằng, nguyên nhân của tình trạng trên là do nhiều doanh nghiệp chưa chủ động được nguồn cung nguyên liệu bảo đảm về số lượng, chất lượng. Giá thành sản phẩm cơ khí nông nghiệp trong nước cao. Chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ còn hạn chế, nhất là công nghiệp hỗ trợ cho máy động lực, máy canh tác phục vụ sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, các hộ nông dân vẫn là chủ thể sản xuất chính, do vậy khó ứng dụng cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp.

    Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết, ngành Nông nghiệp Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 đưa công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản Việt Nam “đứng trong số 10 nước hàng đầu thế giới”, là trung tâm chế biến sâu và logistics nông sản toàn cầu, đồng thời có đủ năng lực chế biến, đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị – Ảnh: VGP/Quang Hiếu

    Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, hiện nay, nông nghiệp Việt Nam còn tiềm năng lớn, có thể làm giàu từ nông nghiệp. Tuy vậy, lãng phí và thất thoát trong nông nghiệp vẫn còn cao trong các khâu chế biến, thu hoạch, bảo quản.

    Thủ tướng đề nghị các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho hộ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam.

    Sau hội nghị, Thủ tướng sẽ ban hành Chỉ thị về các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến và cơ giới hóa trong nông nghiệp. Bộ NN&PTNT tiếp thu các ý kiến của các đại biểu tại hội nghị, khẩn trương hoàn thiện nội dung Chỉ thị trình ban hành.

    Về vai trò của thị trường nội địa trong thời gian tới, Thủ tướng nhấn mạnh, đây được xem là ưu tiên hàng đầu để nhân dân có nông, thủy sản sạch, có chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm. Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục áp dụng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ số, công nghệ sinh học, cơ khí để nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm nông nghiệp; giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp bằng cách áp dụng cơ giới hóa; phấn đấu xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam sạch, an toàn, chất lượng, nông nghiệp hữu cơ…/.

    Nguồn: bacgiang.gov.vn