Danh mục: Thông tin dự án đầu tư

  • Quyết định chủ trương đầu tư dự án: Nuôi trồng thủy sản của nhà đầu tư Trần Công Phương

    Tên dự án: Nuôi trồng thủy sản

    Nhà đầu tư: Ông Trần Công Phương

    Tổng mức đầu tư: 1.500.000.000 VNĐ

    Số tiền bằng chữ: Một tỷ năm trăm triệu đồng chẵn

    Số quyết định chủ trương đầu tư: 434/QĐ-UBND

    Ngày phê duyệt: 04/7/2019

    Xem chi tiết Văn bản tại đây./.

    Phòng XTĐT – TTXTĐT

  • Phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Khu đô thị mới thị trấn Nếnh

    Phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Khu đô thị mới thị trấn Nếnh

    UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Khu đô thị mới thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên.

     

                                                                                    Ảnh minh họa

    Mục tiêu đầu tư xây dựng nhằm tạo ra quỹ đất ở mới có đầy đủ hạ tầng kỹ thuật đồng bộ theo quy hoạch chi tiết được duyệt, góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng đô thị cho thị trấn Nếnh; tạo động lực thu hút đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội.

    Quy mô đầu tư xây dựng bao gồm xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật trên diện tích khoảng 10,6 ha, gồm các hạng mục: San nền, đường giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước thải, hệ thống thoát nước mưa, hệ thống cấp điện trạm biến áp, điện sinh hoạt và điện chiếu sáng, hệ thống ống, hố ga ngầm hóa đường dây thông tin liên lạc, viễn thông.

    Dự án đầu tư có tổng mức đầu tư hơn 115 tỷ đồng, trong đó chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng là 26,5 tỷ đồng, chi phí xây dựng hơn 56,8 tỷ đồng… Dự án được thực hiện trong năm 2019./.

    Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Giang

  • TỔNG HỢP CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ BỊ THU HỒI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019

    Ngày 18/06/2019, Ban quản lý các KCN đã có Báo cáo số 72/BC-KCN về Tình hình thu hút đầu tư và triển khai thực hiện của các dự án đầu tư trong các khu công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019.

    Tổng hợp các dự án đầu tư bị thu hồi 6 tháng đầu năm 2019. Xem chi tiết Văn bản tại đây./.

    Phòng XTĐT – TTXTĐT

  • TỔNG HỢP CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐIỀU CHỈNH 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019

    Ngày 18/06/2019, Ban quản lý các KCN đã có Báo cáo số 72/BC-KCN về Tình hình thu hút đầu tư và triển khai thực hiện của các dự án đầu tư trong các khu công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019.

    Tổng hợp các dự án đầu tư điều chỉnh 6 tháng đầu năm 2019. Xem chi tiết Văn bản tại đây./.

    Phòng XTĐT – TTXTĐT

  • TỔNG HỢP DỰ ÁN ĐẦU TƯ CẤP MỚI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019

    Ngày 18/06/2019, Ban quản lý các KCN đã có Báo cáo số 72/BC-KCN về Tình hình thu hút đầu tư và triển khai thực hiện của các dự án đầu tư trong các khu công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019.

    Tổng hợp dự án đầu tư cấp mới 6 tháng đầu năm 2019. Xem chi tiết Văn bản tại đây./.

    Phòng XTĐT – TTXTĐT

  • Khẩn trương giải quyết vướng mắc, bảo đảm tiến độ Dự án đường Vành đai IV

    Khẩn trương giải quyết vướng mắc, bảo đảm tiến độ Dự án đường Vành đai IV

    Ngày 05/6, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Linh đi kiểm tra về tình hình thực hiện Dự án đường Vành đai IV (Hà Nội) địa phận Bắc Giang. Cùng đi có lãnh đạo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông tỉnh (QLDA ĐTXD CCTGT); lãnh đạo hai huyện Việt Yên và Hiệp Hòa.

                             Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Linh (áo trắng) kiểm tra tiến độ thi công gói thầu Cầu vượt đường sắt
                                                         trên địa bàn huyện Việt Yên. Ảnh: BGP/Hải Huyền

    Theo báo cáo của Ban QLDA ĐTXD CCTGT tỉnh, đến nay, tiến độ của 04 gói thầu xây lắp thuộc Dự án đường Vành đai IV đều bị chậm so với tiến độ của các nhà thầu đã ký kết với chủ đầu tư. Các gói thầu chậm từ 1 – 2 tháng. Khối lượng thi công đạt khoảng 36 – 45%. Nguyên nhân của việc chậm tiến độ thi công là do ảnh hưởng của thời tiết mưa nhiều; nguồn vật liệu để khai thác đất đắp nền đường gặp nhiều khó khăn; một số vị trí vướng mắc mặt bằng; các nhà thầu chưa chủ động tập trung nhân lực máy móc để đẩy nhanh tiến độ thi công, chưa chủ động trong việc tìm nguồn vật liệu phục vụ công tác thi công đắp đất nền đường.

                                 Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Linh (áo trắng) kiểm tra tiến độ thi công gói thầu Cầu Xuân Cẩm – Bắc Phú 
                                                                       trên địa bàn huyện Hiệp Hòa. Ảnh: BGP/Hải Huyền

    Sau khi kiểm tra thực tế, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh Dự án đường Vành đai IV có vai trò quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH các huyện Việt Yên, Hiệp Hòa. Tỉnh xác định đây là công trình trọng điểm, do đó tỉnh đã dồn lực để thúc đẩy thực hiện dự án. Tuy nhiên, đến nay, tiến độ thực hiện dự án chậm, chưa đạt yêu cầu đề ra.

    Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Ban QLDA ĐTXD CCTGT tỉnh cần tập trung đôn đốc nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công, gắn trách nhiệm giải ngân vốn Dự án với nhiệm vụ của Giám đốc Ban. Định kỳ nửa tháng báo cáo tiến độ từng gói thầu với Chủ tịch UBND tỉnh để chỉ đạo thi công. Bên cạnh đó yêu cầu nhà thầu xây dựng kế hoạch thi công cụ thể, khắc phục việc chậm tiến độ. Thường xuyên đôn đốc, kiểm điểm tiến độ thực hiện với các nhà thầu. Phối hợp chặt chẽ với UBND các huyện Việt Yên, Hiệp Hòa tích cực giải quyết dứt điểm các vướng mắc về công tác giải phóng mặt bằng. Đối với các đối tượng cố tình gây khó khăn, phá hoại tài sản, công trình, kiên quyết xử lý nghiêm.

    Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu lãnh đạo hai huyện Việt Yên, Hiệp Hòa tích cực họp, đối thoại với dân, tuyên truyền, giải thích để làm rõ những khúc mắc của người dân, tạo sự đồng thuận trong nhân dân.

    Các nhà thầu thực hiện nghiêm túc hợp đồng đã cam kết. Xây dựng kế hoạch, tập trung máy móc, trang thiết bị, nhân lực tập trung thi công bảo đảm tiến độ Dự án. Nhà thầu nào đôn đốc mà không hoàn thành tiến độ, tỉnh sẽ tiến hành thanh tra, xác định khối lượng thi công, thu hồi Dự án và sẽ xử lý theo pháp luật.

                                            Gói thầu Cầu Xuân Cẩm – Bắc Phú đang được thi công. Ảnh: BGP/Hải Huyền

    Nguồn: Hải Huyền (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Giang)

  • Đẩy nhanh tiến độ Dự án phát triển các đô thị dọc hành lang tiểu vùng sông Mê Kông

    Đẩy nhanh tiến độ Dự án phát triển các đô thị dọc hành lang tiểu vùng sông Mê Kông

    Ngày 04/6, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Linh đã đi kiểm tra tình hình thực hiện Dự án phát triển các đô thị dọc hành lang tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) lần 2. Cùng đi có lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND TP Bắc Giang.

                   Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Linh (đội mũ, thứ 2 bên phải) kiểm tra tiến độ Dự án phát triển các đô thị
                                      dọc hành lang tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) lần 2. Ảnh: BGP/Hải Huyền

    Dự án phát triển các đô thị dọc hành lang tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) lần 2 có 5 gói thầu bao gồm: Xây dựng tuyến đường Trần Quang Khải, đường Vành đai Đông Bắc, cải tạo hệ thống thu gom nước thải, nâng cấp hệ thống nước mưa, nâng công suất Trạm xử lý nước thải. Qua kiểm tra cho thấy, các gói thầu triển khai còn chậm tiến độ, giá trị khối lượng thực hiện, giá trị giải ngân đạt thấp.

    Nguyên nhân là do vướng mắc bồi thường giải phóng mặt bằng; một số gói thầu phải điều chỉnh, bổ sung thiết kế để phù hợp với hiện trạng; một số hạng mục chỉ thi công vào được mùa khô nên đến nay chưa thể thi công; nhà thầu chưa tập trung huy động máy móc, thiết bị, nhân lực, vật liệu để đẩy nhanh tiến độ thi công;…

                                 Gói thầu Xây dựng tuyến đường Trần Quang Khải đang được thi công. Ảnh: BGP/Hải Huyền

    Sau khi kiểm tra thực tế, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Linh yêu cầu UBND TP Bắc Giang tổ chức kiểm điểm, đánh giá năng lực của đơn vị quản lý dự án. Đồng thời tổ chức kiểm điểm tiến độ thực hiện từng gói thầu, xác định rõ những vấn đề còn tồn tại, vướng mắc để tập trung giải quyết và thống nhất với các nhà thầu biện pháp đẩy nhanh tiến độ. Thường xuyên theo dõi nắm bắt tình hình thực hiện tại các gói thầu, kịp thời chỉ đạo giải quyết các vướng mắc phát sinh. Bên cạnh đó, yêu cầu nhà thầu tập trung nhân lực, huy động máy móc, trang thiết bị đẩy nhanh tiến độ thi công, bảo đảm tiến độ dự án theo kế hoạch./.

    Nguồn: Hải Huyền (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Giang)

  • DANH MỤC DỰ ÁN KÊU GỌI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2019-2025

    DANH MỤC DỰ ÁN KÊU GỌI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2019-2025

    Căn cứ Công văn số 1034/BNN-HTQT ngày 19/02/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc danh mục dự án kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, giai đoạn 2019 – 2025; UBND tỉnh Bắc Giang đề xuất các dự án kêu giọ đầu tư FDI vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh.

    Danh mục chi tiết (File đính kèm)

                                                                                                                                                                    Phòng XTĐT – TTXTĐT

  • DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÓ SỬ DỤNG ĐẤT ĐẤU THẦU LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ NĂM 2019 – ĐỢT 2

    DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÓ SỬ DỤNG ĐẤT ĐẤU THẦU LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ NĂM 2019 – ĐỢT 2

    Danh mục chi tiết (File đính kèm)

                                                                                                                                                                       Phòng XTĐT – TTXTĐT

  • Danh mục các Dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư vào tỉnh Bắc Giang năm 2019

    Danh mục chi tiết (File đính kèm)

                                                                                                                                                                       Phòng XTĐT – TTXTĐT

  • Phân bổ vốn chuẩn bị đầu tư năm 2017 hoàn thành các thủ tục cho các dự án dự kiến khởi công mới năm 2018 sử dụng vốn đầu tư công thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn của tỉnh giai đoạn 2016-2020

    Công tác tham mưu phân bổ vốn chuẩn bị đầu tư năm 2017 hoàn thànhcác thủ tục cho các dự án dự kiến khởi công mới năm 2018 sử dụng vốn đầu tư công thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn của tỉnh giai đoạn 2016-2020

    1. Đối với các dự án đầu tư công do tỉnh quản lý:

       Thực hiện Quyết định số 715/QĐ-UBND ngày 09/12/2016 của UBND tỉnh về việc giao Dự toán ngân sách nhà nước, kế hoạch đầu tư công nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương năm 2017, trong đó có nguồn vốn chuẩn bị đầu tư năm 2017.

       Trên cơ sở, dự kiến Kế hoạch đầu tư công trung hạn của tỉnh giai đoạn 2016-2020 (lần 4), Sở Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các đơn vị có liên quan rà soát, tổng hợp, đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh phân bổ chi tiết vốn chuẩn bị đầu tư năm 2017, cho 04 dự án khởi công mới năm 2018 thuộc dự kiến kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 của tỉnh (dự kiến đầu tư từ nguồn vốn cân đôi ngân sách tỉnh), số vốn là 800 triệu đồng, cụ thể gồm:

       – Lĩnh vực giao thông (01 dự án), số vốn 200 triệu đồng: Cải tạo, nâng cấp đường giao thông  các xã: Hương Lâm, Xuân Cẩm và Mai Trung, huyện Hiệp Hòa là 200 triệu đồng.

       – Lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo (02 dự án), số vốn 400 triệu đồng, gồm: Xây dựng nhà lớp học các trường Tiểu học Mai Trung số 1, THCS Mai Đình, THCS Xuân Cẩm, mầm non Đồng Tân, huyện Hiệp Hòa là 200 triệu đồng; Nhà lớp học, nhà công vụ, nhà ký túc xá, nhà ăn Trường THPT Sơn Động số 1 là 200 triệu đồng.

       – Lĩnh vực Y tế (01 dự án), số vốn 200 triệu đồng: Xây dựng Trung tâm y tế huyện Lục Nam là 200 triệu đồng.

     (Chi tiết danh mục các dự án được phân bổ vốn chuẩn bị đầu tư năm 2017 đợt 1 tại Quyết định số 940/QĐ-UBND ngày 02/6/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh)

    2. Đối với các dự án do bộ ngành trung ương đầu tư trên địa bàn

       Để tranh thu nguồn vốn của các Bộ, ngành Trung ương đầu tư trên địa bàn giai đoạn 2016-2020 góp phần tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao bộ mặt đô thị Bắc Giang. Theo đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh tại Công văn số 683/VKS-VP ngày 11/5/2017 về việc đề nghị hỗ trợ kinh phí thực hiện công tác lập dự án đầu tư xây dựng trụ sở làm việc Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh đã được Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phê duyệt chủ trương đầu tư tại Quyết định số 825/QĐ-VKSTC-C3 ngày 29/10/2016; với tổng mức đầu tư 77,049 tỷ đồng (gồm: Ngân sách Trung ương 68,549 tỷ đồng; ngân sách tỉnh là 8,5 tỷ đồng); dự án đã được giao kế hoạch vốn trung hạn giai đoạn 2016-2020 tại Quyết định số 572/QĐ-BKHĐT ngày 20/4/2017 nguồn vốn ngân sách Nhà nước cho các bộ, ngành Trung ương. Đồng thời, căn cứ Thông báo số 72-TB/VPTU ngày 11/5/2016 và Thông báo số 149-TB/TU ngày 01/03/2017 của Thường trực Tỉnh ủy về việc nhất trí hỗ trợ kinh phí xây dựng trụ sở làm việc của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh. Sở Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Chủ đầu tư rà soát, đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh phân bổ chi tiết vốn chuẩn bị đầu tư năm 2017 là 200 triệu đồng cho dự án, để triển các bước hoàn thiện thủ tục đầu tư và khởi công mới dự án trong kế hoạch năm 2018.

    (Chi tiết danh mục dự án được phân bổ vốn chuẩn bị đầu tư năm 2017 đợt 2 tại Quyết định số 991/QĐ-UBND ngày 12/6/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh)

  • Dự án Đầu tư – Kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp Việt – Hàn

    I. MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN:

    Thành lập khu công nghiệp tập trung các cơ sở sản xuất công nghiệp như: Điện tử; tin học; lắp ráp cơ khí; vật liệu xây dựng; may mặc; giầy da; sản xuất đồ nhựa và một số ngành phục vụ chuyên dùng khác…

    II. CĂN CỨ XÂY DỰNG DỰ ÁN:

    – Căn cứ công văn số: 920/TTg-KTN, ngày 20/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc Bổ sung Khu công nghiệp Việt-Hàn, tỉnh Bắc Giang vào Quy hoạch phát triển các Khu công nghiệp ở Việt Nam.

    – Căn cứ Quyết định số: 2180/QĐ-UBND, ngày 23/12/2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc Phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu công nghiệp Việt-Hàn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

    – Căn cứ Quyết định số: 285/QĐ-UBND, ngày 27/02/2009 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc Thành lập Khu công nghiệp Việt Hàn.

    III. ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN DỰ ÁN:

    – Địa điểm: Thuộc cánh đồng xã Hồng Thái và xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

    – Lợi thế: Khu công nghiệp được Quy hoạch nằm cạnh QL1A thuộc hệ thống đường bộ Xuyên Á (Asian Highway), cạnh các KCN tập trung của tỉnh Bắc Giang như: KCN Đình Trám (Khu trung tâm); KCN Vân Trung; KCN Quang Châu và KCN Song Khê – Nội Hoàng. Các dịch vụ có sẵn như: Ngân hàng, Hải quan, Viễn thông, Ga đường sắt, cảng sông…

    IV. HÌNH THỨC ĐẦU TƯ:100% vốn của nhà đầu tư.

    V. QUY MÔ:

    – Diện tích KCN: Khoảng 101,53 ha, trong đó:

            + Đất xây dựng nhà máy: 65,59 ha;

            + Trung tâm điều hành, dịch vụ: 2,22 ha;

            + Đất hạ tầng kỹ thuật: 2,27 ha;

            + Đất giao thông: 17,06 ha;

            + Đất cây xanh: 14,39 ha.

    – Vốn đầu tư: Khoảng 800 tỷ VNĐ, trong đó gồm:

            + Chi phí xây dựng các công trình hạ tầng như:  Hệ thống thoát nước (tuyến ống thoát nước, hố ga, trạm bơm, trạm xử lý); hệ thống cấp nước (tuyến ống cấp nước, bể nước, trạm bơm); hệ thống điện (điện chiếu sáng, sinh hoạt, trạm biến thế điện sản xuất (đối với KCN) và các công tác khác như san nền, đường nội bộ, cây xanh.

           + Chi phí thiết bị gồm: Chi phí thiết bị trạm bơm; trạm biến thế; trạm xử lý nước thải và trang thiết bị phục vụ chiếu sáng, cấp điện, cấp nước.

    VI. THỜI HẠN HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN:50 năm

    VII. GIẢI PHÁP TỔ CHỨC MẠNG LƯỚI HẠ TẦNG KỸ THUẬT:

    a) Giao thông:

    Quy hoạch các tuyến giao thông chính như sau:

    – Đường chính trong KCN, mặt cắt ngang 25m, trong đó lòng đường 15m, vỉa hè 10m;

    – Đường phân khu các nhà máy, mặt cắt ngang 17,5m, trong đó lòng đường 7,5m, vỉa hè 10m;

    b) San nền:

     Cốt san nền bình quân trong KCN từ +4,3 đến + 5,2m

    c) Thoát nước:

    Hệ thống thoát nước được thiết kế hệ thống nước thải riêng và nước mưa riêng.

    d) Cấp nước:

    Nguồn cấp nước cho KCN được lấy từ hai hướng:

    – Hướng thứ nhất: Lấy từ tuyến ống cấp cho KCN Đình Trám, có đường kính ống cấp D300;

    – Hướng thứ hai: Lấy từ tuyến ống D300 chạy dọc tuyến QL1A của nhà máy nước Bắc Giang.

    e) Cấp điện:

    Nguồn điện được lấy từ đường dây trung thế 22Kv, từ trạm biến áp 110Kv/22Kv Đình Trám đi qua khu vực thiết kế.

    VIII. YÊU CẦU ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ:Có kinh nghiệm và năng lực tài chính.

    IX. ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ ĐỐI VỚI DỰ ÁN:

    – Dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư theo Nghị định số: 108/2006/NĐ-CP, ngày 22/9/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Đầu tư:

    a) Miễn tiền thuê đất:

    Miễn tiền thuê đất 11 năm, kể từ ngày dự án hoàn thành đưa vào sử dụng.

    b) Hỗ trợ của tỉnh:

    Hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào các khu công nghiệp bao gồm: Đường giao thông, điện, điện thoại, nước sạch.

    X. TRÌNH TỰ THỰC HIỆN:

    a) Khảo sát địa điểm, lập dự án; lập hồ sơ đăng ký/đề nghị cấp Giấy chứng nhận đầu tư;

    b) Lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường;

    c) Ký hợp đồng thuê đất; lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dung đất;

    d) Lập hồ sơ thẩm duyệt phương án phòng cháy, chữa cháy;

    e) Lập hồ sơ cấp Giấy phép xây dựng.

    XI. ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ:

    BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC GIANG

    – Địa chỉ: Trung tâm điều hành Khu công nghiệp Đình Trám, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

    – Điện thoại: 02403 566971.

    – Website:http://www.bacgiang-iza.gov.vn

    – Email: ban_qlkcn_vt@bacgiang.gov.vn

  • Kết quả thu hút đầu tư tháng 7-2017

    Kết quả thu hút đầu tư tháng 7-2017

    Trong tháng, UBND tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 14 dự án của các nhà đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 139 tỷ đồng.

    Sở Kế hoạch và Đầu tư đã cấp 01 giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 01 dự án của nhà đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký là 0,12 triệu USD; điều chỉnh 02 giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư tăng thêm 2,5 triệu USD; Ban quản lý các KCN tỉnh đã cấp 01 Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư trong nước với vốn đăng ký là 42,5 tỷ đồng, cấp 06 Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký là 205,5 triệu USD và điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 7 dự án đầu tư nước ngoài với vốn tăng thêm là 15,7 triệu USD.

    Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh thu hút được 99 dự án đầu tư, trong đó có 68 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 26.609 tỷ đồng và 31 dự án đầu tư nước ngoài, vốn đăng ký 511,23 triệu USD. Trong đó:

    – Ngoài KCN: Thu hút được 63 dự án đầu tư trong nước, vốn đăng ký 26.453 tỷ đồng; 5 dự án đầu tư nước ngoài, vốn đăng ký 270,28 triệu USD (Trong tháng có 02 dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động với tổng vốn đăng ký giảm trừ là 40 tỷ đồng).

    – Trong KCN: thu hút 5 dự án đầu tư trong nước, vốn đăng ký 156 tỷ đồng; 26 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn đăng ký 240,95 triệu USD.

    Tính chung từ trước đến nay, toàn tỉnh có 1.216 dự án đầu tư, trong đó có 925 dự án đầu tư trong nước và và 291 dự án đầu tư nước ngoài, tổng vốn đăng ký là 80.087 tỷ đồng và 3.480,2 triệu USD (Riêng bên ngoài các KCN có 897 dự án, trong đó có dự án 93 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 904,86 triệu USD và 818 dự án đầu tư trong nước với vốn đăng ký đạt 72.671,7 tỷ đồng).

  • Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác giữa Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổ chức hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa và đổi mới vùng của Nhật Bản

    Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác giữa Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổ chức hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa và đổi mới vùng của Nhật Bản

    Phát biểu tại Lễ ký, ông Toshihiko Watanabe cho biết, Việt Nam đã và đang tham gia tích cực vào các tiến trình hội nhập quốc tế thông qua việc ký kết các hiệp định đối tác kinh tế với các nước trong và ngoài khu vực, như: Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP)… Hiệp định TPP ký kết thành công hình thành một khu vực tự do thương mại với 800 triệu dân, chiếm 30% kim ngạch thương mại toàn cầu và gần 40% sản lượng kinh tế thế giới. Trong đó Việt Nam và Nhật Bản được đánh giá là hai điểm sáng, TPP sẽ đem đến rất nhiều những cơ hội và thách thức cho quan hệ thương mại của hai nước đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Do vậy, việc liên kết các DN của hai nước với nhau là vô cùng quan trọng, đặc biệt tập trung vào vào các DN hoạt động trong lĩnh vực Công nghiệp hỗ trợ và Nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay. SMRJ đang hoàn thiện trang web www.jgoodtech.smrj.go.jp với mục đích giúp các DN liên kết với nhau và đang mở rộng, bổ sung các DN liên quan đến các lĩnh vực lưu thông, dịch vụ với mục tiêu đạt 10 nghìn DN đăng ký thông tin trên trang Web.

    SMRJ mong muốn thông qua việc ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác giữa Cục Đầu tư nước ngoài và SMRJ sẽ thúc đẩy liên doanh liên kết giữa hai nước nói riêng và hướng ra cộng đồng kinh tế AEC nói chung trong các lĩnh vực cụ thể như điện tử, dệt may, nông nghiệp, chế biến thực phẩm, cơ khí…
    Phát biểu tại Lễ ký, ông Đỗ Nhất Hoàng cho biết, Nhật Bản là nhà đầu tư số 1 tại Việt Nam. Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện, hỗ trợ xúc tiến đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các nhà đầu tư Nhật Bản. Lễ ký biên bản ghi nhớ giữa Cục Đầu tư nước ngoài và SMRJ là cơ sở để hỗ trợ các DN trong việc cung cấp thông tin về tình hình đầu tư, tiềm năng thế mạnh, thủ tục đầu tư,… và để kết nối các DNNVV hai nước.
    Tại Lễ ký, hai bên khẳng định sẽ cùng nhau xây dựng một chương trình hành động cụ thể, trên cơ sở đó có thể triển khai các ý tưởng, tăng cường hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản nhằm mang lại lợi ích cho cả hai bên./.

    Tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản (SMRJ) là tổ chức của Chính phủ Nhậ Bảnthực hiện toàn diện các chính sách hỗ trợ cho các SMEs của Nhật Bản. SMRJ có hệ thống hỗ trợ toàn quốc với 09 trụ sở chính đặt tại các vùng và 09 viện đào tạo dành cho SMEs của Nhật Bản. Với khoảng 800 nhân viên và hơn 4.000 chuyên gia phối hợp, SMRJ mong muốn hỗ trợ toàn diện SMEs từ lúc khởi nghiệp đến giai đoạn phát triển.
    * Các hoạt động chính của của tổ chức:
    1. Hỗ trợ giai đoạn khởi nghiệp/ thành lập công ty: cung cấp các dịch vụ tư vấn, dịch vụ vay vốn, kết nối nhà đầu tư, hỗ trợ giải quyết các vấn đề pháp lý về thành lập doanh nghiệp;
    2. Hỗ trợ trong giai đoạn phát triển doanh nghiệp: hỗ trợ nâng cao năng lực kinh doanh, hỗ trợ hợp tác với các tổ chức hỗ trợ SMEs địa phương;
    3. Hỗ trợ điều kiện kinh doanh an toàn cho các SMEs;
    4. Hỗ trợ nơi làm việc, kinh doanh, các tiện ích khác cho doanh nghiệp.

  • Quãng Ngãi sắp ban hành hàng loạt ưu đãi đầu tư

    Quãng Ngãi sắp ban hành hàng loạt ưu đãi đầu tư

    Nhà đầu tư khi đầu tư vào Quảng Ngãi sẽ được UBND Tỉnh trực tiếp hỗ trợ xây dựng hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, khu tái định cư, chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ đào tạo lao động…

    Theo Dự thảo Nghị quyết “Quy định ưu đãi, hỗ trợ và thu hút đầu tư của tỉnh Quảng Ngãi” nhiều khả nẵng sẽ được thông qua sau kỳ họp lần 2 HĐND tỉnh khóa XII, các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, lĩnh vực khuyến khích đầu tư của tỉnh có vốn đầu tư 10 tỷ đồng trở lên thì được hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật thiết yếu và khu tái định cư (nếu có).

    Trong đó, dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư có mức hỗ trợ tương đương 20% chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng phần diện tích đất thực hiện của dự án theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng không quá 20 tỷ đồng/dự án (đối với dự án đầu tư đến 1​00 héc ta) và không quá 30 tỷ đồng/dự án (đối với dự án trên 100 héc ta).
    Đối với dự án khuyến khích đầu tư, mức hỗ trợ tương đương 10% chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng phần diện tích đất thực hiện của dự án theo cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc kinh phí chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp đã thực hiện dự án đầu tư nhưng không quá 20 tỷ đồng/dự án.

    Các dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư và lĩnh vực khuyến khích đầu tư còn được hỗ trợ xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các khu chức năng trong khu kinh tế; hỗ trợ đào tạo lao động 500.000 đồng đến 2 triệu đồng/người/khóa; hỗ trợ 0,3% cho công tác tác vận động thu hút đầu tư trên tổng vốn đầu tư.
    Theo dự thảo Nghị quyết, danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích thu hút đầu tư bao gồm đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chức năng trong khu kinh tế, cụm công nghiệp; Các dự án ứng dụng công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển của Chính phủ; Xây dựng chợ nông thôn, khu chung cư cho công nhân làm việc tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, nhà ở xã hội; Đầu tư sản xuất công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp lọc hóa dầu; Đầu tư sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Xây dựng cơ sở đóng tàu cá, khu dịch vụ hậu cần nghề cá, xây dựng cảng biển, cảng sông.

    Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư gồm đầu tư khu du lịch, điểm du lịch có quy mô 50 héc ta trở lên, làng du lịch đạt tiêu chuẩn 4 sao trở lên, khu nghỉ dưỡng cao cấp từ 20 héc ta trở lên, khách sạn 5 sao; Đầu tư trung tâm hội chợ triển lãm hàng hóa, siêu thị, trung tâm thương mại; Đầu tư sản xuất ô tô, phụ tùng ô tô; Đầu tư xây dựng nghĩa trang nhân dân; Đầu tư chế biến nông, lâm, thủy sản mà giá trị sản phẩm sau chế biến tăng ít nhất 1,5 lần so với giá trị nguyên liệu thô ban đầu, dự án đầu tư cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm, trồng rau an toàn, trồng cây dược liệu tại vùng nông thôn.

    Ông Nguyễn Cao Phúc, Giám đốc sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Ngãi cho biết, ngoài phạm vi Nghị quyết, tất cả những danh mục lĩnh vực đầu tư trong Nghị định 118 đều được hưởng chính sách ưu đãi của tỉnh. Ngoài ra, UBND tỉnh đang xem xét lại quy định về giá cho thuê đất ở một số địa phương để thuận lợi hơn trong thu hút đầu tư.

    Ông Phúc cũng chia sẻ thêm, hiện nay, khi đầu tư dự án vào bất kỳ cụm công nghiệp, khu kinh tế nào trên địa bàn tỉnh, nhà đầu tư cũng sẽ được hưởng chính sách ưu đãi của tỉnh. Do đó, chính quyền các huyện sẽ có trách nhiệm định hướng, sắp xếp và quy hoạch nhà đầu tư vào các cụm công nghiệp, Khu kinh tế. Riêng một số dự án đặc biệt, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội địa phương thì UBND huyện báo cáo, xin ý kiến UBND tỉnh cho chủ trương đặc cách về địa điểm, hạ tầng và cơ chế đầu tư cho nhà đầu tư.

  • Rà soát cơ chế để hút vốn đầu tư vào nông nghiệp

    Rà soát cơ chế để hút vốn đầu tư vào nông nghiệp

    Diễn đàn “Phát triển Doanh nghiệp nông nghiệp trong tiến trình tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới” do Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp tổ chức đã gợi mở những định hướng quan trọng nhằm hút vốn đầu tư phát triển nông nghiệp Việt Nam.

    Tại Diễn đàn, ông Nguyễn Văn Bình, Trưởng ban Kinh tế Trung ương đã khẳng định, mặc dù, với những thuận lợi về thổ nhưỡng và khí hậu khiến cho Việt Nam có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp, tuy nhiên, năng suất cây trồng thấp, chất lượng nông phẩm không cao và các ngành phụ trợ trong chế biến không tạo nên giá trị gia tăng cao đã dẫn đến một hệ quả tất yếu là, tăng trưởng của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm và vì thế, nông nghiệp phát triển kém bền vững.
    Một trong những nguyên nhân quan trọng của những hạn chế, yếu kém trên là do phương thức sản xuất nông nghiệp ở nước ta chủ yếu dựa trên quy mô sản xuất hộ gia đình nhỏ lẻ, manh mún. “Doanh nghiệp, hợp tác xã chậm phát triển; sản xuất kinh doanh nông nghiệp thiếu liên kết”, ông Bình nhấn mạnh.

    Các con số thống kê của Ban Kinh tế Trung ương cho thấy, số lượng các doanh nghiệp nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ và tốc độ phát triển rất chậm, năm 2014 chỉ chiếm dưới 1% các doanh nghiệp được điều tra (chỉ có 3.844 doanh nghiệp nông nghiệp so với tổng số 420.251 doanh nghiệp hoạt động được điều tra). Giai đoạn 2010 – 2014, tốc độ tăng số doanh nghiệp nông – lâm – thủy sản đạt bình quân 10,6%/năm, thấp hơn so với mức tăng doanh nghiệp nói chung 10,9%/năm.
    Đến năm 2015, số doanh nghiệp nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 3.640 doanh nghiệp. Trong khi đó, cơ cấu của các doanh nghiệp nông – lâm – thủy sản chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, với tỷ lệ là 96,53% trong tổng số doanh nghiệp; có khoảng 50% doanh nghiệp ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản có quy mô hoạt động siêu nhỏ (dưới 10 lao động); doanh nghiệp hoạt động nhiều nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp với 47,63%, tiếp đến là thủy sản (35,43%) và ít nhất là lâm nghiệp (16,94%). Bên cạnh đó, vốn đầu tư từ khu vực kinh tế ngoài nhà nước (bao gồm cả đầu tư nước ngoài) vào lĩnh vực nông nghiệp ở mức khiêm tốn, dù đã tăng tới 1,42 lần so với năm 2009, nhưng cũng chỉ đạt mức 30.419 tỷ đồng vào năm 2014. Tổng vốn đầu tư của xã hội cho nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng cũng thấp không kém, khoảng 5,4 – 5,6% tổng đầu tư cả nước, trong khi nông nghiệp vẫn đóng góp 17,7% GDP cả nước vào năm 2014.
    Mặc dù phải thừa nhận rằng, sản xuất nông nghiệp vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng thực tế cho thấy, những doanh nghiệp có hướng đi đúng, vẫn có thể gặt hái thành công. Một số nhà đầu tư thành công đã trở thành những đầu tàu về ứng dụng khoa học công nghệ cao, phát triển thị trường, tạo động lực phát triển cho nhiều vùng, địa phương như: Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), Công ty cổ phần Đường Lam Sơn, Công ty TH Truemilk, Tập đoàn Việt – Úc… Ngoài ra, các tín hiệu gần đây cũng cho thấy đang có xu hướng nhiều nhà đầu tư nước ngoài (từ Nhật Bản, Hàn Quốc…) và nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn đang tìm hiểu cơ hội và mong muốn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn như Tập đoàn Vingroup, Công ty cổ phần Him Lam, Tập đoàn Viettel, Công ty cổ phần FLC…
    Cùng với đó là những tín hiệu khởi sắc từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào nông nghiệp, lũy kế các dự án đầu tư được cấp phép còn hiệu lực đến tháng 6/2016 hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là 536 dự án, tổng số vốn đăng ký 3.774,9 triệu USD. Trong đó, riêng 6 tháng đầu năm 2016, tổng vốn FDI đăng ký cấp mới và tăng thêm là 53,1 triệu USD, với 8 dự án cấp mới và 8 dự án tăng vốn, tăng 86,5% về vốn đầu tư và 62,5% về số dự án so với cùng kỳ năm 2015.
    Tuy nhiên, để dòng vốn đổ vào nông nghiệp mạnh mẽ hơn nữa, tạo cú hích cho khu vực nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững, các cơ quan chức năng đang tiếp tục nghiên cứu để đưa ra các giải pháp thu hút đầu tư trong thời gian tới, nhân rộng các mô hình tiên tiến, hiệu quả phù hợp với từng ngành hàng, lĩnh vực. Hiện nay, Ban Kinh tế Trung ương cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đang rà soát, đề xuất hoàn thiện cơ chế nhằm tạo cơ chế mới thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo hướng liên kết với tổ hợp tác; khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư các khu và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học chuyên ngành trong đầu tư xây dựng cơ sở nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ.

  • Siết chặt hậu kiểm dự án đầu tư

    Siết chặt hậu kiểm dự án đầu tư

    Không chỉ dự án sử dụng vốn nhà nước, mà cả dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn đầu tư ra nước ngoài, dự án đầu tư theo hình thức hợp tác công – tư (PPP)… sẽ được quản lý và giám sát chặt chẽ.
    Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 113/2009/NĐ-CP về giám sát và đánh giá đầu tư đã chính thức được đưa ra lấy ý kiến công luận. Một trong những điểm mới quan trọng của Dự thảo Nghị định, đó là đối tượng điều chỉnh sẽ không chỉ là các dự án sử dụng vốn nhà nước, mà còn là các dự án FDI, dự án đầu tư ra nước ngoài, cả các dự án PPP, cũng như các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước ngoài vốn đầu tư công…
    Việc này, theo lý giải của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan chủ trì soạn thảo Dự thảo Nghị định, là để đảm bảo quản lý, giám sát và đánh giá chặt chẽ các dự án đầu tư, nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư.

    Thực tế, Nghị định 113/2009/NĐ-CP mới chỉ quy định giám sát và đánh giá đầu tư theo 2 loại, là dự án đầu tư sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên và các dự án khác, trong khi trên thực tế, còn rất nhiều dự án đầu tư từ các nguồn vốn khác cũng cần được giám sát và đánh giá đầy đủ.
    “Các thay đổi, bổ sung này sẽ tạo sự thống nhất trong quản lý nhà nước về các hoạt động đầu tư của toàn xã hội”, ông Nguyễn Xuân Tự, Vụ trưởng Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết.
    Tất nhiên, trong Dự thảo Nghị định, đầu tư công là một trong những ưu tiên hàng đầu để giám sát và đánh giá đầu tư. Với việc Luật Đầu tư công đã chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2015, thì các quy định tại Dự thảo Nghị định, dự định được Chính phủ thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2015, trùng thời điểm Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp sửa đổi và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật có hiệu lực, sẽ góp phần quan trọng để tạo sự minh bạch và nâng cao hiệu quả của đồng vốn đầu tư công.
    Cụ thể, Dự thảo Nghị định quy định, không chỉ cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư công, mà cơ quan chủ quản, người có thẩm quyền quyết định đầu tư, cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư cũng phải có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra quá trình đầu tư dự án, nhằm bảo đảm mục tiêu và hiệu quả đầu tư.
    Cũng không chỉ là giám sát quá trình đầu tư dự án, mà Dự thảo Nghị định còn bổ sung các quy định giám sát, đánh giá quá trình lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư cũng như bổ sung việc giám sát, đánh giá của các cơ quan được giao chuẩn bị đầu tư các chương trình, dự án đầu tư. Nghĩa là, công tác giám sát và đánh giá đầu tư các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước sẽ được bắt đầu ngay từ đầu.
    Các quy định về giám sát đầu tư cộng đồng đối với các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước cũng đã được quy định cụ thể trong Dự thảo Nghị định.
    Không những thế, theo một thông báo mới đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hệ thống Thông tin phục vụ công tác giám sát và đánh giá đầu tư các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước cũng sẽ được đưa vào hoạt động trong thời gian tới. “Hệ thống này sẽ được triển khai thống nhất trên toàn quốc nhằm cập nhật, quản lý, khai thác thông tin về các dự án đầu tư trong kho dữ liệu tập trung tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, phù hợp với các nội dung quy định của Luật Đầu tư công”, ông Tự cho biết.
    Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước gửi các thông tin cơ bản nhất về các dự án đầu tư về Bộ để chuẩn bị cho việc triển khai thực hiện Hệ thống. Hạn cuối cùng để gửi thông tin là ngày 10/5/2015.
    Tương tự, cùng với các dự án đầu tư công, thì các dự án FDI, dự án PPP, dự án đầu tư ra nước ngoài… cũng sẽ được quản chặt. Việc giám sát, kiểm tra các dự án PPP cũng sẽ được thực thi ngay từ khâu lập, thẩm định, phê duyệt và triển khai dự án. Các cơ quan được giao chuẩn bị đầu tư dự án; nhà đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết hợp đồng dự án; người có thẩm quyền quyết định đầu tư; cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư công sẽ cùng chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả đầu tư các dự án dạng này.
    Các dự án đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là dự án có sử dụng vốn nhà nước cũng sẽ được quản chặt và phải báo cáo thường xuyên, theo tháng, theo quý với cơ quan quản lý. Không chỉ giám sát tiến độ thực hiện dự án, các vấn đề liên quan đến chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài, việc huy động và sử dụng vốn nhà nước để đầu tư ra nước ngoài (nếu có); tình hình khai thác vận hành dự án, giữ lại lợi nhuận để đầu tư dự án mới, chuyển lợi nhuận về nước; việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước Việt Nam; tình hình sử dụng lao động Việt Nam… cũng phải được báo cáo và giám sát đầy đủ.
    Trong khi đó, với các dự án FDI, việc giám sát sẽ được thực hiện không chỉ trong thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư, mà còn là tiến độ góp vốn, tình hình triển khai, việc thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường, sử dụng đất đai, sử dụng tài nguyên khoáng sản theo quy định; tình hình thực hiện các ưu đãi đầu tư, các điều kiện kinh doanh…
    Hàng loạt quy định chặt chẽ được đặt ra, nhằm siết chặt hậu kiểm các dự án đầu tư từ đủ các loại nguồn vốn khác nhau. Tuy nhiên, từ thực tế giám sát và quản lý đầu tư các dự án theo quy định tại Nghị định 113/2009/NĐ-CP, thì cần có những chế tài chặt hơn để đảm bảo các quy định này, khi được ban hành, sẽ được thực thi nghiêm túc trong thực tế.

  • Nghệ An có thêm 49 dự án đầu tư, với tổng vốn trên 6.800 tỷ đồng

    Nghệ An có thêm 49 dự án đầu tư, với tổng vốn trên 6.800 tỷ đồng

    Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư Nghệ An, tỉnh đang tập trung các giải pháp nhằm xử lý vướng mắc trong công tác giải phóng, giải quyết dứt điểm các thủ tục cho các nhà đầu tư để đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm.
    Dự án nâng cấp đô thị Vinh; tổ hợp khu công nghiệp đô thị và dịch vụ VSIP6; đại lộ Vinh-Cửa Lò; nâng cấp thủy lợi Bắc; dự án Song Ngư Sơn; bệnh viện đa khoa giai đoạn 2; hồ chứa nước bản Mồng… là những dự án quan trọng, có ý nghĩa dân sinh, kinh tế-xã hội của tỉnh, không chỉ đem lại lợi ích cho người dân mà còn góp phần phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh.

    Hiện nay trên địa bàn tỉnh, nhiều nhà đầu tư đã đến nghiên cứu, tìm hiểu và thực hiện các dự án đầu tư.

    Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An, nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư yên tâm hợp tác, đầu tư tại địa phương, tỉnh Nghệ An cam kết tạo mọi thuận lợi về thủ tục, cùng vào cuộc xử lý dứt điểm khó khăn, vướng mắc cho các nhà đầu tư.

    Tỉnh điều tra, xác định cụ thể những dự án có khó khăn, vướng mắc và phân định vướng mắc cụ thể ở khâu nào (thủ tục hành chính, đền bù giải phóng mặt bằng, quy hoạch…) để cùng nhà đầu tư tháo gỡ những khó khăn; cam kết xử lý nghiêm cán bộ nếu phát hiện thấy nhũng nhiễu, gây khó khăn, cản trở nhà đầu tư đến hợp tác, đầu tư tại địa phương.

    Ngoài ra, từ năm nay, Nghệ An cũng ưu tiên ngân sách tập trung giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm và đầu tư vào các công trình khó huy động các nguồn lực xã hội.

    Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An cho biết, 4 tháng đầu năm nay, tỉnh Nghệ An đã cấp mới và điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư cho 57 dự án, với tổng vốn đăng ký hơn 7.050 tỷ đồng; trong đó, cấp mới cho 49 dự án, với tổng vốn đăng ký hơn 6.810 tỷ đồng và điều chỉnh cho 8 dự án, có tổng số vốn tăng thêm trên 237,1 tỷ đồng.

    Hiện tỉnh đang tiếp tục đổi mới và đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư gắn với hiệu quả kinh tế, nhất là tập trung vào các dự án, đối tác trọng điểm đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore. Ngoài ra, tỉnh cũng coi trọng công tác xúc tiến đầu tư tại chỗ theo hướng hỗ trợ tối đa, giải quyết kịp thời các khó khăn vướng mắc cho các dự án đầu tư đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư.

    Trong công tác xúc tiến đầu tư, Nghệ An chủ trương liên kết, phối hợp với các cơ quan, tổ chức là đầu mối xúc tiến đầu tư như KOTRA của Hàn Quốc, Jetro của Nhật Bản, Cục Đầu tư nước ngoài và các đầu mối khác để cung cấp thông tin, kết nối nhằm tăng cường vận động, xúc tiến đầu tư nước ngoài vào Nghệ An.

    Tỉnh theo dõi, cập nhật kết quả, tiến độ đạt được từ các dự án đã ký cam kết; rà soát, kiểm tra các dự án chậm tiến độ, dự án không triển khai.

    Tỉnh cũng chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân các dự án đầu tư từ nguồn vốn ODA, nhất là các dự án trọng điểm; hỗ trợ chủ đầu tư triển khai dự án Khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ VSIP Nghệ An để khởi công dự án trong tháng Sáu tới đây và khởi công Khu công nghiệp Tuấn Lộc trong tháng Năm này.

  • Viettel Tanzania: Dự án đầu tư tốt nhất khu vực Đông, Tây và Trung Phi

    Viettel Tanzania: Dự án đầu tư tốt nhất khu vực Đông, Tây và Trung Phi

    Dự án đầu tư của Viettel tại Tanzania đã giành được giải “Dự án đầu tư tốt nhất năm 2014 của khu vực Đông, Tây và Trung Phi” trong khuôn khổ Cuộc gặp gỡ thường niên của những nhà đầu tư toàn cầu tại Dubai, UAE.
    Vừa qua, Cục Xúc tiến đầu tư Tanzania (TIC) đã nhận giải Dự án đầu tư tốt nhất năm 2014 của khu vực Đông, Tây và Trung Phi tại Hội nghị Đầu tư thường niên lần thứ 5 (AIM) tại Dubai. Chính dự án viễn thông của Viettel Tanzania đã giúp TIC vượt qua nhiều ứng viên đáng giá khác trong khu vực để được vinh danh.

    Viettel bắt đầu quá trình đầu tư vào Tanzania từ gần 4 năm trước khi Thủ tướng nước này – ông Mizengo Pinda – cam kết với Chính phủ Việt Nam về cơ hội đầu tư nói trên. Năm 2014, Viettel đã được chấp thuận rót 736 triệu USD vốn đầu tư vào quốc gia Đông Phi này.

    Bà Juliet Kairuki – Giám đốc điều hành của TIC – tự hào cho biết: “Chính phủ Tanzania hết sức hoan nghênh giải thưởng này vì nó đã chứng tỏ được những hỗ trợ và cam kết mà chúng tôi đã hứa với những nhà đầu tư toàn cầu thông qua Cục Xúc tiến đầu tư Tanzania là hoàn toàn đạt tiêu chuẩn quốc tế”.

    Để giành được giải thưởng, dự án của TIC phải vượt qua các đối thủ ở các tiêu chí mà AIM đưa ra bao gồm: quy mô dự án (số vốn đầu tư), số lượng việc làm đã tạo ra, cán cân thương mại (lượng % xuất khẩu và nhập khẩu), liên kết địa phương (hợp tác với các doanh nghiệp địa phương, nhận cung ứng từ các doanh nghiệp trong nước và những cam kết hỗ trợ doanh nghiệp địa phương khác) và chuyển giao tri thức (nghiên cứu thị trường, tổ chức đào tạo).

    Qua sự hỗ trợ của TIC, Viettel đã tạo ra được 1.722 công việc trực tiếp cho những người dân địa phương, hơn 20.000 công việc không trực tiếp khác thông qua việc thuê ngoài và hệ thống cộng tác viên. Giá trị nổi bật mà Viettel Tanzania đem lại là việc phủ sóng di động 3G đến những vùng sâu vùng xa, trong khi những nhà mạng trước đây chỉ chủ yếu đầu tư ở các thành phố lớn. Mục tiêu mà Viettel cam kết với chính phủ Tanzania là cung cấp dịch vụ cho ít nhất 4.000 ngôi làng chưa được phủ sóng di động (chiếm khoảng 70% tổng số lượng làng chưa được phủ sóng).

    Chỉ sau 8 tháng kể từ khi có giấy phép, Viettel Tanzania đã triển khai được hơn 12.000km cáp quang và dự kiến hết năm 2015 sẽ đạt 17.000km (gấp 2,5 lần đường trục của Chính phủ hiện tại là 7.500km), hơn 2.000 trạm BTS sẵn sàng phủ sóng khắp đến các huyện. Tốc độ xây dựng của Viettel Tanzania được coi là nhanh nhất trong số các thị trường mà Viettel đang triển khai đầu tư. Dự kiến trong năm nay, Viettel sẽ chính thức cung cấp dịch vụ tại Tanzania với thương hiệu Halotel.

    Viettel có quan điểm chung khi đầu tư ở bất cứ quốc gia nào, đó là phải có vùng phủ sóng rộng nhất, mang lại nhiều ích lợi nhất cho người dân địa phương. Đây là điều đã được thực hiện ở cả 9 thị trường nước ngoài mà họ đầu tư và với Tanzania, điều này đã được ghi nhận bằng giải thưởng quốc tế mà TIC vừa được nhận.

  • Khởi công dự án đầu tư lớn nhất của Việt Nam tại Nga

    Khởi công dự án đầu tư lớn nhất của Việt Nam tại Nga

    Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Liên bang Nga, ngày 18/5, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đến dự Lễ khởi công dự án Tổ hợp chăn nuôi bò sữa và chế biến giai đoạn 1 của Tập đoàn TH True Milk tại làng Volokolamsk, Moscow.
    Đây là dự án đầu tiên của Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất, chế biến sữa tại Nga và là dự án của Việt Nam có vốn đầu tư lớn nhất tính tới thời điểm hiện tại.

    Vốn đầu tư giai đoạn 1 của dự án là 500 triệu USD và dự kiến đến giữa năm 2017, sản phẩm sữa TH đầu tiên sẽ ra mắt tại xứ sở Bạch Dương. Tổng vốn đầu tư trong vòng 10 năm, qua 3 giai đoạn, lên tới 2,7 tỉ USD. Khi hoàn thành giai đoạn 3, tổng số đàn bò dự kiến là 350.000 con, tổng công suất chế biến sữa là 5.900 tấn/ngày, tương đương gần 1.800.000 tấn/năm; tổng diện tích vùng nguyên liệu tập trung là 140.000 ha. Tập đoàn cũng dự kiến thành lập chuỗi phân phối với 300 cửa hàng True Mart trên toàn nước Nga
    Phát biểu tại Lễ khởi công, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao nỗ lực của Tập đoàn TH True Milk với tinh thần “dám nghĩ, dám làm”, đưa sản phẩm, thương hiệu “Made in Việt Nam” ra nước ngoài.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định Chính phủ Việt Nam đã và sẽ tiếp tục tạo mọi điều kiện để hỗ trợ triển khai dự án và tin tưởng rằng dự án sẽ hoàn thành đúng thời gian dự kiến, trở thành công trình hợp tác nông nghiệp tiêu biểu, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước, phù hợp với xu hướng phát triển năng động, nâng cao hiệu quả hợp tác song phương Việt Nam-Liên bang Nga.

    Thủ tướng cũng bày tỏ mong muốn Chính phủ Liên bang Nga cũng như chính quyền tỉnh Moscow tạo mọi điều kiện thuận lợi để dự án thành công.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, Nga đang đứng thứ 17/112 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 114 dự án đầu tư còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 2,08 tỉ USD trong các lĩnh vực như năng lượng, khai khoáng, chế tạo máy, dịch vụ du lịch… Việt Nam có 20 dự án đầu tư sang Nga với tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng vốn là 2,93 tỉ USD trong các lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, dịch vụ.