Danh mục: Tin tức kinh tế

  • New York Times: Hồi chuông Coronavirus – thế giới đang phụ thuộc vào Trung Quốc rõ rệt hơn bao giờ hết

    New York Times: Hồi chuông Coronavirus – thế giới đang phụ thuộc vào Trung Quốc rõ rệt hơn bao giờ hết

    Apple tái cơ cấu lại chuỗi cung ứng. Ikea đóng cửa các cửa hàng tại Trung Quốc để “hồi hương”. Starbucks đưa ra các cảnh báo về một chấn động tài chính. Ford và Toyota sẽ giảm công suất một số nhà máy lắp ráp lớn của Trung Quốc trong một tuần nữa.

    Ngày 29/1, British Airways và Air Canada đã đình chỉ tất cả các chuyến bay đến Trung Quốc đại lục. Delta Airlines cũng theo chân các hãng hàng không kể trên.

    Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đang chuẩn bị cho một cú shock có thể xảy ra, trong khi Cục Dự trữ Liên bang cũng đang theo dõi tình hình rất sát sao. Các khách sạn và nhà điều hành tour du lịch trên khắp châu Á đang tỏ ra sợ hãi khi nguồn thu ngoại tệ du lịch lớn nhất thế giới có nguy cơ bị đe dọa.

    Coronavirus đã làm thiệt mạng hơn một trăm người và gây bệnh cho hàng ngàn người. Rộng hơn, nó gần như đã “đóng cửa” một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của thế giới.

    Mong muốn kiềm chế virus này, chính quyền Trung Quốc đã kéo dài kỳ nghỉ lễ đến ngày 3/2, phong tỏa giao thông đường bộ, đường sắt và đường hàng không. Toàn bộ thành phố đã ngừng hoạt động.

    New York Times: Hồi chuông Coronavirus - thế giới đang phụ thuộc vào Trung Quốc rõ rệt hơn bao giờ hết - Ảnh 1.

    Chỉ mới bốn thập kỷ trước còn là một trong những quốc gia nghèo nhất, giờ đây Trung Quốc đã trở thành một phần thiết yếu của bộ máy công nghiệp toàn cầu hiện đại. Riêng Trung Quốc chiếm khoảng 1/6 GDP toàn cầu, và là nhà sản xuất lớn nhất thế giới.

    Tầm quan trọng của Trung Quốc với kinh tế toàn cầu không chỉ dừng lại ở khả năng sản xuất. Người tiêu dùng Trung Quốc mua nhiều xe hơi và điện thoại thông minh hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Khi ra nước ngoài, khách du lịch Trung Quốc chi tiêu tới 258 tỷ USD mỗi năm – theo Tổ chức Du lịch Thế giới – gần gấp đôi người Mỹ.

    Trung Quốc trở nên quan trọng đối với hoạt động của các công ty Mỹ đến nỗi một số thành viên của chính quyền Trump đã phải bắt đầu một cuộc chiến thương mại bắt đầu từ 2 năm trước. Cuộc xung đột kinh tế này đã buộc các doanh nghiệp phải cân nhắc chuyển nhà máy ở Trung Quốc sang các quốc gia có quan hệ tốt hơn với chính quyền Washington.

    Các công ty toàn cầu đang xem xét lại các chiến lược tại thị trường Trung Quốc của họ ngay cả trước khi cuộc chiến thương mại bắt đầu.

    Chi phí lao động của Trung Quốc đang tăng lên, các công ty địa phương ngày càng cạnh tranh và chính phủ không còn “dễ tính” như trước. Tuy nhiên, lực lượng công nhân lành nghề, hệ thống đường cao tốc và đường sắt thuận lợi, cũng thị trường tiêu dùng rộng lớn khiến các công ty khó mà từ bỏ Trung Quốc.

    Sameer Samana, chiến lược gia thị trường toàn cầu cao cấp tại Viện đầu tư Wells Fargo cho biết, “Điều dễ thấy là các doanh nghiệp đang quay cuồng với sự bất ổn. Đây [coronavirus] là sự bất ổn tiếp theo”.

    Tác động toàn cầu của coronavirus vẫn chưa thực sự rõ ràng như 17 năm trước, SARS bắt đầu ở Trung Quốc, giết chết hàng trăm người trên toàn cầu. Đầu năm 2003, SARS làm trì trệ đáng kể tăng trưởng của Trung Quốc.

    “Rõ ràng sẽ có tác động, ít nhất là trong thời gian tới, đối với sản lượng của Trung Quốc”, chủ tịch của Cục Dự trữ Liên bang, Jerome H. Powell, cho biết trong một cuộc họp báo vào ngày 29/1. “Chúng tôi chỉ cần xem xét những yếu tố có tác động toàn cầu. Hầu hết Trung Quốc đã ngừng hoạt động cho kỳ nghỉ Tết Nguyên đán hàng năm, một tuần gián đoạn trên toàn quốc. Nhưng với sự bùng phát không có dấu hiệu chậm lại [của dịch bệnh], nhiều công ty đã chuẩn bị cho sự trì trệ lâu hơn”.

    Vũ Hán coronavirus

    Tác động ở Mỹ

    Cập nhật ngày 31/1/2020

    Đã có bảy trường hợp được xác nhận ở Mỹ, nhưng không có trường hợp tử vong.

    195 người Mỹ sơ tán từ Vũ Hán đến California đã bị cách ly khi một người cố gắng bỏ trốn. Nếu bạn sống ở California, hãy cẩn thận.

    Tổng thống Trump đã tạm thời đình chỉ nhập cảnh Mỹ đối với bất kỳ công dân nước ngoài nào đã đi qua Trung Quốc.

    Delta, United và American Airlines đang tạm dừng dịch vụ từ Mỹ và Trung Quốc.

    “Chúng tôi đang đối phó với các mức độ bất ổn khác nhau trong hoạt động kinh doanh, bao gồm các vấn đề về chuỗi cung ứng, đóng cửa tạm thời một số cửa hàng bán lẻ và nhà máy, và những thách thức khác”, ông Jake Parker, phó chủ tịch Hội đồng Kinh doanh Mỹ-Trung nói, đại diện cho các công ty lớn. “Nếu lệnh hạn chế đi lại và kiểm dịch bắt buộc lan rộng hơn, hoặc kỳ nghỉ kéo dài hơn nữa, những vấn đề này sẽ càng trở nên nghiêm trọng”.

    Các nhà sản xuất ô tô như General Motors và Nissan có kế hoạch đóng cửa các nhà máy của họ cho đến tuần 3 của tháng 2, kèo dài kỳ nghỉ, trong khi Toyota và Ford cho biết họ sẽ đóng cửa một số nhà máy của họ lâu hơn một tuần vì virus và các gián đoạn liên quan đến dịch bệnh này. Các công ty như GM, Honeywell, Facebook và Bloomberg đã hạn chế việc đi lại đối với nhân viên ở Trung Quốc và thiết lập các biện pháp tự kiểm dịch của riêng họ.

    Hôm thứ ba, Starbucks cho biết họ đã đóng cửa hơn một nửa trong số 4.292 cửa hàng tại Trung Quốc, thị trường lớn thứ hai sau Hoa Kỳ.

    Tim Cook, CEO Apple, cho biết vào hôm 28/1 rằng họ đang tìm kiếm nhà cung cấp thay thế. Foxconn, một nhà sản xuất các thiết bị cho Apple cho biết các nhà máy của họ sẽ tiếp tục kéo dài kỳ nghỉ lễ – có thể sẽ đóng cửa cho đến ngày 10/2.

    New York Times: Hồi chuông Coronavirus - thế giới đang phụ thuộc vào Trung Quốc rõ rệt hơn bao giờ hết - Ảnh 2.

    Apple không phải là công ty duy nhất phải chật vật xoay sở. Mới tuần trước, các giám đốc điều hành của Honeywell, công ty kỹ thuật Mỹ, đã tới Vũ Hán để tham dự một buổi lễ liên quan đến kế hoạch mở một trụ sở sáng tạo. Hai ngày sau, Vũ Hán bị chính quyền phong tỏa. Honeywell kể từ đó đã hạn chế đi du lịch đến một số vùng của Trung Quốc.

    Vũ Hán đã từng rất hấp dẫn với các công ty lớn, vì đây là một trung tâm vận tải của Trung Quốc. Ngành công nghiệp ô tô, bao gồm các công ty hàng đầu như General Motors, Honda, Nissan và nhiều công ty khác, đã thiết lập cửa hàng ở đó. Các nhà cung cấp của các công ty này cũng theo chân. Đây là điểm đến của 1/3 tổng vốn đầu tư của Pháp vào Trung Quốc.

    Hôm 27/1, Tập đoàn PSA, nhà sản xuất ô tô của Pháp, cho biết họ đã thiết lập liên lạc khủng hoảng giữa Vũ Hán và trụ sở tại Paris để ước tính tác động tiềm ẩn đối với hoạt động sản xuất. Công ty sử dụng khoảng 2.000 lao động ở Vũ Hán thông qua liên doanh và đang sơ tán 38 người nước ngoài.

    Ikea sử dụng 14.000 lao động tại Trung Quốc, cho biết hôm 30/1 rằng họ sẽ tạm thời đóng cửa tất cả 30 cửa hàng tại nước này. Nhân viên tại đây sẽ được yêu cầu nghỉ phép có lương cho đến khi có thông báo mới.

    Không rõ làm thế nào các doanh nghiệp có thể phục hồi trở lại. Trong thời gian dịch SARS, một số nhà máy đã trả lương cao hơn để kêu gọi công nhân trở lại.

    Cummins, một công ty ở Indiana sản xuất động cơ và máy phát điện, không biết liệu họ có thể mở cửa 7 cơ sở của mình ở Vũ Hán sau ngày gia hạn ngày 3/2 hay không, vì thành phố vẫn bị phong tỏa. Công ty này thiết lập hệ thống nhiên liệu và năng lượng cho ngành công nghiệp đường sắt và hàng hải.

    New York Times: Hồi chuông Coronavirus - thế giới đang phụ thuộc vào Trung Quốc rõ rệt hơn bao giờ hết - Ảnh 3.

    Ford, trên thực tế không có bất kỳ hoạt động nào ở Vũ Hán, cho biết một số nhà máy chính của hãng vẫn sẽ không hoạt động cho đến ngày 10/2. Các nhà máy của Ford ở bốn thành phốTrung Quốc sản xuất ra gần nửa triệu xe mỗi năm, tương đương trung bình 9.400 xe mỗi tuần.

    Các doanh nghiệp ở các quốc gia khác cũng đang cố gắng xác định tác động của dịch bệnh.

    “Nếu tình hình này không thuyên giảm, chúng tôi lo ngại nó có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu, sản lượng và lợi nhuận của công ty Nhật Bản”, ông Yasutoshi Nishimura, Bộ trưởng Bộ Chính sách kinh tế và Tài chính Nhật Bản nói với một nhóm phóng viên trong tuần này. Khách Trung Quốc chiếm khoảng 30% khách quốc tế và các công ty Trung Quốc là khách hàng chính của linh kiện do Nhật Bản sản xuất, như chất bán dẫn và ống kính.

    “Tại Thái Lan, khách Trung Quốc chi gần 18 tỷ USD hàng năm, tương đương khoảng 1/4 chi tiêu của khách du lịch”.Yuthasak Supasorn, Cụ trưởng Tổng cục Du lịch Thái Lan cho biết, “Khách du lịch Trung Quốc là nhóm khách du lịch hàng đầu đến Thái Lan”.

    Ông cũng nói thêm rằng chính phủ đang tìm cách bù đắp cho các chủ doanh nghiệp bị thiệt hại từ sự sụt giảm khách du lịch trong vài tuần qua. Chính phủ thậm chí đã xem xét giảm phí đỗ xe cho các hãng hàng không và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nhiên liệu máy bay để thu hút nhiều khách du lịch hơn.

    Anan Buates, 45 tuổi, điều hành một công ty lái xe khách du lịch cho biết khách du lịch Trung Quốc là nhóm khách rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của anh. Anh đã gần như phát hoảng khi các công ty lữ hành bắt đầu hủy hợp đồng vào phút chót khi coronavirus xuất hiện. Tuần trước, Trung Quốc đã ban lệnh cấm đối với các tour du lịch nhóm ở nước ngoài.

    “Đây là quyền của họ và đó là chính sách của họ để ngăn chặn sự lây lan của coronavirus”, Anan nói. Tuy nhiên, anh biết mình sẽ phải đối mặt với một thử thách khó khăn. “Chúng tôi sống được là vì khách Trung Quốc đến quanh năm”.

    Theo: Tri thức trẻ 

  • UBND tỉnh Bắc Giang thông tin về tình hình KT-XH năm 2019

    (BGĐT) – Chiều 2-12, UBND tỉnh Bắc Giang tổ chức hội nghị thông tin về tình hình KT-XH năm 2019; mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu năm 2020. Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn chủ trì.

    Cùng dự có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, huyện, thành phố; phóng viên các cơ quan báo chí của tỉnh và T.Ư thường trú tại Bắc Giang. Báo cáo tóm tắt của UBND tỉnh cho biết năm 2019 tình hình KT-XH của tỉnh đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện. Hết năm 2019 đã có 8 chỉ tiêu chủ yếu hoàn thành mục tiêu Đại hội và Nghị quyết của HĐND tỉnh giai đoạn 2016-2020. Đây là năm thứ hai liên tiếp, kinh tế của tỉnh tăng trưởng hơn 16%, thuộc nhóm các tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao. 

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn chủ trì hội nghị. 

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn chủ trì hội nghị. 

    Thu ngân sách ước đạt 11.060 tỷ đồng (gấp hơn 2 lần mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đề ra). Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt hơn 54.130 tỷ đồng, tăng 24,7%, vượt 8,3% kế hoạch. Các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân được tập trung chỉ đạo, ngày càng tiến bộ. An sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân và người lao động tiếp tục được cải thiện. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. 

    Năm 2020, UBND tỉnh dự kiến đề ra một số chỉ tiêu chủ yếu như tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP) khoảng 17,1%; GRDP  bình quân đầu người đạt 3.025 USD/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo còn 3,5%, giảm 1,5% so với năm 2019; tạo việc làm mới cho khoảng 32 nghìn lao động… góp phần hoàn thành 17/17 chỉ tiêu chủ yếu của Đại hội Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết HĐND tỉnh về phát triển KT-XH 5 năm, giai đoạn (2016-2020).

    Nhà báo Việt Anh, Báo Bắc Giang nêu câu hỏi tại hội nghị.  

    Nhà báo Việt Anh, Báo Bắc Giang nêu câu hỏi tại hội nghị. 

     

    Tại hội nghị có 9 nhà báo đặt câu hỏi với các nhóm vấn đề được dư luận quan tâm như: Thu hút đầu tư, phát triển du lịch; việc chậm chi trả tiền hỗ trợ cho các hộ có bị thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi; vấn đề lao động, việc làm, hạ tầng xã hội ở khu công nghiệp; quản lý lao động cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài; an toàn giao thông đường sắt; ô nhiễm môi trường; công tác chuẩn bị Tuần Văn hóa – Du lịch và Khai mạc Lễ hội Xuân Tây Yên Tử năm 2020; kết quả giải quyết một số vụ việc cụ thể. Nhìn chung, các vấn đề các nhà báo nêu đã được lãnh đạo sở, ngành và UBND tỉnh trả lời, làm rõ kết quả, nguyên nhân, biện pháp khắc phục. 

    Trả lời câu hỏi của phóng viên Báo Bắc Giang, Đài PT-TH Bắc Giang về thực trạng công nhân hiện nay đang chịu áp lực lớn về tăng ca; thời gian nghỉ ngơi tái tạo sức lao động ít; tình hình ô nhiễm môi trường; bảo đảm an ninh trật tự tại các khu công nghiệp vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm, đại diện Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư làm rõ nguyên nhân của những hạn chế và đề ra giải pháp. Năm 2019, cơ quan chức năng xử phạt 5 doanh nghiệp số tiền hơn 100 triệu đồng do vi phạm pháp luật về lao động ở các khu công nghiệp. Nhấn mạnh nội dung này, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn đề nghị Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh phối hợp với các ngành, địa phương liên quan cần rà soát, đánh giá tình hình đời sống, việc làm, thu nhập người lao động, vì đây là vấn đề hết sức quan trọng cần được giải quyết. 

    Nhà báo Thanh Huyền, Đài PT-TH tỉnh nêu câu hỏi về vấn đề bảo hiểm thất nghiệp .

    Nhà báo Thanh Huyền, Đài PT-TH tỉnh nêu câu hỏi về vấn đề bảo hiểm thất nghiệp .

    Một số ý kiến phản ảnh tiến độ triển khai xây dựng, giải phóng mặt bằng (GPMB) một số dự án du lịch chậm, ông Nguyễn Sĩ Cầm, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng, nguyên nhân là do việc huy động nguồn vốn xã hội hóa khó khăn; thỏa thuận trong bồi thường GPMB giữa người dân và doanh nghiệp còn phức tạp. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lại Thanh Sơn nhấn mạnh, thời gian tới UBND tỉnh sẽ chỉ đạo các sở, ngành, địa phương liên quan đẩy nhanh tiến độ GPMB bằng các dự án.

    Nhà báo Hồng Nhung, Đài PT-TH tỉnh phản ánh, việc chi trả tiền hỗ trợ hộ dân thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn tỉnh thời gian qua chậm trễ, mặc dù kinh phí đã được triển khai về các địa phương, đề nghị ngành chức năng làm rõ nguyên nhân, hướng giải quyết. Đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT giải thích, nguyên nhân chính là do việc thống kê số liệu ở các hộ của một vài huyện chưa chính xác, chậm hoàn thiện hồ sơ. Sở đang phối hợp với các địa phương hoàn tất thủ tục để hỗ trợ các hộ có lợn chết bảo đảm đúng quy định. 

    Nhà báo Việt Anh, Báo Bắc Giang phản ánh về tình hình tai nạn giao thông (TNGT) đường bộ năm 2019 giảm cả 3 tiêu chí nhưng TNTG đường sắt tăng. Theo đó, 11 tháng năm 2019, toàn tỉnh xảy ra 8 vụ, làm 8 người chết, tăng 5 vụ, tăng 7 người chết so với năm 2018. Theo đại diện lãnh đạo Sở Giao thông-Vận tải, các vụ tai nạn chủ yếu xảy ra ở các đường ngang, tập trung đông dân cư-nơi có đường sắt chạy qua địa bàn các huyện Việt Yên, Lạng Giang và TP Bắc Giang. Nguyên nhân chính là do người dân mở lối đi tự phát, không chú ý quan sát khi qua đường. Để kéo giảm TNGT đường sắt, Sở sẽ phối hợp với địa phương rà soát làm các đường gom, rào chắn, đóng các lối đi tự mở. 

    Nhà báo Thanh Huyền, Đài PT-TH tỉnh nêu câu hỏi về giải pháp quản lý lao động cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài. Ông Trương Đức Huấn, Phó Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết: Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 300 lao động cư trú bất hợp pháp chủ yếu ở Hàn Quốc, đây là vấn đề rất đáng quan tâm, đơn vị sẽ  phối hợp với các địa phương, đơn vị liên quan quản lý chặt chẽ các đối tượng xuất khẩu lao động; đồng thời tuyên truyền để các gia đình vận động người thân đang cư trú bất hợp pháp về nước.

    Các câu hỏi về kinh nghiệm trong tổ chức Hội chợ cam, bưởi và các sản phẩm đặc trưng huyện Lục Ngạn năm 2019; kết quả giải quyết một số vụ việc liên quan đến ô nhiễm môi trường do doanh nghiệp gây ra ở huyện Lục Nam; kết quả và định hướng tiếp theo trong thu hút đầu tư của tỉnh đã được đại diện các sở, ngành, UBND tỉnh trả lời. 

    Đại diện lãnh đạo  Sở NN&PTNT trả lời tại hội nghị. 

    Đại diện lãnh đạo  Sở NN&PTNT trả lời tại hội nghị. 

    Kết luận hội nghị, đồng chí Lại Thanh Sơn nhấn mạnh những kết quả mà tỉnh Bắc Giang đạt được rất đáng phấn khởi, tự hào và ấn tượng trong bức tranh KT-XH năm 2019. Những kết quả ấy có vai trò, đóng góp quan trọng của các cơ quan báo chí. Năm 2020 là năm có nhiều sự kiện chính trị quan trọng của tỉnh, đất nước và nhiều lễ kỷ niệm, trong đó có đại hội đảng bộ các cấp. Đồng chí đề nghị các cơ quan báo chí đồng hành, tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền những thành tựu nổi bật ở các ngành, địa phương, cơ quan đơn vị; tập trung ở các lĩnh vực như: thu hút đầu tư, tăng trưởng kinh tế, cải cách thủ tục hành chính, quảng bá du lịch, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, lao động việc làm, giáo dục, văn hóa; giảm nghèo … Đồng chí đề nghị các sở, ngành trong thời gian tới tiếp tục nghiên cứu, làm rõ và kịp thời, chủ động cung cấp thông tin về những vấn đề mà các cơ quan báo chí quan tâm.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Chuẩn bị tốt các điều kiện đón Tết Nguyên đán, bảo đảm an toàn, tiết kiệm

    (BGĐT) – Ngày 19-12, đồng chí Dương Văn Thái, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang chủ chỉ phiên họp thường kỳ UBND tỉnh tháng 12. 

    Đồng chí Dương Văn Thái, Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu chỉ đạo tại phiên họp.

    Đồng chí Dương Văn Thái, Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu chỉ đạo tại phiên họp.

    Dự hội nghị có các đồng chí: Từ Minh Hải, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ tỉnh, các sở, ngành.

    Báo cáo tình hình KT-XH của UBND tỉnh nêu rõ, tháng 12 hầu hết các ngành sản xuất có sự tăng trưởng so với tháng trước. Giá trị sản xuất công nghiệp năm nay đạt hơn 210 nghìn tỷ đồng, tăng gần 32% so với cùng kỳ và vượt khoảng 8% so với kế hoạch năm.

    Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt kết quả tích cực. Đàn lợn giảm mạnh do dịch bệnh song đàn gia cầm và sản lượng thủy sản tăng khá cao, bảo đảm đủ nguồn cung thực phẩm phục vụ Tết Nguyên đán và lễ hội đầu năm. 

    Đời sống nhân dân ổn định, từng bước nâng lên; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. 

    Đồng chí Bùi Thị Thu Thủy, Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội trao đổi về công tác chăm lo Tết cho người nghèo.

    Đồng chí Bùi Thị Thu Thủy, Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội trao đổi về công tác chăm lo Tết cho người nghèo.

    Tại hội nghị, các đại biểu cho rằng bên cạnh kết quả đã đạt được, tình hình KT-XH vẫn còn hạn chế.

    Một số ngành sản xuất công nghiệp còn khó khăn, tình trạng vi phạm pháp luật bảo vệ rừng, cháy rừng còn xảy ra, số vụ cháy rừng tăng mạnh. Tình hình tai nạn giao thông diễn biến phức tạp, tăng đột biến về số vụ, số người bị thương…

    Quang cảnh phiên họp.

    Quang cảnh phiên họp.

    Phát biểu chỉ đạo, đồng chí Dương Văn Thái ghi nhận những cố gắng của các cấp, ngành đã đạt được trên nhiều lĩnh vực. Đồng chí đề nghị các ngành cần khẩn trương rà soát từng nhiệm vụ, tiếp tục phấn đấu đạt và vượt kế hoạch đề ra trong năm. Đồng thời tổ chức triển khai các Nghị quyết HĐND tỉnh, khoá XVIII, kỳ họp thứ 9; xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Chính phủ và Nghị quyết của HĐND tỉnh về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2020. 

    Đồng chí yêu cầu các sở, ngành, huyện, TP khẩn trương đăng ký nhiệm vụ trọng tâm năm 2020; giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển KT-XH, kế hoạch vốn đầu tư công và dự toán ngân sách nhà nước năm 2020; tổ chức thực hiện nhiệm vụ ngay từ đầu năm. 

    Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trên địa bàn, nhất là các dự án trọng điểm, phấn đấu hoàn thành cao nhất việc thực hiện và giải ngân vốn. 

    Sở Nông nghiệp và PTNT kiểm tra, giám sát các công trình thủy lợi, bảo đảm nước sản xuất vụ chiêm xuân năm 2020; hướng dẫn người dân tái đàn lợn bảo đảm an toàn; tiếp tục phối hợp với các huyện làm tốt công tác phòng, chống cháy rừng, hạn chế thấp nhất thiệt hại. 

    Để chuẩn bị tốt các điều kiện đón Tết Nguyên đán Canh Tý, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Công Thương theo dõi sát diễn biến thị trường; bảo đảm nguồn hàng chất lượng phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Đồng thời tăng cường kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn hàng nhập lậu, hàng giả, kém chất lượng, không rõ nguồn gốc; xử lý nghiêm hành vi đầu cơ hàng hóa nhằm thu lợi bất chính.

    Trước thực trạng đàn lợn giảm mạnh do bệnh dịch tả lợn châu Phi, giá cao, nguồn cung khan hiếm, Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Công Thương khẩn trương làm việc với các trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi chủ động nguồn cung thực phẩm cho người dân đón Tết. 

    Sở Y tế làm tốt công tác kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm. Sở Thông tin và Truyền thông thực hiện các giải pháp bảo đảm an ninh thông tin. Công an tỉnh mở đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông; kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển pháo nổ. 

    Các ngành liên quan, các địa phương xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm lo Tết cho người nghèo, thực hiện tốt cuộc vận động “Tết vì người nghèo” để mọi người, mọi nhà đều có Tết. Đồng chí yêu cầu các sở, ngành, địa phương thực hiện triệt để tiết kiệm, chống lãng phí trên các lĩnh vực.

    Phiên họp còn dành thời gian xem xét, thảo luận một số dự thảo quy định, gồm: Dự thảo hệ số điều chỉnh giá đất áp dụng trên địa bàn tỉnh tỉnh Bắc Giang năm 2020; quy định ủy quyền phê duyệt giá đất cụ thể, thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn; cho phép san gạt mặt bằng, hạ cốt nền trên địa bàn tỉnh thay thế Quyết định số 34/2018/QĐ ngày 21-12-2018 của UBND tỉnh; sửa đổi bổ sung một số điều của quy định quản lý và sử dụng kinh phí khuyến công của tỉnh.

    Quy chế hoạt động của cổng dịch vụ công và hệ thống thông tin một cửa điện tử trên địa bàn tỉnh; quy chế tổ chức, quản lý hoạt động cổng thông tin điện tử tỉnh và các cổng thông tin điện tử thành phần; đề án và cơ chế quản lý, khai thác sử dụng nhà thi đấu thể thao mới tại khu đô thị phía Nam và nhà thi đấu thể thao cũ….

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Truy xuất nguồn gốc nông sản: Không thể chần chừ

    (BGĐT) – Nông sản có nguồn gốc rõ ràng sẽ tạo sự tin tưởng đối với khách hàng, đồng thời nâng cao trách nhiệm của người sản xuất. Lợi ích là vậy song sản phẩm có truy xuất nguồn gốc tại tỉnh Bắc Giang chưa nhiều.

    Ít sản phẩm có truy xuất nguồn gốc

    Theo Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang, thời gian qua, truy xuất nguồn gốc nông sản đã được các cấp, ngành tích cực thực hiện và đạt một số kết quả bước đầu. Đến nay chưa có thống kê cụ thể nhưng trên thực tế, nông sản có truy xuất nguồn gốc còn ít, đa phần là nông sản chủ lực của một số địa phương, HTX.

    Vải thiều Lục Ngạn có tem truy xuất nguồn gốc.

    Vải thiều Lục Ngạn có tem truy xuất nguồn gốc.

    Tại huyện Hiệp Hòa có bánh chưng Vân, dưa lưới, nho đen, một số rau, củ khác của HTX Nông nghiệp Đồng Tâm 3, xã Thường Thắng; rau cần Hoàng Lương, bưởi Lương Phong, Mai Trung; lợn sạch Trường Thành, xã Danh Thắng; trám đen Hoàng Vân có tem truy xuất nguồn gốc. Chỉ với chiếc điện thoại thông minh quét mã trên sản phẩm, người tiêu dùng sẽ có các thông tin liên quan, chi tiết như: Từng thửa ruộng, chủ hộ, ngày xuống giống cây trồng, ngày thu hoạch, chế biến… 

    Ông Nguyễn Văn Nghiệp, Giám đốc HTX Nông nghiệp Đồng Tâm 3 cho biết: “Xác định phát triển bền vững, lâu dài nên ngay khi có sản phẩm, chúng tôi đã đăng ký và dán tem truy xuất nguồn gốc. Nhờ vậy, sản phẩm tiêu thụ thuận lợi hơn. Hiện rau, quả của HTX đều được cung cấp theo hợp đồng, trong đó một phần đi vào siêu thị lớn tại Hà Nội”.

    Hay như tại Lục Ngạn, vải thiều, cam, táo, bưởi của nhóm hộ trong HTX, tổ sản xuất cũng được địa phương hỗ trợ tem truy xuất nguồn gốc. HTX Nông nghiệp sản xuất và Kinh doanh dịch vụ tổng hợp Hồng Xuân, xã Hồng Giang thành lập đến nay được hơn chục năm với ngành nghề là trồng cây ăn quả, cung ứng giống gia cầm. 

    Doanh thu của HTX đạt hơn 20 tỷ đồng/năm. Một trong những yếu tố giúp HTX thành công là gắn tem truy xuất nguồn gốc nông sản. HTX là địa chỉ mà nhiều siêu thị tìm đến đặt hàng. Riêng vải thiều đã xuất sang thị trường cao cấp.

    Nhiệm vụ trọng tâm

    Mặc dù có nhiều lợi ích khi gắn tem truy xuất nguồn gốc trên nông sản song người sản xuất vẫn ít quan tâm. Nguyên nhân là do sản xuất của tỉnh vẫn chủ yếu là kinh tế hộ, nhỏ lẻ. 

    Một bộ phận người tiêu dùng không quan tâm đến nguồn gốc hàng hóa khi mua sản phẩm cũng là một trong những yếu tố khiến người sản xuất chưa chú trọng đến truy xuất nguồn gốc; thậm chí có tem nhưng người dân vẫn không dán vào sản phẩm.

    Bánh chưng của HTX Đồng Tâm 3, xã Thường Thắng (Hiệp Hòa) được gắn tem truy xuất nguồn gốc.

    Bánh chưng của HTX Đồng Tâm 3, xã Thường Thắng (Hiệp Hòa) được gắn tem truy xuất nguồn gốc.

    Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu về sản phẩm của người tiêu dùng tăng lên. Đặc biệt, hàng hóa xuất khẩu sang nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện cần thiết, trong đó có truy xuất nguồn gốc sản phẩm. 

    Năm nay, phía Trung Quốc đã yêu cầu truy xuất nguồn gốc khi nhập khẩu vải thiều của Việt Nam. Vì vậy, Bắc Giang đã phải khẩn trương làm các thủ tục, một số mã vùng trồng đã được chấp thuận xuất khẩu sang thị trường này. 

    Ngoài ra, Trung Quốc cũng áp dụng đối với dưa hấu, một số sản phẩm khác khi nhập khẩu nông sản từ nước ta. Nếu không đáp ứng một số quy định thì sản phẩm không thể thông quan. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp gắn với truy xuất nguồn gốc nông sản là yêu cầu rất cấp thiết.

    Ông Dương Thanh Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT nhấn mạnh, năm 2020, truy xuất nguồn gốc nông sản là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành. Trước mắt, Sở sẽ rà soát, tổng kết Chương trình mỗi xã một sản phẩm, ưu tiên hỗ trợ tem, nhãn cho sản phẩm thuộc chương trình.

    Cũng theo ông Tùng, muốn truy xuất nguồn gốc được phải tổ chức lại sản xuất, hình thành HTX, kinh tế hộ trang trại và gắn với chế biến; đồng thời nông sản phải an toàn, bảo đảm chất lượng thì khi truy xuất nguồn gốc mới thực sự tự tin.

    Một số chính sách tiếp tục được ngành chức năng, địa phương thực hiện để truy xuất nguồn gốc nông sản như: Xây dựng vùng sản xuất tập trung; lập bản đồ số hóa các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh các sản phẩm chủ lực, đặc trưng trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp, tem nhãn, bao bì đóng gói sản phẩm theo chính sách của tỉnh đã ban hành.

    Một số ý kiến đề xuất, cần sớm có hướng dẫn thực hiện quy định của Luật Trồng trọt về cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc để các địa phương thực hiện thuận lợi; tiến tới xuất khẩu nông sản ổn định, bền vững.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Trái ngọt trên đất cằn

    (BGĐT) – Diện mạo xã Tân Sơn, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) những năm gần đây không ngừng đổi thay. Hầu hết những tuyến đường nối các thôn, xóm đã bê tông hóa, các công trình trường học, nhà văn hóa, trạm y tế… được xây dựng khang trang; đời sống nhân dân từng bước nâng lên. Đó là thành quả từ sự năng động vươn lên của chính quyền, nhân dân nơi đây trong hành trình giảm nghèo.

    Con đường mở lối thoát nghèo

    Tân Sơn từng là một trong 13 xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% của huyện Lục Ngạn. Khoảng 5 năm trước, từ trung tâm huyện Lục Ngạn về xã Tân Sơn mất chừng hai giờ đi xe máy bởi nhiều đoạn đường nhỏ hẹp, vào mùa mưa lầy lội, mùa nắng bụi bặm. Việc đi lại khó khăn, lại thêm trở ngại về điều kiện tự nhiên, tập quán sinh hoạt, sản xuất lạc hậu khiến bài toán giảm nghèo của xã khó tìm lời giải. 

    Nhiều hộ dân ở Tân Sơn chuyển đổi hướng sản xuất, thu lãi cao từ nuôi ngựa.

    Nhiều hộ dân ở Tân Sơn chuyển đổi hướng sản xuất, thu lãi cao từ nuôi ngựa.

    Năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo ở đây chiếm hơn một nửa. Với sự chung sức, đồng lòng của cấp ủy, chính quyền và nhân dân, nhiều chương trình, dự án đã được triển khai thực hiện có hiệu quả, diện mạo xã Tân Sơn hôm nay đã khác.

    Chuyển biến dễ thấy nhất ở Tân Sơn là hạ tầng giao thông nông thôn. Trước đó, để việc đi lại, làm ăn của bà con thuận lợi, Đảng ủy, UBND xã xác định nâng cấp hệ thống đường giao thông là giải pháp trọng tâm để giảm nghèo. 

    Từ năm 2015 đến nay, từ các nguồn hỗ trợ như: Chương trình 135, vốn xây dựng nông thôn mới, xã tập trung cao cứng hóa các tuyến đường. 

    Ông Nông Văn Hưởng, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết: Khi bắt đầu triển khai, lãnh đạo xã lo khó hoàn thành mục tiêu vì với 60% hộ dân là đồng bào dân tộc thiểu số (Tày, Nùng), đời sống còn khó khăn thì việc vận động đóng góp kinh phí đối ứng kết quả sẽ không cao. 

    Đáng mừng là do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, thi công đến đâu, các hộ dân đều tự nguyện hiến đất, tháo dỡ công trình đến đó. Hàng trăm hộ dân còn đóng góp kinh phí để hoàn thiện những con đường. 

    Đến nay, tỷ lệ đường trục thôn, liên thôn của xã đã được cứng hóa hơn 80%. Sang năm mới, xã phấn đấu hoàn thành số còn lại, chủ yếu tập trung ở hai thôn đặc biệt khó khăn là Khuôn Kén và Bắc Hoa.

    Ước mong bao năm của người dân Tân Sơn là có đường tốt để đi lại thuận tiện nay đã thành hiện thực. Bà con dễ dàng chăm sóc cây trồng, vận chuyển sản phẩm nông, lâm nghiệp đi tiêu thụ, việc học hỏi kinh nghiệm sản xuất ở thôn, xã lân cận cũng thuận lợi hơn. Và khi có vốn, kiến thức canh tác thì con đường thoát nghèo đã ngắn hơn. 

    Hiện ở Tân Sơn, các công trình như nhà văn hóa, trạm y tế được xây dựng đáp ứng nhu cầu của người dân. Các trường mầm non, tiểu học, THCS đều có lớp học cắm thôn, bản nên tình trạng trẻ em bỏ học không còn.

    Nhiều mô hình sản xuất mới

    Chúng tôi cùng anh Nguyễn Văn Thành, cán bộ lao động – thương binh và xã hội xã đến thăm một số mô hình kinh tế điển hình của người dân. Trên vùng đồi núi Tân Sơn có đến hàng trăm hộ chăn nuôi ngựa, dê, trồng cây ăn quả. Là thành viên Hợp tác xã Chăn nuôi dịch vụ trâu, bò, ngựa cỏ vùng cao Tân Sơn, hiện anh Trần Văn Thức (SN 1985), thôn Khuôn Kén đang nuôi hơn 30 con ngựa bạch và bò. Địa hình đồi núi, khí hậu phù hợp với nuôi các loài động vật ăn cỏ, lại được cán bộ khuyến nông xã vận động, anh Thức và 6 thành viên khác mạnh dạn tham gia. 

    Năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo toàn xã còn 20,5%, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã đề ra, nằm trong số những xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhất. Thu nhập bình quân đạt gần 30 triệu đồng/người/năm, tăng gần gấp đôi so với năm 2015.

    Ban đầu, ai cũng lúng túng vì chưa có kiến thức chăm sóc, phòng dịch bệnh nhưng được cán bộ hướng dẫn kỹ thuật, tạo điều kiện bố trí diện tích đất trồng cỏ nên hiệu quả rõ rệt. Mỗi năm, trừ chi phí, gia đình anh Thức và các thành viên HTX thu lãi gần 100 triệu đồng/hộ từ bán ngựa giống và ngựa thịt.

    Trước đây, người dân Tân Sơn chỉ quen trồng rừng rồi trồng vải thiều nhưng nay, từ sự cần cù, năng động, họ đã lấp đầy những triền đồi khô cằn bằng màu xanh của cam, bưởi, ổi, táo. Hiện toàn xã có khoảng 200 ha cây ăn quả mang lại giá trị kinh tế cao. 

    Anh Nông Văn Long (SN 1981), thôn Hả là một trong những hộ mạnh dạn chuyển đổi vườn đồi sang trồng 300 gốc bưởi. Thu nhập từ làm vườn đã giúp gia đình anh thoát nghèo và có điều kiện sửa sang nhà cửa, lo cho các con ăn học.

    Có mặt ở Tân Sơn vào những ngày cuối năm, chúng tôi cảm nhận rõ hơn về những “trái ngọt” từ nỗ lực, quyết tâm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo của cán bộ, nhân dân nơi đây. 

    Từ thành quả ấy, năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo toàn xã giảm còn 20,5%, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã đề ra đến năm 2020, nằm trong số những xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhất của huyện Lục Ngạn. Thu nhập bình quân đầu người trong xã đạt gần 30 triệu đồng/năm, tăng gần gấp đôi so với 5 năm trước. 

    Từ thành quả đã đạt được, trong những năm tiếp theo, cấp ủy, chính quyền nơi đây tiếp tục vận động, tập trung nguồn lực xây dựng, hoàn thiện hạ tầng nông thôn, nhất là các công trình thủy lợi để chủ động tưới tiêu; khai thác thế mạnh, hỗ trợ người dân xây dựng mô hình kinh tế phù hợp nhằm tiếp tục đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo.

    Nguồn Báo Bắc Giang

  • Cựu chiến binh Vi Văn Hùng, xã Dương Hưu, huyện Sơn Động (Bắc Giang): “Mang rác về nhà”

    (BGĐT) – Chả phải người giàu có, chả là cán bộ cấp nọ cấp kia, thế mà người cựu chiến binh (CCB) ấy mang cả “sổ đỏ” hơn 5.000 m2 đất lâm nghiệp của gia đình hiến tặng cho xã. Đặc biệt hơn, hiến để xã làm bãi xử lý rác thải chứ không phải làm đường hay trường, trạm như bình thường. Người “mang” rác về nhà là có thật và đó là câu chuyện của Chủ tịch Hội CCB xã Dương Hưu, huyện Sơn Động (Bắc Giang) ông Vi Văn Hùng.

    “Tôi thấy bình thường mà!”

    Gặp người CCB ấy khi ông vừa vinh dự là một trong số 9 CCB tiêu biểu của tỉnh Bắc Giang dự “Đại hội thi đua yêu nước giai đoạn 2014 – 2019” của Hội CCB Việt Nam về. Biết chúng tôi muốn tìm hiểu việc hiến đất của gia đình, ông bảo: “Thật tình tôi thấy bình thường mà! Đi Đại hội được nghe những câu chuyện, những việc làm cảm động của CCB khắp nơi nên tôi thấy việc mình làm chưa là gì cả. Vẫn xấu hổ lắm!”. 

    Cựu chiến binh Vi Văn Hùng, xã Dương Hưu, huyện Sơn Động (Bắc Giang). 

    Cựu chiến binh Vi Văn Hùng, xã Dương Hưu, huyện Sơn Động (Bắc Giang).

     

    Ông Hùng là người dân tộc Tày (SN 1966). Học xong cấp 3, năm 1987, ông đi bộ đội, vào Sư đoàn 338 đóng quân ở Đình Lập (Lạng Sơn). “Đến năm cuối nghĩa vụ quân sự thì bố tôi mất, nhà cửa, vườn tược không có ai trông nom nên tôi phải xuất ngũ, chứ tiếc lắm!”- ông Hùng bộc bạch.

    Về quê, lấy vợ, sinh liền hai con trai, bươn chải đủ nghề kiếm sống, năm 2010, khi phong trào CCB ở xã phát triển, ông tham gia và sau đó được bầu làm Phó Chủ tịch, rồi Chủ tịch Hội CCB xã từ năm 2017 tới nay. Dương Hưu quê ông là xã nghèo, đặc biệt khó khăn. Thu nhập chính của bà con chỉ trông vào trồng rừng, số hộ nghèo chiếm tới gần 40%.

    Để xây dựng nông thôn mới, xã thiếu nhiều tiêu chí, trong đó tiêu chí về môi trường gần như bế tắc, không có lời giải. Phần vì thói quen người dân bao lâu nay “tiện đâu xả đấy”, đổ hết ra đầu làng; phần nữa, quan trọng hơn đó là xã chưa có bãi xử lý rác thải. Ông Nguyễn Văn Tuân, Phó Chủ tịch UBND xã Dương Hưu cho biết: “Chúng tôi cũng quy hoạch ở nhiều nơi nhưng mới chỉ nêu chủ trương thôi, người dân đã rầm rầm phản đối rồi! Chả ai muốn “mang” rác về nhà mình, về xóm thôn mình cả.

    Trong khi bãi rác tập trung lại cần diện tích lớn, không quá xa trung tâm, tiện đường sá. Đang loay hoay chưa biết xử lý ra sao thì vợ chồng ông Hùng mang “sổ đỏ” nhà mình lên… tặng, cho xã lấy đất nhà mình làm bãi rác”. – Lúc đó thửa đất hơn 5.000 m2 gia đình ông đang làm gì? Tôi hỏi ông Hùng. – Nhà tôi trồng xoài, vải và cây lâm nghiệp. Nhiều cây keo cũng được vài năm tuổi, sắp thu hoạch.

    Cựu chiến binh Vi Văn Hùng, xã Dương Hưu, huyện Sơn Động (Bắc Giang), Mang rác về nhà

    Từ việc nêu gương hiến đất của CCB Vi Văn Hùng đã tạo thành phong trào chung cả xã hiến đất làm đường giao thông. Ở Dương Hưu không có chuyện xã phải cưỡng chế giải phóng mặt bằng, thậm chí cả vận động, thuyết phục cũng không cần”.

    Phó Chủ tịch UBND xã Nguyễn Văn Tuân.

    Vợ chồng tôi còn đào cả giếng, lập cái chòi nhỏ để tiện bề trông coi. – Thật lòng, vợ chồng ông có tiếc không khi tặng lại cho xã, vì cây cối đến ngày ra quả rồi? Bà Hoàng Thị Luận – vợ ông Hùng lúc đó mới lên tiếng, bà bảo: “Nếu nói tiếc đất thì chúng tôi không tiếc vì lúc đó (năm 2016) thửa đất này trị giá chỉ khoảng vài chục triệu đồng. Nhưng tiếc là tiếc cái công cái sức mình bỏ ra hơn chục năm trời khai hoang ở đó. Đó cũng là tài sản đầu tiên của vợ chồng tôi có được khi ra ở riêng, định để lại cho con cháu sau này”.

    Nếu tính giá thị trường, mảnh đất mà gia đình ông Hùng hiến cho xã giờ có giá hàng trăm triệu đồng, trong khi gia đình ông vẫn ở nhà cấp 4, các con trai đều lấy vợ ra ở riêng rất cần đất đai, vốn liếng để làm ăn. – Chưa bao giờ tôi băn khoăn việc này. Tiền thì ai cũng cần nhưng mình là cán bộ, đảng viên, lại là người lính, mình không làm thì nói được ai. Chưa kể, mình hiến đất phục vụ lợi ích cộng đồng, có cả mình trong đó mà ông Hùng thủng thẳng.

    Được biết, ngoài hiến hơn 5.000m2 đất lâm nghiệp, trước đó hai năm, khi xã làm đường giao thông liên thôn, gia đình CCB này cũng không ngần ngại “xắn” 120 m2 đất thổ cư cho xã. Bản thân ông từng bỏ hàng chục triệu đồng để san đất, mở một con đường nhỏ đi lại cho thuận tiện. 

    “Bãi rác ông Hùng”Việc ông Hùng chẳng giàu có gì mà bớt một “sổ đỏ” của nhà cho xã làm bãi tập kết rác khiến không chỉ chính quyền cảm kích mà người dân địa phương cũng kính trọng. Họ gọi đó là “bãi rác ông Hùng”. – Xã chủ yếu là đồng bào dân tộc, người Kinh rất ít nên cứ phải người thật việc thật bà con mới tin. Bà con bảo nhau: “Ông Hùng hiến được thì mình cũng hiến được”, thế là tạo thành phong trào chung cả xã hiến đất làm đường giao thông, đường liên thôn, đường điện… Ở đâu khó khăn khi giải phóng mặt bằng, phải cưỡng chế, thu hồi chứ ở Dương Hưu lại đơn giản; thậm chí cả vận động, thuyết phục cũng không cần – Phó Chủ tịch UBND xã Nguyễn Văn Tuân hào hứng chia sẻ. 

    Từ “hiện tượng” hiến đất ở, đất lâm nghiệp của ông Hùng, nhiều hộ dân trong xã cũng xung phong làm theo. Tính từ năm 2018 đến nay, đã có 70 hộ, trong đó có nhiều hội viên CCB ủng hộ 1.500 m2 đất, gần 2.000 cây lấy gỗ để xã mở đường, làm các  công trình phúc lợi. Có hộ vì không có đường chạy qua nên không phải hiến đất, hiến hoa màu thì “xin” với xã góp ngày công, góp sức ủng hộ.

    Ngay cả việc để vào được “bãi rác ông Hùng” phải mở con đường mới cho xe qua, hơn 20 hộ dân của thôn Thoi đã không ngại ngần hiến đất ruộng, đất trồng cây lâu năm của nhà mình cho xã. Thế là huyện cấp ngân sách làm đường bê tông, nhân dân hiến đất mở đường, gia đình CCB Vi Văn Hùng hiến đất làm cả bãi rác, xã Dương Hưu đã có một điểm tập kết rác tập trung, là một trong ít xã của huyện Sơn Động làm được điều này, góp phần hoàn thành tiêu chí về môi trường trong xây dựng nông thôn mới. – Cái quý nữa thu được từ “bãi rác ông Hùng”, đó là làm thay đổi nhận thức của người dân với việc bảo vệ môi trường. 

     

    Cựu chiến binh Vi Văn Hùng (giữa) bên khu đất lâm nghiệp đã hiến cho xã làm bãi rác. 

    Cựu chiến binh Vi Văn Hùng (giữa) bên khu đất lâm nghiệp đã hiến cho xã làm bãi rác.

     

    Từ khi bãi rác đi vào sử dụng (năm 2018) bà con không đổ rác bừa bãi, xã phong quang sạch đẹp lên hẳn. Đặc biệt, từ tháng 6-2019, chúng tôi đã thành lập tổ thu gom xử lý rác thải và thu được cả phí vệ sinh, dù chưa nhiều – lãnh đạo xã cho biết thêm. Đúng là quý thật vì để thay đổi thói quen, nếp nghĩ đã hằn sâu bao lâu nay của đồng bào vùng cao không phải dễ. Chưa kể, khi đời sống còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp, bà con còn “chịu” bỏ tiền ra để cùng với xã thu gom, xử lý rác về một đầu mối, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

    Đơn giản, vì bà con nghĩ: “Ông ấy (chỉ ông Hùng – PV) hiến cả mấy sào đất làm bãi rác, cớ sao mình đổ bừa bãi, không gom rác vào cho sạch”. Trong ngôi nhà cấp 4 đã xuống cấp, ông Hùng dành vị trí trang trọng treo những bằng khen, giấy khen của mình và gia đình. Ông bảo làm ăn càng ngày càng khó khăn, chẳng biết bao giờ mới sang sửa được căn nhà nhưng nếu xã cần hiến đất, ông lại sẵn sàng. 

    “Chẳng phải mình giàu có hay muốn được biểu dương khen thưởng mà tự tâm mình, thấy làm được gì cho quê hương mình thì làm, thế thôi”. Không tính toán thiệt hơn, không mong được khen thưởng, ở nơi vùng núi cao hẻo lánh, người CCB dân tộc Tày ấy vẫn lặng lẽ làm việc thiện nguyện, để lan tỏa và yêu thương.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Vải thiều Việt Nam chính thức được xuất khẩu vào Nhật Bản

    Vải thiều Việt Nam chính thức được xuất khẩu vào Nhật Bản

    Cục Bảo vệ thực vật vừa thông tin, quả vải thiều của Việt Nam chính thức được xuất khẩu vào Nhật Bản từ ngày 15/12 năm nay sau 5 năm nỗ lực đàm phán.

    Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN-PTNT) vừa nhận được thư của Bộ Nông lâm ngư nghiệp Nhật Bản (MAFF) thông báo chính thức mở cửa cho quả vải thiều Việt Nam xuất khẩu trực tiếp sang Nhật Bản kèm theo quy định về kiểm dịch thực vật nhập khẩu đối với vải thiều Việt Nam. Quy định này có hiệu lực từ 15/12/2019.

    Đây là kết quả sau hơn 5 năm nỗ lực đàm phán giữa Cục Bảo vệ thực vật và MAFF, cùng nhiều thí nghiệm nghiêm ngặt được thực hiện để đảm bảo diệt trừ triệt để các đối tượng kiểm dịch thực vật của Nhật Bản có khả năng đi theo quả vải thiều của Việt Nam.

    Các yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với quả vải thiều Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản bao gồm: quả vải thiều phải được trồng tại các vườn được Cục Bảo vệ thực vật kiểm tra, giám sát và cấp mã số vùng trồng, đáp ứng quy định về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm của Nhật Bản; lô quả vải xuất khẩu phải được đóng gói và xử lý xông hơi khử trùng bằng Methyl Bromide tại các cơ sở được Cục Bảo vệ thực vật và MAFF công nhận với liều lượng tối thiểu là 32g/m3 trong thời gian hai giờ dưới sự giám sát của cán bộ kiểm dịch thực vật Việt Nam và Nhật Bản; các lô quả vải thiều xuất khẩu phải kèm theo Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật do Cục Bảo vệ thực vật cấp.

    Vải thiều Việt Nam chính thức được xuất khẩu vào Nhật Bản

    Vải thiều chính thức được xuất khẩu vào Nhật Bản

    Cục Bảo vệ thực vật sẽ tiếp tục phối hợp với các doanh nghiệp xuất khẩu, cơ sở xử lý, khẩn trương hoàn tất các công việc chuẩn bị, tìm kiếm đối tác nhập khẩu để sớm xuất khẩu lô quả vải thiều tươi đầu tiên sang Nhật Bản trong vụ vải năm 2020.

    Trao đổi với PV. VietNamNet, đại diện Cục Bảo vệ thực vật cho biết, ngoài thị trường Trung Quốc, những năm gần đây quả vải thiều của Việt Nam xuất khẩu được sang rất nhiều nước như Lào, Campuchia, Thái Lan,… Đồng thời cũng mở cửa được nhiều thị trường khó tính khác như Mỹ, EU, Úc và bây giờ là Nhật Bản.

    Nhật Bản là thị trường khó tính, đòi hỏi hàng hóa phải đạt chất lượng cao. Việc Nhật cho phép quả vải thiều Việt Nam được xuất vào thị trường của họ có ý nghĩa rất lớn. Bởi, ngoài việc khẳng định được uy tín của quả tươi Việt Nam còn giúp nâng cao giá trị xuất khẩu của quả vải, đồng thời tạo tiền để thúc đẩy sản xuất chất lượng cao với loại trái cây này, vị đại diện cho hay.

    Năm 2019, Việt Nam xuất khẩu được khoảng hơn 100.000 tấn vải thiều tươi. Đáng chú ý, lượng vải thiều xuất khẩu sang những thị trường khó tính ngày càng tăng mạnh.

    Nhờ mở rộng được thị trường, những năm gần đây, giá vải thiều luôn ổn định ở mức cao, giúp người dân trồng vải có nguồn thu nhập khủng. Như năm 2019, mặc dù là năm mất mùa vải, sản lượng giảm gần một nửa so với năm 2018, nhưng doanh thu từ vải thiều của Bắc Giang vẫn đạt 6.300 tỷ đồng, tăng 500 tỷ đồng so với năm 2018.

    Đáng chú ý, tại tỉnh này còn có mô hình sản xuất vải thiều hữu cơ tiêu chuẩn xuất khẩu. Loại vải này được bán ra thị trường năm nay với giá bán 80.000 đồng/kg. Riêng những quả vải thiều chọn lọc kỹ còn được đóng hộp bán với giá 200.000 đồng/hộp 12 quả.

    Theo Bảo Phương ( Vietnamnet)

  • Ồ ạt bổ sung dự án điện mặt trời, Bộ Công Thương nói gì?

    (VTC News) – Việc bổ sung các dự án điện mặt trời vào quy hoạch có ý nghĩa quan trọng, góp phần giảm nguy cơ thiếu điện, giảm công suất điện chạy dầu giá cao…

    Nội dung được lãnh đạo Bộ Công Thương trả lời VTC News ngày 17/12 liên quan đến việc bổ sung vào quy hoạch nhiều dự án điện mặt trời, với tổng quy mô vượt nhiều lần so với mục tiêu Quy hoạch phát triển điện VII điều chỉnh.

    Theo đó, Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến 2030 (Quy hoạch điện VII điều chỉnh) được Thủ tướng phê duyệt vào ngày 18/3/2016 đặt mục tiêu phát triển điện mặt trời ở mức 850 MW vào 2020, 4.000 MW năm 2025 và 12.000 MW năm 2030.

    O at bo sung du an dien mat troi, Bo Cong Thuong noi gi? hinh anh 1

    •  
    •  
    •  
    •  

    Bộ Công Thương cho biết việc bổ sung các dự án điện mặt trời vào quy hoạch có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo cung cấp điện. 

    Bộ Công Thương cho biết tại thời điểm lập và phê duyệt Quy hoạch điện VII điều chỉnh (năm 2016) chưa tính đến kịch bản phát triển bùng nổ điện mặt trời trong giai đoạn đến năm 2020 do cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời được ban hành vào tháng 4/2017.

    Cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời của Chính phủ đã tạo động lực mạnh thu hút các nhà đầu tư đề xuất nhiều dự án điện mặt trời bổ sung quy hoạch. Cụ thể, đến cuối 2018, Bộ Công Thương nhận được các đề xuất bổ sung 360 dự án điện mặt trời với tổng quy mô công suất khoảng 24.000 MW, đã phê duyệt bổ sung quy hoạch 135 dự án với tổng công suất khoảng 10.400 MW.

    Tính đến cuối tháng 6 năm nay có khoảng gần 4.500 MW điện mặt trời đã phát điện. Đây là tín hiệu cho thấy tính tích cực và hiệu quả do cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời của Chính phủ.

    Theo Bộ Công Thương, việc thẩm định, phê duyệt quy hoạch các dự án năng lượng tái tạo nói chung và điện mặt trời nói riêng được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ công khai, minh bạch. Đảm bảo phù hợp với các quy hoạch của địa phương, quy hoạch phát triển điện lực và hiệu quả đầu tư dự án.

    Theo đó, quy hoạch dự án năng lượng tái tạo được đánh giá trên một số tiêu chí như tiềm năng nguồn năng lượng tại khu vực dự án đề xuất bổ sung quy hoạch; tính phù hợp của dự án đề xuất với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương, trong đó đặc biệt lưu ý đến việc tránh sử dụng đất rừng (nhất là rừng tự nhiên), khu vực khai thác và dự trữ khoáng sản (như titan).

    Đặc biệt, hiệu quả sử dụng đất của dự án đề xuất; sự thuận lợi của phương án đấu nối với hệ thống điện quốc gia, khả năng giải tỏa công suất dự án và năng lực tài chính, kinh nghiệm của nhà đầu tư.

    Quá trình thẩm định cũng cần có ý kiến của địa phương và các bộ ngành về sự phù hợp quy hoạch địa phương (như đất đai, quy hoạch hạ tầng…), ý kiến của các bộ, ngành về sự phù hợp với quy hoạch các ngành như môi trường, giao thông, khoáng sản….

    Theo Bộ Công Thương, nhu cầu bổ sung quy hoạch điện mặt trời đã vượt quá so với mục tiêu đề ra trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh, tuy nhiên cũng cần thực hiện theo mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo và phù hợp với cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời của Chính phủ.

    “Với trách nhiệm đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế – xã hội, Bộ Công Thương nhận thấy trong bối cảnh phụ tải điện tiếp tục tăng cao, các dự án nguồn điện lớn tiếp tục chậm tiến độ, thiếu nước cho phát nguồn thủy điện thì việc bổ sung các dự án điện mặt trời vào quy hoạch có ý nghĩa quan trọng về mặt đảm bảo cung cấp điện, góp phần giảm nguy cơ thiếu điện, giảm công suất điện chạy dầu giá cao…”, nguồn tin Bộ Công Thương cho biết.

    Trong quá trình thẩm định bổ sung quy hoạch các dự án điện mặt trời, Bộ Công Thương cũng đã báo cáo Thủ tướng xin ý kiến chỉ đạo về việc quy mô công suất quy hoạch điện mặt trời đã vượt quá mục tiêu đặt ra trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh, việc có cho phép tiếp tục quy hoạch điện mặt trời thực hiện theo cơ chế khuyến khích để đáp ứng mục tiêu của chiến lược phát triển năng lượng tái tạo quốc gia.

    “Thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương thực hiện nghiêm túc việc dừng bổ sung đơn lẻ dự án để rà soát các đề xuất bổ sung quy hoạch, tính toán tổng thể trong Quy hoạch điện mặt trời quốc gia”, đại diện Bộ Công Thương khẳng định.

    Quá tải lưới điện vì điện mặt trời phát triển quá nóng

    Trong quá trình bổ sung quy hoạch các dự án điện mặt trời, Bộ Công Thương xem xét bổ sung cả các dự án đường dây truyền tải, cấp 110 – 220 – 500 kV. Quy hoạch phát triển các nhà máy điện mặt trời và quy hoạch lưới điện đấu nối, giải tỏa công suất các nhà máy được phê duyệt đồng bộ với nhau.

    Tuy nhiên thực tế các dự án điện mặt trời triển khai rất nhanh trong thời gian qua để được hưởng mức giá 9,35 Uscent/kWh trước thời điểm 30/6/2019. Có dự án chỉ làm trong 6 tháng, thậm chí 4 tháng đã xong. Trong khi đó, các dự án đường dây thường mất lâu hơn. Đường dây 110 kV mất tầm 2 năm từ chuẩn bị đầu tư tới lúc hoàn thành, đường dây 220 kV mất từ 2 – 3 năm và đường dây 500 kV mất từ 3 – 5 năm, nên đã có chuyện không đồng bộ giữa đường dây truyền tải với các dự án điện mặt trời.

    Do còn vướng mắc về quy định pháp luật về xã hội hoá lưới điện truyền tải nên chỉ nhà nước đầu tư lưới điện truyền tải mà chưa có điều kiện huy động nguồn vốn đầu tư từ xã hội (tư tư nhân, nước ngoài,..) nên tiến độ đầu tư lưới điện truyền tải còn chậm, chưa theo kịp tiến độ đầu tư nguồn điện. 

    Việc không đồng bộ giữa nguồn và lưới dẫn đến tình trạng một số nhà máy điện mặt trời không phát được hết công suất do các công trình lưới điện đấu nối giải tỏa tương ứng chưa hoàn thành.

     

     Nguồn: vtc.vn

  • Mỹ áp thuế 456% với nhiều sản phẩm thép Việt Nam

    (VTC News) – Theo Reuters, Bộ Thương mại Mỹ ban hành lệnh áp thuế lên tới 456% đối với một số sản phẩm thép Việt Nam có sử dụng nguyên liệu từ Hàn Quốc, Đài Loan.

    Các mặt hàng thép bị áp thuế 456% trong thông báo ngày 16/12 (giờ địa phương) của Bộ thương mại Mỹ là các loại thép có xuất xứ từ Hàn Quốc, Đài Loan được đưa sang Việt Nam, sau đó qua công đoạn gia công rồi xuất khẩu sang Mỹ.

    My ap thue 456% voi nhieu san pham thep Viet Nam hinh anh 1

    Một nhà máy thép ở tỉnh Hải Dương. (Ảnh: Reuters)

    Cơ quan này cho biết đã phát hiện một số sản phẩm thép chống ăn mòn và thép cán nguội được sản xuất tại Việt Nam sử dụng chất nền có nguồn gốc từ Hàn Quốc hoặc Đài Loan vốn né thuế chống bán phá giá và chống trợ giá của Mỹ.

    Tháng 7 vừa qua, hãng Bloomberg cũng đưa tin, Bộ Thương mại Mỹ tuyên bố áp mức thuế lên tới 456,23% giá trị sản phẩm thép chống gỉ và thép cán nguội nhập khẩu từ Việt Nam, với nguyên liệu sử dụng được nhập khẩu từ Hàn Quốc, Đài Loan.

    (Nguồn: Reuters)

  • Nông dân Nguyễn Bá Hữu: Thu bạc tỷ từ đầm lầy

    (BGĐT) – Bằng sự nhạy bén, hăng say lao động, ông Nguyễn Bá Hữu (SN 1964) ở thôn Đầm Lác, xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên (Bắc Giang) đã cải tạo đầm lầy thành trang trại VAC với thu nhập tiền tỷ mỗi năm. Ngoài ra, ông còn sáng tạo ra nhiều biện pháp khoa học kỹ thuật hữu ích ứng dụng trong sản xuất. 

    Bán 55 cây vàng đầu tư nuôi lợn

    Vượt qua hàng chục cây số từ TP Bắc Giang, chúng tôi tìm đến trang trại nhà ông Nguyễn Bá Hữu. Trang trại nằm cuối làng, xung quang bao bọc bằng tường gạch và rắc vôi bột trắng xóa.

    Ông Nguyễn Bá Hữu cùng hai con tại Lễ tôn vinh và trao danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2019.

    Ông Nguyễn Bá Hữu cùng hai con tại Lễ tôn vinh và trao danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2019.

    Tác phong nhanh hẹn, vừa mở cổng, ông Hữu vừa dắt xe máy của khách và đưa cho quần áo, giày dép bảo hộ đã được khử. Ông Hữu vui vẻ nói: “Mọi người thông cảm, ở đây gia đình tôi rất ít tiếp khách. Ngày thường, khu vực chăn nuôi chỉ có công nhân và hai vợ chồng tôi trông nom; đang lúc dịch bệnh nên càng phải cẩn thận”.

    Pha ấm trà nóng mời khách, ông bảo khu này 15 năm trước là đầm lầy “trâu, bò hễ sa chân vào là chết”. Vậy mà một nông dân như ông đã sẵn sàng bỏ hết vốn liếng vào đây để xây dựng trang trại rộng lớn. Khu trang trại được bố trí khoa học. Hơn 700 ô chuồng nuôi lợn xây theo thiết kế hiện đại, sàn lát xi măng tạo độ dốc thoát nước. Tại đây có các vòi nước tự động cho lợn uống; quạt thông gió, điều hòa, bóng điện… được trang bị đầy đủ đáp ứng mọi điều kiện thời tiết.

    Tại đây, ông xây căn nhà phục vụ hai mươi nhân công cùng vợ chồng ông hằng ngày làm việc, ăn, ngủ. Từ khi có bệnh dịch tả lợn châu Phi, ông càng giám sát nghiêm ngặt việc ra vào trang trại, chăm sóc đàn vật nuôi cẩn thận. Hiện hơn 3,5 nghìn con lợn đang lớn từng ngày, da hồng hào. Trung bình, khoảng 5 tháng ông xuất chuồng một lứa từ 1-2 nghìn con. Dự kiến từ nay đến Tết, ông bán gần 2 nghìn con, với giá cao như hiện nay, chủ trang trại thu lãi cả tỷ đồng.

    Được biết, cùng với nuôi lợn, gần chục năm qua ông Hữu tận dụng chất thải để nuôi cá, thuê thêm đất trong làng trồng hơn 3 nghìn cây lấy gỗ, cây ăn quả các loại như: Xà cừ, sưa, mít, bưởi. Riêng 200 cây sưa 9 năm tuổi đang được khách trả giá trung bình từ 8-10 triệu đồng/cây.

    Nhìn vào trang trại VAC của gia đình ông Hữu, ai cũng thấy đây là mô hình mơ ước. Để có được thành quả này, ông chủ trang trại trải qua bao khó khăn, vất vả. Ông sinh ra trong gia đình thuần nông đông anh em, ngay từ nhỏ đã phải sống tự lập. Năm 1988, ông lập gia đình, được bố mẹ cho ra ở riêng. Cuộc sống ngày một eo hẹp khi 4 người con lần lượt ra đời.

    Ông Hữu từng ngược xuôi Nam Bắc làm bao nghề từ kinh doanh vật tư nông nghiệp đến mua xe ô tô chở vật liệu xây dựng, cai thầu; có thời gian dài ông buôn chuối xanh từ các tỉnh phía Nam sang tận Trung Quốc. Rong ruổi nhiều năm nghề lái xe đường dài, năm 2005 ông vào Bình Dương giải quyết việc riêng.

    Hơn một tháng ở trong đó, tình cờ ông Hữu bắt gặp một khu trang trại rộng hàng nghìn mét vuông, xây dựng khang trang, cổng có bảo vệ gác cẩn thận. Ông hỏi ra mới biết đó là nơi chăn nuôi lợn. Thấy vậy, ông tò mò tìm đủ cách nhờ người gác cổng dẫn vào xem. Mắt thấy tai nghe, ông kinh ngạc bởi đàn lợn 500 con chỉ một người chăm.

    Trở về nhà, hình ảnh trang trại rộng lớn cứ trở đi trở lại trong đầu. Cả tháng trời ông suy tính thấy nghề lái xe lắm rủi ro; trong khi quê mình đồng đất rộng, sao không phát triển kinh tế ? Vậy là ông quyết bỏ nghề lái xe. Nhưng khi bàn với vợ xây dựng mô hình làm ăn mới, ông bị phản đối kịch liệt. 

    Biết tính vợ, ông chờ bà vắng nhà liền lấy 55 cây vàng tích cóp được từ trước mang bán để mua hơn 64 nghìn m2 đất khu hồ Đầm Lác của 100 hộ dân trong thôn. Ông dẫn thợ đến ngày đêm đổ đất, cải tạo, xây dựng chuồng trại.

    “Ngày ấy, vợ chồng tôi một thời gian dài không nói chuyện với nhau chỉ vì tôi tự ý lấy vàng mang bán. Suốt 3 tháng, tôi một mình ngày đêm làm việc cật lực trên khu Đầm Lác, đến khi tôi bị trượt ngã bị đau chân, lúc đó vợ tôi mới thương và qua làm giúp”, ông Hữu nhớ lại.

    Khi trang trại chăn nuôi hoàn thiện đi vào hoạt động, lứa lợn đầu tiên ông nuôi 500 con, sau 5 tháng được xuất chuồng, lãi hàng chục triệu đồng. Thấy có lợi nhuận khá, ông tiếp tục vay mượn tiền mở rộng quy mô gấp đôi. Cứ thế, trang trại chăn nuôi lớn dần như ngày hôm nay.

    Nông dân nhiều sáng kiến

    Gia đình ông Nguyễn Bá Hữu đang nuôi hơn 3,5 nghìn con lợn thương phẩm.

    Gia đình ông Nguyễn Bá Hữu đang nuôi hơn 3,5 nghìn con lợn thương phẩm.

    “Đến với nghề nuôi lợn chắc đó là cái duyên, bởi trong bao nhiêu thứ nghề mình lại chỉ “say” mỗi con lợn. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao lại thế”, ông Hữu bộc bạch. Xác định chăn nuôi, trồng trọt đều có thể gặp rủi ro nên trong quá trình chăm sóc, ông luôn tìm tòi phương pháp làm sao giảm đến mức thấp nhất chi phí đầu tư, chú trọng khâu phòng dịch bệnh.

    Năm 2017, giá lợn xuống thấp, khi ấy trong chuồng đang nuôi vài nghìn con; hằng ngày cứ mở mắt ra là lỗ cả chục triệu đồng. Sót ruột, ông tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và khí biogas để nấu cám, tiết kiệm được 500 nghìn đồng/ngày.

    Bên cạnh đó, để bảo vệ môi trường, vợ chồng ông Hữu còn đầu tư tiền tỷ vào hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi. Với hệ thống này, phân được tách ra khỏi chất lỏng. Sau đó ủ bằng vôi, chờ khô thì đóng bao và bán cho các hộ trồng trọt. Ý tưởng này của ông đã đoạt giải Cuộc thi Sáng tạo kỹ thuật nhà nông cấp tỉnh.

    Quyết liệt trong phòng dịch bệnh, từ đầu năm đến nay, mặc dù các hộ dân nuôi lợn trong thôn bị nhiễm dịch tả châu Phi nhưng đàn lợn của gia đình ông Hữu vẫn khỏe mạnh.

    Không chỉ làm giàu cho bản thân, ông đã giúp về giống, vốn, kiến thức, cho vay tiền không lấy lãi đối với 21 hộ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên thoát nghèo và làm giàu. Đồng thời, ông tích cực ủng hộ kinh phí cùng địa phương xây dựng nông thôn mới.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Tập trung giải phóng mặt bằng Dự án khu B, Khu đô thị Đình Trám – Sen Hồ

    Ngày 3-12, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn kiểm tra tiến độ thực hiện Dự án khu B, Khu đô thị Đình Trám – Sen Hồ (Việt Yên).

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn kiểm tra thực địa dự án khu B, khu đô thị Đình Trám-Sen Hồ (Việt Yên).

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn kiểm tra thực địa dự án khu B, khu đô thị Đình Trám-Sen Hồ (Việt Yên).

    Cùng dự buổi làm việc có đại diện Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, huyện Việt Yên, các xã liên quan và chủ đầu tư.

    Dự án khu B, Khu đô thị Đình Trám – Sen Hồ được triển khai trên địa bàn xã Hoàng Ninh, Hồng Thái với quy mô gần 116 ha. Chủ tịch UBND tỉnh giao Công ty cổ phần thương mại và xây dựng Lam Sơn làm chủ đầu tư với tổng kinh phí 1.284 tỷ đồng.

    Giai đoạn 1 của dự án triển khai trên địa bàn xã Hồng Thái, UBND huyện Việt Yên đã thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng và UBND tỉnh giao đất 4 đợt cho chủ đầu tư với diện tích khoảng 27 ha. Hiện nay, Công ty cổ phần thương mại và xây dựng Lam Sơn đang tiến hành thi công, xây dựng hạ tầng trên diện tích đã được bàn giao.

    Tuy nhiên còn 793 ngôi mộ cần phải di chuyển mặc dù xã Hồng Thái đã hoàn thành xây dựng nghĩa trang mới nhưng chỉ có số lượng nhỏ số hộ đồng ý kê khai, kiểm kê, nhận chi trả tiền di dời.

    Giai đoạn 2 thực hiện ở xã Hoàng Ninh với quy mô hơn 76 ha liên quan đến 858 gia đình, cá nhân và gần 1.300 ngôi mộ phải di chuyển. Đã có gần 79% số hộ kê khai, ký xác nhận hồ sơ và 60% nhận tiền đền bù; còn 75 hộ chưa kê khai, quy chủ…

    Tại buổi kiểm tra, đại diện UBND huyện Việt Yên nêu một số khó khăn, vướng mắc cần giải quyết như: Hiện nay có nhiều diện tích không đủ hồ sơ về đất đai như sổ chia ruộng, sổ địa chính… Nhiều thửa đất canh tác không thường xuyên nên ranh giới không rõ ràng.

    Một số hộ chưa nhất trí với chủ trương thu hồi giải phóng mặt bằng, đòi hỏi chế độ ngoài chính sách. Nhiều người còn tâm lý nghe ngóng, chưa hợp tác trong quá trình kê khai, ký xác nhận hồ sơ, nhận tiền đền bù, muốn được bồi thường mức cao hơn.

    Qua trao đổi, đồng chí Lại Thanh Sơn đánh giá cao ý nghĩa của dự án đối với sự phát triển chung của huyện Việt Yên và các xã Hồng Thái, Hoàng Ninh. Đối với những vướng mắc hiện nay, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đề nghị UBND huyện và các xã tiếp tục tuyên truyền, vận động, giải thích, thông báo đến người dân kế hoạch, chính sách bồi thường, di dời.

    Có phương án cụ thể về từng khu vực, trường hợp trên cơ sở chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tiếp tục kê khai, quy chủ, kiểm đếm để có thể lập, niêm yết công khai việc đền bù, giải phóng mặt bằng.

    Xây dựng lộ trình, kế hoạch triển khai cụ thể, trong đó có phương án kiểm đếm bắt buộc và thiết lập hồ sơ cưỡng chế, thu hồi đất với trường hợp cố tình chống đối, không hợp tác.

    Chủ đầu tư và đơn vị tư vấn cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với huyện và các xã trong bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng. Đẩy nhanh san lấp mặt bằng, thi công hạ tầng những khu vực đã giải phóng, bảo đảm tiến độ dự án.

    Theo: Báo Bắc Giang 

  • Chăn nuôi gia súc những tháng cuối năm

    (BGĐT)- Những ngày qua, tại địa bàn tỉnh Bắc Giang, giá lợn giống tăng cao kỷ lục, người chăn nuôi muốn tái đàn nhưng không tìm được nguồn cung.

    Theo đó, lợn siêu nạc xách tai dao động từ 2 đến hơn 2 triệu đồng/con. Yên Dũng có giá lợn giống cao nhất, đạt mức 2,2 triệu đồng/con. 

    Lợn lai (còn gọi là lợn cỏ) giá từ 1,6 triệu đến 1,9 triệu đồng/con giống (với trọng lượng đạt từ 8 đến 12 kg/con) nhưng hiện có rất ít. 

    Như vậy, giá lợn giống hiện tại cao hơn từ 200 đến 300 nghìn đồng/con so với năm 2016 (thời điểm giá lợn giống tăng cao nhất tính đến nay.

    Bà Trần Thị Hải Yến, Trưởng Phòng Quản lý giống và Kỹ thuật chăn nuôi, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh cho biết, hiện trong tỉnh chỉ có 2 cơ sở cung cấp nguồn giống ra thị trường là Công ty CP Giống chăn nuôi Bắc Giang và Công ty TNHH Hải Thịnh Bắc Giang.

    Tuy nhiên, tại cơ sở chăn nuôi của Công ty CP Giống chăn nuôi Bắc Giang, tổng đàn lợn nái không nhiều, chỉ còn vài chục con (năm 2019), Công ty đã giảm những con nái chất lượng kém, tránh thiệt hại do bệnh dịch nên số lợn con dịp này chỉ có khoảng vài chục con/tháng.

    Nhân viên Công ty TNHH Hải Thịnh Bắc Giang đưa lợn giống tới điểm cân để xuất bán.

    Nhân viên Công ty TNHH Hải Thịnh Bắc Giang đưa lợn giống tới điểm cân để xuất bán.

    Mặc dù đàn lợn nái của Công ty TNHH Hải Thịnh Bắc Giang vẫn duy trì hơn 300 con (tại cơ sở chăn nuôi ở xã Thường Thắng, huyện Hiệp Hòa) nhưng theo ông Lê Văn Hưng, Phó Giám đốc Công ty thì hiện lợn giống của doanh nghiệp được sản xuất ra cũng chỉ cung cấp trong hệ thống của Công ty, không bán ra ngoài. 

    “Từ ngày 26-11, chúng tôi tăng giá lợn giống lên 2 triệu đồng/con. Mỗi tháng, Công ty xuất bán khoảng 500 con và chỉ cung cấp cho khách hàng đã đặt trước. Để bảo đảm chất lượng con giống, Công ty chúng tôi tiêm đầy đủ các loại vắc xin phòng dịch. Trong thời điểm vẫn còn dịch tả lợn châu Phi, chúng tôi chăm lợn con dài ngày hơn bình thường để người chăn nuôi khi nhập giống về hạn chế được rủi ro”, ông Hưng chia sẻ.

    Do lợn giống khan hiếm nên giá tăng cao, nhiều hộ chăn nuôi trong tỉnh không tìm được nguồn cung để tái đàn. Anh Lý Văn Đức, thôn Giáp Sơn, xã Cẩm Lý (Lục Nam) cho biết: “Vì giá lợn giống cao, hơn nữa bệnh dịch tả lợn châu Phi chưa được kiểm soát hoàn toàn nên sang năm gia đình tôi mới vào đàn”.

    Tìm hiểu tại Lục Ngạn, hiện có nhiều hộ phải mua lợn giống từ tỉnh Phú Thọ về để chăn nuôi, điều này cho thấy nếu không kiểm soát tốt, nguy cơ dịch bệnh bùng phát trở lại rất cao.  

    Theo những chủ nuôi có kinh nghiệm thì các hộ không nên quá sốt ruột vì giá lợn hơi tăng cao mà vội vã tìm con giống để tái đàn. Điều này dẫn đến khó kiểm soát giá, chất lượng con giống và dịch bệnh. 

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Điện lực Bắc Giang không cắt điện trong những ngày nắng nóng

    Điện lực Bắc Giang không cắt điện trong những ngày nắng nóng

    (BGĐT) – Những ngày gần đây, do thời tiết nắng nóng, oi bức nên lượng điện tiêu thụ liên tục tăng, đỉnh điểm là ngày 13-8 với mức cao nhất từ trước đến nay.

    Công nhân Điện lực Việt Yên sửa chữa lưới điện.

    Công nhân Điện lực Việt Yên sửa chữa lưới điện.

    Cụ thể, trong ngày 10-8, công suất đạt 600 MW, sản lượng 12,7 triệu kWh; công suất ngày 11-8 là 581 MW, sản lượng 12 triệu kWh; ngày 12-8 đạt công suất 657 MW, sản lượng 13,7 triệu kWh; đỉnh điểm là ngày hôm qua (13-8), công suất lên tới 675 MW, sản lượng 14,1 triệu kWh, tăng 19 MW về công suất và 0,1 triệu kWh so với ngày tiêu thụ cao nhất của tháng 7.

    Trước tình hình đó, để hạn chế ảnh hưởng của nắng nóng đến người dân và các doanh nghiệp, Công ty Điện lực Bắc Giang không thực hiện cắt điện, trừ các trường hợp sự cố.

    Trong thời gian tới dự báo còn có một số đợt nắng nóng nhiều ngày, Công ty Điện lực Bắc Giang đề nghị các cơ quan, công sở, doanh nghiệp và người dân sử dụng điện an toàn, tiết kiệm. Hạn chế dùng đồng thời nhiều thiết bị tiêu thụ điện lớn có thể dẫn đến quá tải, cháy nổ. 

    Theo: Quốc Phương (Báo Bắc Giang điện tử)

  • Các địa phương đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh

    Các địa phương đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh

    (Chinhphu.vn) – Thực hiện Nghị quyết 02 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, các địa phương đang tiếp tục triển khai nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển.

    Hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít vướng mắc.

    Chính quyền xin lỗi doanh nghiệp

    Ngày 19/7, tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp lần thứ 1 năm 2019, có sự tham dự của lãnh đạo tỉnh  và 130 doanh nghiệp.

    Tại hội nghị, ngoài các ý kiến đã gửi bằng văn bản và được Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại- Du lịch tỉnh thống kê, đại diện các doanh nghiệp đã đặt ra 14 ý kiến trực tiếp, đối thoại với lãnh đạo UBND tỉnh, các sở ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh.

    Theo đó, một số ý kiến như Công ty Trách nhiệm hữu hạn Apolo Việt Nam (chủ sở hữu người Hàn Quốc) kiến nghị về tình trạng ô nhiễm môi trường tại khu công nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động từ năm 2018; doanh nghiệp Vườn Thương kiến nghị đã 9 năm qua, thành phố Đà Lạt ra quyết định thu hồi đất đã cấp cho doanh nghiệp mà chưa có phương án bồi thường; hay doanh nghiệp tư nhân sản xuất tơ lụa Lâm Đồng đề nghị tỉnh xem xét chính sách thu hút đầu tư đối với các doanh nghiệp nước ngoài trên lĩnh vực sản xuất tơ lụa vào địa bàn…

    Tại hội nghị, đại diện UBND tỉnh, lãnh đạo các sở ngành, địa phương đã tiếp thu và đưa ra phương án giải quyết những vướng mắc của các doanh nghiệp nêu ra.

    Chủ tịch UBND thành phố Đà Lạt Tôn Thiện San đã công khai xin lỗi doanh nghiệp Vườn Thương vì thời gian giải quyết vướng mắc quá lâu. Ông Tôn Thiện San cũng đề nghị doanh nghiệp cùng tìm cách tháo gỡ những khó khăn trong quá trình giải quyết, do các loại cây thuốc quý hiếm mà doanh nghiệp trồng trên diện tích phải giải tỏa không có trong danh mục của nhà nước, nên chưa có biểu giá để tính toán bồi thường…

    Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Đoàn Văn Việt đã chỉ đạo cách thức tháo gỡ khó khăn vướng mắc đối với một số trường hợp cụ thể, kéo dài trong nhiều năm chưa xử lý được. Theo lãnh đạo UBND tỉnh Lâm Đồng, tại hội nghị còn nhiều ý kiến lặp lại các kỳ đối thoại trước, cho thấy việc giải quyết các vấn đề còn chậm, chưa triệt để.

    Tuy nhiên, tại hội nghị lần này, không có ý kiến bức xúc về thủ tục hành chính, nghĩa là tỉnh đã thực hiện tương đối tốt cải cách hành chính, giải quyết thủ tục đầu tư. Nhưng có nhiều ý kiến nêu lên vướng mắc trong quá trình thực hiện, chứng tỏ mức độ hài lòng của các doanh nghiệp tham gia hoạt động tại địa bàn còn thấp. Các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương cần phải tiếp tục cải cách về thủ tục hành chính để các nhà đầu tư thực sự hài lòng và kêu gọi thêm các doanh nghiệp tới đầu tư, góp phần vào sự phát triển của tỉnh.

    Để chuẩn bị cho hội nghị đối thoại, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại – Du lịch tỉnh Lâm Đồng đã phát đi 1.300 phiếu khảo sát và thu được 48 phiếu phản hồi của các doanh nghiệp.

    Giải quyết dứt điểm, đi đến cùng

    Ngày 19/7, UBND tỉnh Đắk Nông tổ chức Hội nghị đối thoại doanh nghiệp lần thứ 2 năm 2019 với sự tham dự của 100 doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.

    Trả lời các ý kiến của doanh nghiệp tại hội nghị, ông Trần Xuân Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông yêu cầu các Sở, ngành trong quá trình giải quyết vướng mắc cho doanh nghiệp cần giải quyết dứt điểm, đi đến điểm cuối cùng chứ không phải giải quyết cho xong việc. UBND tỉnh sẽ có văn bản chỉ đạo các cơ quan có liên quan xử lý vướng mắc nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, những vấn đề vượt quá thẩm quyền của tỉnh sẽ kiến nghị lên Trung ương để điều chỉnh, bổ sung.

    Ông Nguyễn Bốn, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông thừa nhận, hiện nay hành lang pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp còn nhiều bất cập, chính sách tại Đắk Nông còn khó khăn hơn chính sách của Trung ương. Tỉnh vẫn còn nhiều cán bộ, công chức có tiêu cực trong giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp… Tuy nhiên, quan điểm của lãnh đạo tỉnh Đắk Nông là tạo điều kiện thuận lợi nhất để các doanh nghiệp phát triển. Lãnh đạo tỉnh và các ban, ngành sẽ tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp trên tinh thần tích cực, kịp thời và hiệu quả. 

    Từ đầu năm 2019 đến nay, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh đã tiếp nhận, tổng hợp, xử lý và chuyển nhiều ý kiến kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Các kiến nghị tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực liên quan đến các sở, ngành như: tài nguyên và môi trường; nông nghiệp và phát triển nông thôn; kế hoạch đầu tư; tài chính; ngân hàng và thuế.

    Tại hội nghị, các đại biểu đã nêu những khó khăn, vướng mắc liên quan đến thủ tục hành chính trong hoạt động chuyển đổi chủ sở hữu đất; thủ tục giao đất, cho thuê đất; việc giải quyết các tranh chấp đất đai trong vùng dự án đối với việc người dân xâm canh, phá hoại tài sản; tranh chấp đất đai giữa doanh nghiệp với người dân chậm giải quyết triệt để…

    Bạc Liêu thành lập Hiệp hội doanh nghiệp

    Tại Bạc Liêu, Ban Vận động thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh vừa tổ chức Đại hội Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Bạc Liêu lần thứ I, nhiệm kỳ 2019-2024.

    Ông Trần Thanh Tâm, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh cho biết, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Bạc Liêu đã được thành lập theo Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu vào tháng 10/2018, với 3 mục tiêu chính. Đó là, tổ chức tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp trong tỉnh với mục đích đoàn kết hội viên, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của hội viên, hỗ trợ các hoạt động kinh tế góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

    Đây cũng là đầu mối thúc đẩy phát triển quan hệ của các doanh nhân, doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học, công nghệ giữa doanh nghiệp với các tổ chức khác trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi….Từ đó, đóng góp tích cực vào việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động và các vấn đề an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bạc Liêu Lê Minh Chiến cho hay, cộng đồng doanh nghiệp và doanh nhân của tỉnh đã đồng hành luôn với tỉnh đóng góp hiệu quả vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Bạc Liêu. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tỉnh Bạc Liêu luôn đạt được nhiều thành tựu quan trọng và có bước phát triển khá toàn diện trên các lĩnh vực. Có được kết quả trên phải kể đến sự đóng góp quan trọng của hơn 2.300 doanh nghiệp, cùng 29.000 hộ kinh doanh và 150 hợp tác xã trên địa bàn tỉnh.

    Ông Lê Minh Chiến kêu gọi các doanh nghiệp đồng tâm hiệp lực, năng động sáng tạo và nhất là phải “biết khát vọng” tập trung vào thế mạnh của mình, vượt qua khó khăn, phát triển sản xuất kinh doanh, tiếp tục có nhiều đóng góp hơn nữa vào sự nghiệp phát triển của Bạc Liêu.

    Bến Tre tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính

    Ông Cao Văn Trọng, Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre cho biết, từ nay đến cuối năm, tỉnh tiếp tục triển khai những giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia .

    Theo đó, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính về đầu tư kinh doanh; tăng cường hỗ trợ, giải quyết nhanh các thủ tục hành chính có liên quan cho nhà đầu tư, doanh nghiệp từ khâu tìm hiểu, nghiên cứu dự án, thành lập doanh nghiệp, thành lập doanh nghiệp đến sau giấy phép.

    Tỉnh đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp thông qua chương trình đồng khởi khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp; tăng cường các hoạt động giao thương, kết nối và mở rộng thị trường tiêu thụ cho khởi nghiệp; đào tạo nâng cao kiến thức cho đội ngũ doanh nghiệp khởi nghiệp của tỉnh, góp phần nâng cao năng lực cho doanh nghiệp trong thời gian tới.

    Cùng với đó, Bến Tre tăng cường đối thoại với doanh nghiệp thông qua các diễn đàn đối thoại doanh nghiệp, “Cà phê doanh nghiệp” định kỳ hàng tháng; tổ chức “Bàn tròn khởi nghiệp” định kỳ hàng tháng để tạo diễn đàn chia sẻ, giao lưu và định hướng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua các kết nối, tư vấn; kịp thời chia sẻ thông tin các chính sách đến cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

    Ngoài ra, tỉnh Bến Tre cũng xây dựng và ban hành chính sách ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh nhằm tăng cường các hoạt động hỗ trợ cho doanh nghiệp, nhà đầu tư. Tỉnh đẩy nhanh tiến độ khu công nghiệp Phú Thuận để xây dựng khu tái định cư, thi công hạ tầng, tạo quỹ đất cho doanh nghiệp tiếp cận đầu tư thuận lợi.

    Song song đó, tỉnh duy trì và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận các cụm công nghiệp hiện tại như Long Phước, Phong Nẫm, An Đức-thị trấn Ba Tri và Tân Thành Bình.

    Thời gian tới, tỉnh triển khai xây dựng Bộ chỉ số đánh giá năng lực điều hành cấp sở, ngành, địa phương thuộc tỉnh (DDCI) để thúc đẩy, tạo sự thi thua, cải cách và nâng cao chất lượng điều hành, hỗ trợ doanh nghiệp trong toàn tỉnh.

    Cũng theo Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre Cao Văn Trọng, thời gian qua, việc hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư luôn được tỉnh quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi và giới thiệu tiếp cận các chính sách ưu đãi để doanh nghiệp biết và tiếp cận, không phân biệt loại hình, quy mô.

    Hiện tỉnh đang hoàn chỉnh đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến tre đến năm 2025 nhằm tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để khuyến khích, thúc đẩy và phát triển mới các loại hình doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

    Bên cạnh đó, nhằm hỗ trợ rút ngắn thời gian, thủ tục hành chính tỉnh đã đưa vào vận hành chính thức Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Bến Tre tiếp nhận và trả hồ sơ của 16 sở, ban, ngành tỉnh. Đồng thời, tỉnh tiếp tục tăng cường vận động tạo quỹ đất sạch, phối hợp giải phóng mặt bằng, cung cấp thông tin về đất đai để thu hút và mời gọi đầu tư.

    Theo: Thu Hà (Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

  • Kiểm soát chặt các mặt hàng xuất khẩu có nguy cơ bị gian lận xuất xứ

    Kiểm soát chặt các mặt hàng xuất khẩu có nguy cơ bị gian lận xuất xứ

    (Chinhphu.vn) – Bộ Công Thương siết chặt theo dõi các mặt hàng xuất khẩu có nguy cơ bị gian lận xuất xứ, lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại trong thời gian tới. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại bất hợp pháp, gian lận xuất xứ.

    Ảnh minh họa

    Đây là một trong những nội dung quan trọng trong Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương để triển khai Đề án “Tăng cường quản lý nhà nước về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và gian lận xuất xứ” vừa được Bộ Công Thương ban hành.

    Kế hoạch hành động nhằm chi tiết các nhiệm vụ của Bộ Công Thương trong đề án thông qua việc giao công tác cho từng đơn vị cụ thể kèm theo yêu cầu về thời gian và kết quả thực hiện.

    Cụ thể, kế hoạch bao gồm các nhóm công việc cần triển khai chính như hoàn thiện cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan liên quan; phối hợp xây dựng, theo dõi danh sách các mặt hàng xuất khẩu có nguy cơ bị gian lận xuất xứ, lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.

    Đặc biệt, Bộ Công Thương sẽ tăng cường kiểm tra, chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại bất hợp pháp, gian lận xuất xứ; mở rộng hợp tác với các cơ quan có liên quan của nước ngoài trong công tác đấu tránh chống hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại bất hợp pháp, gian lận xuất xứ;

    Mặt khác, trong thời gian tới, bộ này sẽ hoàn thiện các quy định về xuất xứ; tăng cường tuyên truyền phổ biến các quy định pháp luật liên quan đến các vấn đề này, nhất là trong bối cảnh các hiệp định thương mại được thực thi trong thực tế.

    Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, qua kiểm tra, giám sát, quản lý khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và kiểm tra sau thông quan, thanh tra của cơ quan hải quan đã phát hiện các phương thức, thủ đoạn gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa.

    Bên cạnh đó, lực lượng hải quan cũng phát hiện hàng hóa có xuất xứ từ nước ngoài chuyển tải qua Việt Nam để hợp thức hóa hồ sơ hoặc xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ sau đó xuất khẩu sang nước thứ ba.

    Theo: LP (Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

  • Đẩy mạnh truyền thông về HTX kiểu mới để lan tỏa hiệu quả

    Đẩy mạnh truyền thông về HTX kiểu mới để lan tỏa hiệu quả

    (Chinhphu.vn) – Hiện có khoảng 55% HTX nông nghiệp đang hoạt động hiệu quả, điều này đã làm gia tăng thu nhập cho thành viên lên 20%/năm. Còn trong 50 mô hình HTX ứng dụng công nghệ cao đã giúp gia tăng thu nhập cho thành viên lên 35%/năm. Đây chính là hiệu quả của kinh tế tập thể kiểu mới, khác với mô hình kiểu cũ.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. Ảnh: VGP/Thành Chung

    Ngày 20/7 tại Hà Nội, Bộ NN&PTNT tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, hợp tác xã (KTTT, HTX) trong lĩnh vực nông nghiệp.

    Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo đổi mới phát triển KTTT, HTX tham dự, chỉ đạo tại hội nghị.

    Cùng tham dự còn có Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam Nguyễn Ngọc Bảo; lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương, Ủy ban của Quốc hội, lãnh đạo của các tỉnh, thành phố trên cả nước.

    Hiện nay cả nước có khoảng 23.000 HTX, trong đó số lượng HTX nông nghiệp chiếm hơn 60%, do vậy, hội nghị có ý nghĩa quan trọng, hướng tới tổng kết toàn quốc thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW về phát triển KTTT nói chung trong thời gian tới.

    HTX nông nghiệp có bước phát triển mạnh mẽ…

    Ông Nguyễn Văn Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) cho biết sau 15 năm triển khai Nghị quyết của Trung ương, các Chỉ thị của Bộ Chính trị và Thủ tướng Chính phủ, kinh tế hợp tác và HTX có sự phát triển mạnh mẽ, ấn tượng. Tính đến hết ngày 30/6/2019, cả nước đã có 14.502 HTX nông nghiệp, trong đó có tới 55% hoạt động hiệu quả (trước 2015 chỉ có khoảng 15% tổng số HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả).

    Các HTX không chỉ giảm chi phí sản xuất của các hộ gia đình thành viên mà còn làm tăng thêm giá trị thu nhập 14%/năm. Các địa phương cũng đã xử lý dứt điểm những HTX hoạt động yếu kém. Theo đó, đã giải thể được 3.600 đơn vị, chỉ còn khoảng 600 HTX yếu kém đang đợi giải thể hoặc cải tổ trong thời gian tới.

    Điều đáng ghi nhận theo ông Thịnh là tốc độ phát triển HTX tăng mạnh qua từng năm. Nếu từ năm 2002 trở về trước, mỗi năm cả nước chỉ thành lập mới được 200 – 300 HTX thì con số này từ năm 2017 trở lại đây là 2.000 HTX/năm. Nếu như năm 2003, doanh thu bình quân của HTX chỉ đạt 461 triệu đồng/năm thì con số này năm 2018 là 1,61 tỷ đồng.

    Tiềm năng, nội lực của HTX được nâng lên, đặc biệt là trình độ quản lý, khoa học công nghệ, sản xuất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn. Nhiều HTX đã thu hút được cán bộ chuyên môn, cán bộ trẻ đã qua đào tạo về làm việc và đảm nhận được vai trò kết nối giữa hộ thành viên với doanh nghiệp.

    Nhiều mô hình mới, đa dạng, có liên kết với doanh nghiệp để tạo chuỗi giá trị, đáp ứng yêu cầu của thị trường. Đó là những mô hình như HTX chuyên ngành (cây, con) dẫn dắt, hỗ trợ kinh tế hộ thành viên phát triển sản xuất, tham gia chuỗi giá trị đáp ứng yêu cầu thị trường; mô hình HTX đảm nhiệm nhiều khâu trong chuỗi giá trị; mô hình tích tụ, tập trung đất đai thông qua HTX để ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho thu nhập cao; mô hình doanh nghiệp trong cùng chuỗi là thành viên HTX…

    Các cá nhân, tập thể được biểu dương tại hội nghị. Ảnh: VGP/Thành Chung

    … nhưng vẫn chưa xứng với tiềm năng

    Đánh giá cao các kết quả đạt được, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng cho rằng, KTTT, HTX trong lĩnh vực nông nghiệp mặc dù đã có sự cải thiện về lượng và chất nhưng chưa đồng đều giữa các lĩnh vực, vùng miền, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hàng hóa lớn và thị trường. Chính sách hỗ trợ HTX ban hành nhiều nhưng thiếu nguồn lực để thực hiện. Rất ít các HTX tiếp cận được các chính sách về hỗ trợ tín dụng, đất đai, hạ tầng sản xuất. Năng lực nội tại của nhiều HTX còn yếu kém, thiếu nguồn lực cho đầu tư sản xuất kinh doanh….

    Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Thành Thống đánh giá KTTT trong nông nghiệp, HTX phát triển chưa tương xứng tiềm năng. Phần lớn HTX nông nghiệp quy mô sản xuất nhỏ, chưa tiếp cận thị trường, khó vay vốn trung hạn và dài hạn. Nhiều HTX vẫn trong tình trạng “bình mới, rượu cũ”; mô hình HTX cũ còn nặng nề trong khi HTX kiểu mới chưa đáp ứng yêu cầu….

    Nguyên nhân do nhận thức về vai trò, giá trị và bản chất của mô hình HTX kiểu mới một số nơi còn chưa thống nhất, dẫn đến công tác quản lý, ban hành cơ chế, chính sách, tư vấn, hỗ trợ… chưa trọng tâm, chưa đúng, chưa đi vào cuộc sống của các HTX và người dân. Ngoài ra, do tâm lý mặc cảm về mô hình HTX thời bao cấp còn nặng nề, trong khi số lượng HTX, liên hiệp HTX hoạt động hiệu quả, mang lại lợi ích cho thành viên, cộng đồng chưa nhiều.

    Chính sách hỗ trợ rất nhiều, nhưng chưa đi vào cuộc sống

    Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ nhấn mạnh kết quả triển khai Nghị quyết 13-NQ/TW trong ngành nông nghiệp là khá rõ và toàn diện từ việc chuyển đổi nhận thức về vai trò, vị trí và tính cấp thiết phát triển HTX trong nông nghiệp đến những vấn đề đặc thù của KTTT, HTX trong nông nghiệp. 

    “Ở nhiều địa phương, HTX đóng vai trò quan trọng trong việc giúp nông dân phát triển vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn phục vụ chế biến, xuất khẩu, có dịch vụ hỗ trợ nông dân thích ứng với điều kiện canh tác, nuôi trồng. Kết quả thể hiện ra là hiệu quả của HTX không chỉ gia tăng số liệu về thành viên, doanh thu, lợi nhuận mà nhiều HTX đã giúp gia tăng thu nhập cho các thành viên. 55% HTX hoạt động hiệu quả đã gia tăng thu nhập cho thành viên lên 20%. Còn trong 50 mô hình HTX ứng dụng công nghệ cao đã giúp gia tăng thu nhập cho thành viên lên 35%/năm. Đó chính là hiệu quả cuối cùng của KTTT kiểu mới, khác với mô hình kiểu cũ”, theo Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ.

    Phó Thủ tướng nêu rõ bên cạnh những kết quả đạt được, trên thực tế, KTTT, HTX vẫn phát triển chưa tương xứng tiềm năng nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. 

    Theo đó, quá trình tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết còn chậm, ở nhiều thời gian, thời điểm chưa quyết liệt. Công tác quản lý nhà nước còn chồng chéo. Số cán bộ quản lý HTX nông nghiệp đã qua đào tạo trình độ trung cấp trở lên chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 46%). Số lượng HTX đã phát triển về lượng và chất nhưng chưa đồng đều và mới tập trung chủ yếu là cung cấp dịch vụ đầu vào. 

    Bên cạnh đó, năng lực nội tại của nhiều HTX còn yếu, thiếu nguồn lực cho đầu tư sản xuất kinh doanh; ở nhiều địa phương, công tác quản lý nhà nước đối với HTX NN còn chồng chéo; thiếu nguồn lực, chính sách hỗ trợ HTX…

    Trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh vai trò quan trọng của các HTX nông nghiệp kiểu mới trong tổ chức, hỗ trợ nông dân và thành viên gia tăng giá trị sản xuất, kinh doanh và kết nối các chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp an toàn, chất lượng cao.

    Cho rằng chính sách hỗ trợ cho phát triển HTX rất nhiều (Nghị quyết 13 nêu 6 loại chính sách) nhưng chưa đi vào cuộc sống, Phó Thủ tướng  chỉ ra nguyên nhân chính là do “cuộc sống không đi vào chính sách”, cho nên chính sách không thể đi vào cuộc sống; làm chính sách cho nông nghiệp mà không gắn sát với đời sống người dân, còn có tình trạng duy ý chí, áp đặt, không thực tiễn.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ thăm mô hình trồng rau, củ của HTX Tân Tiến ở Lâm Đồng tháng 6/2017. Ảnh: VGP

    Triển khai quyết liệt, nâng cao hiệu quả KTTT, HTX

    Để khắc phục hạn chế của mô hình HTX kiểu cũ và phát huy lợi ích từ mô hình mới, Trưởng Ban Chỉ đạo yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam nâng cao nhận thức hơn nữa về vai trò quan trọng của KTTT, HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng; tổ chức triển khai quyết liệt, có hiệu quả các chủ trương, cơ chế, chính sách đã ban hành nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả KTTT, HTX trong thời kỳ mới.

    Đẩy mạnh truyền thông cho các cấp ủy đảng, chính quyền và toàn xã hội hiểu rõ tầm quan trọng, vai trò tất yếu của KTTT mà nòng cốt là các HTX đối với sản xuất nông nghiệp, bản chất HTX kiểu mới; các mô hình HTX hiệu quả gắn với chuỗi tiêu thụ nông sản, HTX nông nghiệp do thanh niên khởi nghiệp thành công, HTX nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tạo điều kiện để các HTX tham gia các chương trình mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

    Cùng với đó, Phó Thủ tướng giao các bộ, ngành, địa phương tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng toàn diện cán bộ và thành viên HTX gắn với đề án đào tạo nghề cho khu vực nông thôn theo hướng tạo nguồn cán bộ quản lý chuyên nghiệp cho HTX.

    Tiếp tục nhân rộng các mô hình kinh tế hợp tác hiệu quả, giúp cho kinh tế hộ phát triển; tạo điều kiện hình thành những mô hình liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp – HTX- nông dân. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những điển hình tiên tiến, cách làm sáng tạo; phổ biến, triển khai nhân rộng các mô hình HTX kiểu mới có hiệu quả và sức lan tỏa cao, đồng thời chuẩn bị tổng kết Đề án phát triển 15.000 HTX, Liên hiệp HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả vào năm 2020.

    Phó Thủ tướng yêu cầu cần đẩy mạnh phát triển KTTT trong lĩnh vực nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu, gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Phát triển các HTX sản xuất sản phẩm chất lượng cao, có thương hiệu, phục vụ xuất khẩu.

    Để nhận diện rõ hơn về thực trạng và hiệu quả của KTTT, HTX, Phó Thủ tướng yêu cầu Tổng cục Thống kê (Bộ KH&ĐT) và Liên minh HTX Việt Nam tiến hành xây dựng Sách Trắng về HTX trong thời gian tới.

    Tại hội nghị, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cũng đưa ra các yêu cầu cụ thể về ban hành các chính sách mới phù hợp với thực tế, khuyến khích hỗ trợ phát triển HTX và với các bộ ngành, địa phương  để tiếp tục củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX./.

    Theo: Thành Chung – Đỗ Hương (Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

  • Hải quan nêu nhiều thủ đoạn gian lận xuất xứ hàng hoá

    Hải quan nêu nhiều thủ đoạn gian lận xuất xứ hàng hoá

    (Chinhphu.vn) – Chiều 19/7, Tổng cục Hải quan tổ chức Họp báo chuyên đề về công tác đấu tranh chống gian lận xuất xứ của ngành hải quan.

     

    Buổi họp báo. Ảnh: VGP/Huy Thắng.

    Ông Âu Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan – Tổng cục Hải quan cho biết, qua công tác kiểm tra, giám sát, quản lý khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và kiểm tra sau thông quan, thanh tra của cơ quan hải quan đã phát hiện các phương thức, thủ đoạn gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa.

    Đối với ghi nhãn hàng hóa, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa được sản xuất tại nước ngoài khi nhập khẩu về Việt Nam đã ghi sẵn dòng chữ “Made in Vietnam”, “sản xuất tại Việt Nam”, “xuất xứ Việt Nam”… hoặc trên sản phẩm và/hoặc bao bì sản phẩm, phiếu bảo hành thể hiện bằng tiếng Việt các thông tin về nhãn hiệu, địa chỉ trụ sở doanh nghiệp, trang web, trung tâm bảo hành tại Việt Nam để tiêu thụ nội địa hoặc xuất khẩu; hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, dán nhãn hàng hóa hoặc ghi xuất xứ hàng hóa được sản xuất tại nước ngoài hoặc không thể hiện nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa nhưng khi đưa ra lưu thông, tiêu thụ nội địa thì doanh nghiệp thay nhãn mới ghi “Made in Vietnam” hoặc “sản xuất tại Việt Nam” hoặc “xuất xứ Việt Nam”…

    Đáng lo ngại, các doanh nghiệp còn lợi dụng văn bản quy phạm pháp luật chưa bắt buộc dán nhãn phụ ngay tại khâu thông quan để nhập khẩu các mặt hàng có thương hiệu nổi tiếng sau đó không dán nhãn phụ theo quy định mà thay đổi nhãn mác, bao bì, tên thương hiệu để tiêu thụ nội địa; nhập khẩu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đã được đăng ký bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; lợi dụng loại hình quá cảnh để vận chuyển hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, giả mạo xuất xứ Việt Nam.

    Đối với xuất xứ hàng hóa, thủ đoạn thường gặp là doanh nghiệp Việt Nam (bao gồm cả doanh nghiệp FDI) nhập khẩu nguyên vật liệu, bán thành phẩm, linh kiện, cụm linh kiện, phụ tùng để sản xuất, gia công, lắp ráp nhưng hàng hóa không trải qua công đoạn gia công, sản xuất hoặc chỉ trải qua công đoạn gia công, sản xuất, lắp ráp đơn giản không đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo quy định nhưng khi xuất khẩu khai xuất xứ Việt Nam trên nhãn hàng hóa hoặc hợp thức hóa bộ hồ sơ để xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ của Việt Nam.

    Thủ đoạn nữa là thành lập nhiều công ty, mỗi công ty nhập khẩu một số cụm linh kiện, phụ tùng hoặc bộ phận tháo rời để lắp ráp hoặc bán cho công ty khác thực hiện gia công, lắp ráp công đoạn đơn giản không đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo quy định nhưng ghi sản xuất tại Việt Nam hoặc xuất xứ Việt Nam để tiêu thụ tại thị trường trong nước nhằm đánh lừa người tiêu dùng hoặc xuất khẩu.

    Các đối tượng vi phạm cũng lợi dụng hàng hóa có xuất xứ từ nước ngoài chuyển tải qua Việt Nam để hợp thức hóa hồ sơ hoặc xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ sau đó xuất khẩu sang nước thứ ba; sử dụng C/O giả hoặc C/O không hợp lệ, khai sai xuất xứ hàng hóa để được áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt theo các Hiệp định thương mại tự do khi làm thủ tục hải quan.

    Ông Âu Anh Tuấn cho hay, trước diễn biến khó lường của cuộc chiến tranh thương mại giữa các nước lớn, để phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước ngoài trung chuyển qua Việt Nam gian lận, giả mạo xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu hoặc tiêu thụ tại thị trường nội địa gây thiệt hại cho người tiêu dùng, Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Hải xây dựng văn bản chỉ đạo chung cho các Cục Hải quan tỉnh, thành phố và các đơn vị có liên quan trong Tổng cục nhằm tăng cường chống gian lận, giả mạo xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp, ghi nhãn hàng hóa.

    Trong đó quy định cụ thể trách nhiệm, sự phối hợp của các đơn vị nghiệp vụ thuộc Tổng cục Hải quan trong việc thu thập, phân tích thông tin, xác định mặt hàng, doanh nghiệp có rủi ro cao nghi vấn gian lận, giả mạo xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp để áp dụng các biện pháp kiểm soát phù hợp; trách nhiệm của Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trong việc kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

    Hải quan sẽ tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra xuất xứ đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc nhưng trên nhãn hàng hóa thể hiện “Made in Vietnam” tại công văn số 3083/TCHQ-GSQL ngày 20/5/2019; tăng cường kiểm tra hoạt động tạm nhập, tái xuất tại công văn số 4307/TCHQ-GSQL ngày 28/6/2019. Đồng thời xem xét chuyển luồng kiểm tra thực tế hàng hóa đối với nhóm mặt hàng này để kiểm soát chặt chẽ xuất xứ hàng hóa.

    Đại diện ngành hải quan cho hay, hiện nay các nước trong khu vực và trên thế giới đã có những chính sách thay đổi lớn như tăng thuế, áp dụng hàng rào kỹ thuật để bảo hộ sản xuất trong nước, trong hoạt động thương mại, đặc biệt các cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc…. có tác động rất lớn đến nền kinh tế của Việt Nam. Mặt khác Việt Nam đã và đang chịu tác động bởi các Hiệp định thương mai tự do FTA, do đó hàng hóa từ các nước bị áp thuế suất cao có khả năng sẽ tìm cách chuyển tải bất hợp pháp vào Việt Nam, giả mạo hợp thức hóa xuất xứ Việt Nam sau đó xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản,… để lẩn tránh mức thuế suất cao do các nước này áp dụng. Hành vi này dẫn đến nguy cơ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bị các nước điều tra, áp thuế chống bán phá giá, thuế tự vệ, thuế trợ cấp ở mức rất cao, gây thiệt hại cho các nhà sản xuất Việt Nam, mất uy tín trên thị trường quốc tế hoặc bị hạn chế xuất khẩu vào các thị trường này nếu bị nước nhập khẩu phát hiện và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.

    Về phương hướng, giải pháp, đại diện cơ quan Hải quan nhấn mạnh, toàn ngành đã xây dựng, ban hành và chỉ đạo thực hiện quy trình kiểm tra, giám sát, kiểm soát hàng hóa có nguy cơ gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp trong đó quy định cụ thể trách nhiệm, sự phối hợp của các đơn vị nghiệp vụ thuộc Tổng cục trong việc thu thập, phân tích thông tin, xác định mặt hàng, doanh nghiệp có rủi ro cao nghi vấn gian lận, giả mạo xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp để áp dụng các biện pháp kiểm soát phù hợp; trách nhiệm của Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trong việc kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

    Các Cục Hải quan các tỉnh, thành phố tăng cường công tác kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu khi làm thủ tục hải quan nhằm ngăn chặn tình trạng gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp.

    Cơ quan Hải quan cũng mở rộng điều tra các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu mặt hàng gỗ ván ép, gỗ dán có số lượng tăng đột biến, bên cạnh đó tiếp tục điều tra xác minh làm rõ hành vi vi phạm đối với các công ty trên để xử lý theo theo quy định pháp luật; tiếp tục đẩy mạnh thu thập thông tin, kiểm tra đối với các lô hàng có dấu hiệu nghi vấn giả mạo C/O, đối với một số mặt hàng trọng điểm có kim ngạch xuất, nhập khẩu lớn…

    Cơ quan Hải quan cũng đề nghị Bộ Công Thương, VCCI siết chặt công tác quản lý cấp giấy chứng nhận xuất xứ theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP đối với trường hợp qua kết quả kiểm tra, thanh tra xác định hành vi gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp. Chỉ đạo các đơn vị chức năng tăng cường công tác kiểm tra sản xuất hàng hoá xuất khẩu nhất là đối với các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá, nguyên liệu, bán thành phẩm về sản xuất thành phẩm để xuất khẩu.

    Theo: Huy Thắng (Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

  • 100.000 doanh nghiệp và mục tiêu hàng đầu thế giới về nông sản

    100.000 doanh nghiệp và mục tiêu hàng đầu thế giới về nông sản

    (Chinhphu.vn) – Xác định doanh nghiệp nông nghiệp có vai trò là “trụ cột” trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp nước ta theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam, Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 có 80.000 đến 100.000 doanh nghiệp có hoạt động đầu tư kinh doanh hiệu quả trong lĩnh vực này.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm một mô hình phát triển nông nghiệp tại Bình Phước. – Ảnh: VGP

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký ban hành Nghị quyết của Chính phủ về giải pháp khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp hiệu quả, an toàn và bền vững. Nghị quyết khẳng định, nông nghiệp Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng và cơ hội cần khai thác, đặc biệt là quỹ đất, nguồn nhân lực và tận dụng cơ hội trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0.

    Thời gian qua, tốc độ tăng trưởng khu vực nông nghiệp đạt khá, năng suất, chất lượng và hiệu quả không ngừng được nâng cao. Trong đó, phải kể đến những thành tựu nổi bật như Việt Nam đã đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và trở thành nước xuất khẩu nông sản đứng thứ hai Đông Nam Á, thứ 15 trên thế giới với 10 nhóm mặt hàng nông, lâm, thủy sản có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ đô la Mỹ, trong đó có 6 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỷ đô la Mỹ.

    Những thành tựu quan trọng nói trên có được là nhờ việc ban hành các chính sách đúng đắn, hiệu quả của Đảng và Nhà nước; quyết tâm, nỗ lực của Chính phủ, các thiết chế thuộc khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn; việc áp dụng các loại hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp như: doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, mô hình kinh tế hộ.

    Trong đó, các doanh nghiệp đang là “trụ cột”, đầu tàu trong việc thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh và phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam.

    Thực tiễn cho thấy, Nhà nước cần có chính sách để doanh nghiệp hợp tác với các thiết chế khu vực nông nghiệp thúc đẩy việc tích tụ, tập trung đất đai tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao trong nông nghiệp, sản xuất các mặt hàng nông sản có chất lượng cao, giá trị gia tăng lớn hơn, có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; tạo vị thế xây dựng thương hiệu quốc gia Nông nghiệp Việt Nam, đồng thời, huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp, tạo ra một môi trường cạnh tranh sôi động trong nông nghiệp.

    Hiện nay, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn đã quan tâm và triển khai dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có những doanh nghiệp hàng đầu thế giới về tôm, cá tra, lúa gạo, cà phê… Hệ thống doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã hình thành với trên 50 nghìn doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm cả sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, kinh doanh vật tư nông nghiệp, nông sản, các dịch vụ phục vụ phát triển nông nghiệp, trong đó có khoảng 10.200 doanh nghiệp trực tiếp đầu tư phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản.

    Tuy nhiên, sự phát triển của các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp còn rất khiêm tốn so với tiềm năng, lợi thế phát triển. Số doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp hiện chỉ chiếm 8% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, trong đó số doanh nghiệp nông lâm, thủy sản chiếm 1%. Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu hiện nay vẫn ở dạng hộ sản xuất với hơn 9,2 triệu hộ quy mô rất nhỏ. Năng suất lao động ngành nông nghiệp còn hạn chế, chỉ bằng khoảng 38% năng suất lao động bình quân chung cả nước và thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực.

    Trình độ khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp còn thấp. Ứng dụng khoa học công nghệ và các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, quốc tế còn hạn chế, chỉ có gần 5% số doanh nghiệp nông lâm thủy sản được cấp chứng nhận VietGAP và tương đương. Thị trường tiêu thụ không bền vững; kênh tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi với các nhà phân phối bán lẻ lớn còn hạn chế; số doanh nghiệp tham gia sản xuất theo chuỗi giá trị còn ít; rào cản về kỹ thuật, chất lượng của thị trường quốc tế ngày càng khắt khe.

    Tình trạng vi phạm về an toàn thực phẩm vẫn diễn ra, đây là việc cạnh tranh sản xuất nông sản thiếu lành mạnh. Vấn đề truyền thông chưa hiệu quả khi phản ánh một số trường hợp vi phạm đã vô tình tạo ra hiệu ứng tẩy chay hàng nông sản Việt vì vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.

    Trao quyền cho thị trường, doanh nghiệp là trụ cột

    Trước tình hình như trên, Nghị quyết của Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 3,0%/năm; tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 6%-8%/năm.

    Đến năm 2030 có 80.000 đến 100.000 doanh nghiệp có hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp hiệu quả, trong đó khoảng 3.000 đến 4.000 doanh nghiệp có quy mô lớn và 6.000 đến 8.000 doanh nghiệp quy mô vừa.

    Nghị quyết đưa ra nhiều nhóm giải pháp, nhiệm vụ cụ thể, mà tinh thần bao trùm là tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm mạnh các rào cản về điều kiện kinh doanh trong nông nghiệp, tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước theo tinh thần Chính phủ kiến tạo, trao quyền cho thị trường quyết định…

    Trên thực tế, ngay từ đầu nhiệm kỳ này, Chính phủ và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dành sự quan tâm đặc biệt cho nông nghiệp, với trọng tâm là phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ. Theo Thủ tướng, nông nghiệp là một trong ba lợi thế cạnh tranh, ba mũi nhọn đột phá mà Việt Nam cần tập trung phát triển, cùng với ngành công nghệ thông tin và du lịch.

    Người đứng đầu Chính phủ đã tới dự nhiều sự kiện về phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao, nhiều lần tới thăm các mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở Bình Phước, Hải Phòng, Hà Nam… Năm 2017, ông đã dành ngày làm việc đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán để về Hà Nam nhấn nút khởi động sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, như một “lễ tịch điền” trong thời kỳ 4.0

    Tới tháng 7 năm 2018, Thủ tướng chủ trì Hội nghị toàn quốc về các giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, tại đây, ông đề nghị, Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp cần chung sức để đưa Việt Nam vươn lên vị trí hàng đầu thế giới về nông sản.

    “Tôi đặt hàng cho ngành nông nghiệp trong 10 năm tới phải đứng vào tốp 15 các nước phát triển nhất thế giới, trong đó lĩnh vực chế biến nông sản đứng vào tốp 10 thế giới. Nông nghiệp Việt Nam là một trung tâm chế biến sâu của nông nghiệp thế giới, là một trung tâm logistics của thương mại nông sản toàn cầu”, Thủ tướng nêu tầm nhìn với ngành nông nghiệp.

    Để hiện thực hóa tầm nhìn trên, Thủ tướng cho rằng ngành nông nghiệp cần có khát vọng phát triển, cốt lõi là sự phát triển của các doanh nghiệp đầu tư trong ngành nông nghiệp và việc đầu tiên là phải có thể chế pháp luật tốt, xóa bỏ những quy định lạc hậu.

    Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường, mặc dù ngành nông nghiệp đã đạt được những thành tựu lớn trong thời gian qua, nhưng không thể bằng lòng với những gì đã đạt được, vì sắp tới ngành nông nghiệp phải đối mặt với ba thách thức lớn.

    Đó là, năng suất của nền kinh tế Việt Nam vẫn kém vì chủ yếu là nông nghiệp hộ nhỏ lẻ manh mún, để tiến lên nền nông nghiệp hiện đại còn rất nhiều khó khăn; thứ hai, Việt Nam chịu tổn thất lớn nhất từ biến đổi khí hậu; và cuối cùng, vì đã chấp nhận cuộc chơi toàn cầu, ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ đối mặt với sự cạnh tranh vô cùng khố liệt.

    Bộ trưởng khẳng định, Bộ sẽ tiếp tục đồng hành cùng bà con để hoàn thiện thể chế, tập trung cải cách hành chính…, cùng các doanh nghiệp tư nhân tiếp tục tạo nên một bức tranh nông nghiệp Việt Nam mới trên thế giới.

    Theo Bộ trưởng, ngành sẽ tiếp tục triển khai mạnh mẽ cơ cấu lại ngành nông nghiệp; phát triển cơ cấu sản xuất theo 3 trục sản phẩm chủ lực: nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia, nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh, nhóm sản phẩm đặc sản địa phương theo mô hình “mỗi xã phường một sản phẩm”. Các sản phẩm chủ lực cần xây dựng các chuỗi giá trị để mở cửa và phát triển thị trường cho phù hợp, ưu tiên sản xuất tốt các mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu như lâm sản, thủy sản, gạo và trái cây.

    “Chúng ta phải chuyển từ sản xuất để ăn thành sản xuất để bán. Nhưng để bán cho thế giới với lượng dân số càng ngày càng tăng và thu nhập càng cao là khó. Khó nhưng chúng ta vẫn làm được. Do đó, cần có sự vào cuộc đồng bộ, cùng đồng hành quyết liệt ở cả 3 trục: Chính phủ, doanh nghiệp và người dân”, Bộ trưởng cho hay.

    Chính phủ hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ kịp thời khó khăn cho doanh nghiệp, nông dân. Hàng triệu hộ nông dân liên kết được với hàng nghìn hợp tác xã, doanh nghiệp. Như vậy, chúng ta mới hình thành được sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến với thị trường, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nêu rõ.

    Theo: Hà Chính (Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

  • Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA): Không chỉ là cơ hội

    Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA): Không chỉ là cơ hội

    (BGĐT) – Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) vừa được ký kết tại Hà Nội. Qua đây, tạo điều kiện cho doanh nghiệp (DN) trong nước nói chung và Bắc Giang nói riêng tận dụng nhiều cơ hội phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, Hiệp định cũng tạo ra nhiều thách thức mà bản thân các DN phải chủ động nâng cao năng lực để hội nhập thành công.

    Đòn bẩy tăng trưởng

    Theo các nhà chuyên môn, Hiệp định EVFTA sẽ giúp việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước thuộc liên minh châu Âu (EU) được xóa bỏ thuế sau một lộ trình ngắn; thuế nhập khẩu cũng giảm lên tới hơn 99%. Các ngành xuất khẩu chủ lực của tỉnh dự kiến được hưởng lợi nhiều nhất là nông sản, dệt may, điện tử…

    Dây chuyền sản xuất tại Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang BGG (TP Bắc Giang).

    Dây chuyền sản xuất tại Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang BGG (TP Bắc Giang).

    Để khai thác lợi thế sau khi ký kết Hiệp định, các DN trong tỉnh đã và đang chủ động vào cuộc, đón lấy những cơ hội mới. Đơn cử như, Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang BGG đã tuyển thêm nhân công lao động, mở rộng sản xuất. 

    Ông Nguyễn Văn Thắng, Tổng Giám đốc Công ty cho biết, hiện đơn vị mới có một xưởng phục vụ sản xuất sản phẩm xuất khẩu sang thị trường các nước khối EU. Để mở rộng thị trường này, ngoài tuyển thêm lao động, đơn vị còn mua sắm thêm thiết bị như máy nhồi lông, trần bông tự động, máy bổ túi, trạm đỉa tự động. Đồng thời, điều chỉnh chiến lược kinh doanh, trong đó tăng cường tìm kiếm, sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước và nhập tại các nước EU.

    Với mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh, các DN xuất khẩu nông sản cũng đang tập trung thực hiện chiến lược kinh doanh mới để mở rộng và tiếp cận thị trường tiềm năng lớn. 

    Công ty vừa đầu tư hàng tỷ đồng để giúp hoàn thiện các thủ tục về hàng rào kỹ thuật, bảo đảm chất lượng nông sản đáp ứng yêu cầu xuất khẩu sang EU.Khảo sát tại Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu G.O.C Bắc Giang cho thấy, ngay sau khi Hiệp định được thông qua, đơn vị đã chủ động tìm hiểu, nắm bắt các nội dung liên quan nhằm đáp ứng các yêu cầu đề ra. 

    “Để xuất, nhập hàng từ thị trường EU, DN trong tỉnh phải đáp ứng các thủ tục, tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của hàng hóa, quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật quốc tế”. Ông Trần Quang Tấn, Giám đốc Sở Công Thương.

    Nhiều rào cản

    Thông tin từ Sở Công Thương, hiện toàn tỉnh có gần 400 DN hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Bên cạnh những thuận lợi, Hiệp định EVFTA cũng đặt ra nhiều thách thức. 

    Để xuất nhập hàng hóa từ thị trường EU, DN trong tỉnh phải đáp ứng các thủ tục, tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của hàng hóa, quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật quốc tế. Các quy định về lao động, môi trường, vấn đề liên quan đến phát triển bền vững cũng phải được cơ quan chức năng của EU xem xét chặt chẽ.

    Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu G.O.C Bắc Giang (Lạng Giang) đầu tư thiết bị sản xuất, bảo đảm chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường EU.

    Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu G.O.C Bắc Giang (Lạng Giang) đầu tư thiết bị sản xuất, bảo đảm chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường EU.

    Đặc biệt, hàng hóa muốn được hưởng ưu đãi thuế quan thì nguyên liệu phải đáp ứng được một tỷ lệ về hàm lượng nội khối nhất định (nguyên liệu có xuất xứ tại EU hoặc Việt Nam). Đây là thách thức lớn đối với các DN trong tỉnh nói riêng, cả nước nói chung. Bởi hiện nay phần lớn nguyên liệu của ngành xuất khẩu chủ lực là may mặc được nhập khẩu từ Trung Quốc. 

    Cùng đó, nguy cơ về các biện pháp phòng vệ thương mại chống bán phá giá, chống trợ cấp hay tự vệ để bảo vệ ngành sản xuất nội địa của các nước EU đối với DN Việt Nam khi xuất khẩu sang cũng được làm ngặt. Ông Trần Quang Tấn, Giám đốc Sở Công Thương cho biết, khi mở cửa thị trường, Việt Nam cho nhập hàng hóa, dịch vụ từ EU cũng đồng nghĩa với DN trong nước phải cạnh tranh khó khăn hơn ngay tại thị trường nội địa. 

    Trong khi đó, phần lớn DN của tỉnh quy mô vừa và nhỏ nên năng lực cạnh tranh chưa cao. Đây chính là thách thức rất lớn, bởi DN EU có lợi thế hơn hẳn về năng lực cạnh tranh, kinh nghiệm thị trường cũng như khả năng tận dụng các điều khoản trong Hiệp định.

    Trước những thách thức trên, thời gian tới các cơ quan quản lý nhà nước, DN cần chung tay giải quyết các vấn đề. Trước tiên, Sở Công Thương cùng cơ quan chức năng, chính quyền địa phương tích cực tuyên truyền, dự báo về tình hình thị trường xuất nhập khẩu, thị trường trong nước, nội dung Hiệp định để kịp thời nắm bắt yêu cầu về kỹ thuật, quy định về xuất nhập khẩu hàng hóa sang các nước EU.

    Bản thân các DN cũng phải chủ động thay đổi phương thức kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Kinh nghiệm từ xuất khẩu vải thiều sang Mỹ, EU… cho thấy, để nông sản xuất khẩu nhiều qua đường chính ngạch, các DN và nông dân cần có sự liên kết chặt chẽ từ khâu sản xuất đến tiêu thụ; sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP; gắn sản xuất với thị trường; xây dựng và bảo vệ thương hiệu, bao bì, tem nhãn và hoàn thiện chuỗi liên kết.  

    Ngoài ra, các DN chủ động tìm kiếm khách hàng lớn, tin cậy; xây dựng vùng nguyên liệu bảo đảm nội dung Hiệp định; chuẩn bị nguồn lực về vốn để đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất… 

    “Chúng tôi đã đề nghị Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) tiếp tục hỗ trợ kết nối cung cầu tiêu thụ sản phẩm; kết nối với các DN có năng lực xuất khẩu nông sản (nhất là vải thiều) vào các thị trường mới của EU; hỗ trợ tỉnh quảng bá, giới thiệu sản phẩm thông qua các chương trình xúc tiến thương mại tại các quốc gia trên thế giới”, ông Trần Quang Tấn cho biết thêm.

    Theo: Thành Nam – Hoàng Phương (Báo Bắc Giang Điện Tử)

  • Nguồn vốn ủy thác địa phương chuyển sang NHCSXH đạt 14.128 tỷ đồng

    Nguồn vốn ủy thác địa phương chuyển sang NHCSXH đạt 14.128 tỷ đồng

    (Chinhphu.vn) – NHCSXH cho biết tính đến ngày 30/6/2019, nguồn vốn ủy thác từ địa phương chuyển sang để NHCSXH thực hiện cho vay đối với các đối tượng chính sách đạt 14.128 tỷ đồng, hoàn thành 104% kế hoạch giao tăng năm 2019.

    Tổng Giám đốc NHCSXH Dương Quyết Thắng giao nhiệm vụ cho các đơn vị.

    Tại hội nghị triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019 vừa tổ chức, lãnh đạo NHCSXH cho biết toàn hệ thống đã thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội.

    Các đơn vị thuộc NHCSXH đã chủ động khai thác, huy động các nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu vay vốn của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, đồng thời tăng cường kiểm tra giám sát, tích cực thực hiện các giải pháp củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng một cách bền vững.

    Đến ngày 30/6/2019, tổng nguồn vốn của NHCSXH Việt Nam đạt 207.217 tỷ đồng. Đặc biệt các đơn vị trong toàn hệ thống đã tích cực, chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 40 của Ban Bí thư và Quyết định số 401/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch triển khai Chỉ thị số 40-CT/TW. Kết quả là đến ngày 30/6/2019, nguồn vốn ủy thác địa phương chuyển sang để NHCSXH thực hiện cho vay đối với các đối tượng chính sách đạt 14.128 tỷ đồng, hoàn thành 104% kế hoạch giao năm 2019.

    Nguồn vốn đã đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu giải ngân các chương trình tín dụng chính sách, chất lượng tín dụng được củng cố và ngày càng nâng cao. Đến ngày 30/6/2019, tổng dư nợ của NHCSXH đạt 198.505 tỷ đồng, trong đó, dư nợ các chương trình tín dụng theo chỉ tiêu tăng trưởng Thủ tướng Chính phủ giao là 173.855 tỷ đồng, đạt 66% kế hoạch tăng trưởng dư nợ Thủ tướng Chính phủ giao.

    Gắn liền với việc tăng trưởng dư nợ, chất lượng tín dụng ngày càng được nâng lên. Đến 30/6/2019, tổng nợ quá hạn và nợ khoanh là 1.488 tỷ đồng, chiếm 0,75%/tổng dư nợ, trong đó nợ quá hạn là 807 tỷ đồng, chiếm 0,41%/tổng dư nợ.

    Trong 6 tháng cuối năm 2019, quán triệt quan điểm điều hành “Kiên quyết không lùi bước trước khó khăn, thách thức, kiên định với mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra” của Thủ tướng Chính phủ nêu tại phiên họp Chính phủ trực tuyến với các địa phương ngày 4/7 vừa qua, lãnh đạo NHCSXH yêu cầu các đơn vị trong hệ thống nỗ lực vượt mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ năm 2019, trong đó, tập trung giải ngân đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của các đối tượng thụ hưởng, sớm hoàn thành kế hoạch đã được Chính phủ giao.

    Cùng với việc tăng cường xử lý, thu hồi nợ đến hạn, tạo nguồn vốn cho vay quay vòng đối với các chương trình tín dụng; chấp hành nghiêm túc định mức Quỹ an toàn chi trả, sử dụng hiệu quả, tránh lãng phí vốn, các đợn vị trong hệ thống cần tiếp tục thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền về tín dụng chính sách.

    Bên cạnh đó, để tiến hành tổ chức Hội nghị sơ kết Chỉ thị số 40 của Ban Bí thư, cả hệ thống phải tập trung đẩy mạnh hoạt động trên tất cả các lĩnh vực để chất lượng tín dụng ngày càng nâng cao và bền vững.

    Theo: Thanh Xuân (Báo Bắc Giang Điện Tử)