Danh mục: Tin tức sự kiện

  • Bắc Giang: Phấn đấu giải quyết việc làm cho 31.000 lao động

    Bắc Giang: Phấn đấu giải quyết việc làm cho 31.000 lao động

    Ban Chỉ đạo công tác giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Kế hoạch triển khai chỉ đạo công tác giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh trong năm 2020.

    Tăng cường thu hút các dự án đầu tư, góp phần giải quyết việc làm. Ảnh: BGP/Trâm Anh

    Mục tiêu của Kế hoạch phấn đấu năm 2020 toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 31.000 lao động, trong đó đưa 3.700 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh tuyển sinh và đào tạo nghề cho 28.500 người, trong đó Cao đẳng nghề 800 người, Trung cấp nghề 2.700 người, Sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 25.000 người.

    Để đạt được các mục tiêu đề ra, Ban Chỉ đạo công tác giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm tỉnh yêu cầu các đơn vị liên quan tập trung tuyên truyền, phổ biến các quy định cơ bản của Luật Việc làm, Bộ luật Lao động, Luật bảo hiểm xã hội, Luật An toàn, vệ sinh lao động và thông tin thị trường lao động, Luật Giáo dục nghề nghiệp cho các doanh nghiệp và người lao động trên địa bàn tỉnh. Tăng cường tuyên truyền, định hướng và tư vấn về nghề nghiệp, chính sách đào tạo nghề và việc làm sau đào tạo đối với lao động trên địa bàn tỉnh.

    Chủ động phối hợp cùng các Ban Chỉ đạo, các ngành, đoàn thể khác có liên quan của tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương đẩy mạnh hoạt động thu hút đầu tư phát triển sản xuất, thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế trọng điểm nhằm giải quyết được nhiều việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp. Trong đó quan tâm chỉ đạo thu hút các dự án có công nghệ hiện đại, có hàm lượng tri thức cao; lựa chọn các nhà đầu tư lớn, có uy tín và tiềm lực tài chính để tạo sức lan tỏa trong thu hút đầu tư, đồng thời chú trọng đến các dự án có quy mô vừa và nhỏ phù hợp với từng ngành kinh tế; thu hút một số ngành, nghề về khu vực nông thôn để giải quyết việc làm tại chỗ.

    Chỉ đạo thực hiện tốt hoạt động hỗ trợ phát triển thị trường lao động theo quy định của Luật Việc làm. Đôn đốc UBND cấp huyện chỉ đạo UBND cấp xã thường xuyên phổ biến cho người lao động về nhu cầu tuyển lao động của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn. Các huyện, thành phố nắm chắc thông tin hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàn, thường xuyên kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi tư vấn, tuyển chọn, thu tiền môi giới đi xuất khẩu lao động trái quy định pháp luật. Tiếp tục cải tiến các thủ tục cho vay vốn nhanh chóng, kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động khi đã có hợp đồng đi xuất khẩu lao động.

    Đồng thời phát triển chương trình đào tạo nghề gắn với việc làm. Chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn” đến năm 2020; Quyết định số 2128/QĐ-UBND ngày 28/12/2016 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án đổi mới công tác đào tạo nghề theo hướng khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2017 – 2020.

    Chỉ đạo UBND các huyện, thành phố tổ chức triển khai thực hiện tốt công tác điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của lao động nông thôn; nhu cầu học nghề được phân chia cụ thể theo từng loại đối tượng, từng ngành nghề và cấp trình độ đào tạo để xây dựng kế hoạch đào tạo sát với nhu cầu thực tế đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề. Chỉ đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp tiếp tục đầu tư về cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo; đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp; mở rộng ngành nghề, quy mô đào tạo; bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong tỉnh, trong nước và nước ngoài, nhất là các thị trường có thu nhập cao.

    Các ngành, các cấp tiến hành rà soát, đánh giá hiệu quả đạt được của các dự án, chương trình hỗ trợ tạo việc làm đã và đang triển khai để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục các tồn tại, hạn chế; quan tâm thu hồi kịp thời vốn của các dự án cho vay tạo việc làm đã hết thời hạn để quay vòng cho các dự án mới. Triển khai việc cho vay vốn hỗ trợ việc làm theo hướng tập trung, có hiệu quả, vững chắc; khắc phục tình trạng chia bình quân, dàn trải; ưu tiên đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa để thu hút lao động tại chỗ vào làm việc.

    Tăng cường và nâng cao chất lượng, năng lực quản lý nhà nước về lao động việc làm. Chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tăng cường thực hiện chức năng quản lý nhà nước; thường xuyên rà soát, nắm bắt tình hình tại các doanh nghiệp nhằm phát hiện và kịp thời đôn đốc, kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các sai phạm trong lĩnh vực dạy nghề, giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động, lao động và bảo hiểm xã hội.

    Xem chi tiết Văn bản tại đây./.

    Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Giang

  • Tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ nông dân tiêu thụ vải thiều

    Tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ nông dân tiêu thụ vải thiều

    Sáng ngày 16/4, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn làm việc với Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Công Thương nhằm kiểm điểm tiến độ thực hiện Kế hoạch sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm quả vải tươi xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản năm 2020; phương án quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và phương án chuyển đổi rừng của các dự án sân golf trên địa bàn tỉnh.

    Lãnh đạo Sở Công Thương báo cáo các phương án thúc đẩy tiêu thụ vải thiều. Ảnh: BGP/Trâm Anh

    Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT, năm 2020, diện tích vải toàn tỉnh là 28.126 ha, sản lượng ước đạt 160.000 tấn, trong đó vải sớm 6.000 ha, sản lượng ước đạt 45.000 tấn, vải thiều chính vụ diện tích 22.126 ha, sản lượng ước đạt 115.000 tấn. Trong đó, vải sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap 14.300 ha, vải chứng nhận GlobalGap 80 ha, cùng đó duy trì vùng vải sản xuất theo tiêu chuẩn xuất khẩu vào Mỹ, EU…

    Để chuẩn bị cho việc sản xuất vải thiều xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh đã phối hợp với UBND các huyện Lục Ngạn, Tân Yên, Cục Bảo vệ thực vật – Bộ Nông nghiệp và PTNT tiến hành rà soát, cấp mã số vùng trồng theo yêu cầu của Nhật Bản. Đến nay đã đề nghị phía Nhật Bản chấp thuận được 19 mã số vùng trồng với diện tích 103 ha và có 107 hộ tham gia. Tổ chức các lớp tập huấn cho nông dân, cấp quy trình hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh, ghi chép nhật ký sản xuất.

    Bên cạnh đó, Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Cục Bảo vệ thực vật – Bộ Nông nghiệp và PTNT mời gọi doanh nghiệp tham gia liên kết tiêu thụ vải thiều xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, đến nay đã có 3 doanh nghiệp khảo sát để ký hợp đồng.

    Thảo luận tại buổi làm việc, các đại biểu đánh giá chất lượng vải thiều năm nay rất tốt, trên 95% đậu quả. Tuy nhiên, các đại biểu cho rằng năm nay sẽ là một năm khó khăn đối với việc tiêu thụ quả vải thiều do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp.

    Giám đốc Sở Công Thương Trần Quang Tấn cho biết, đơn vị đã xây dựng các kịch bản tiêu thụ trong điều kiện dịch bệnh được kiểm soát hoặc khi dịch bệnh ngày càng phức tạp. Thị trường nội địa và thị trường Trung Quốc vẫn phải được xác định là thị trường chính. Dự kiến năm nay vải sớm thu hoạch từ 20/5 – 5/6; vải chính vụ thu hoạch từ 10/6. Nếu dịch bệnh vẫn tiếp tục, giá vải và sản lượng tiêu thụ dự kiến giảm. Do đó cần đẩy mạnh các biện pháp sơ chế, chế biến và bảo quản quả vải như sấy khô, ép nước… Tiến hành xúc tiến trực tuyến, nhắn tin quảng bá về quả vải thiều. Sử dụng mã QR để tra cứu thông tin sản phẩm thay vì phát tờ rơi quảng bá, treo biển quảng cáo. Ngược lại, các phương án về xúc tiến tiêu thụ cũng đã sẵn sàng.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc. Ảnh: BGP/Trâm Anh

    Kết luận nội dung này, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn khẳng định năm nay là một năm khủng hoảng đối với nền kinh tế nói chung và việc tiêu thụ quả vải thiều nói riêng. Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu các ngành, địa phương liên quan cần đánh giá được cụ thể về tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước năm nay, đánh giá năng lực đóng gói, bảo quản sản phẩm. Từ đó chuẩn bị các kịch bản ứng phó phù hợp. Tiếp tục chú trọng đưa vải thiều vào hệ thống siêu thị. Nghiên cứu lại các hoạt động xúc tiến, đảm bảo phù hợp trong điều kiện thực tế năm nay. Chủ động liên hệ sớm hơn với các đầu mối Trung Quốc để có phương án tiêu thụ phù hợp. Trong trường hợp bất lợi, cần có các phương án ứng phó, hướng dẫn, cảnh báo người dân tránh tình trạng bán đổ, bán tháo gây thiệt hại lớn cho người dân, thay vào đó áp dụng các phương pháp chế biến, bảo quản. Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp Sở Công Thương xây dựng báo cáo đánh giá tình hình, có kiến nghị, đề xuất UBND tỉnh.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành địa phương cần quyết tâm, tập trung cao hơn nữa với tinh thần vì bà con nông dân, góp phần giúp bà con tiêu thụ vải thiều.

    Cho ý kiến chỉ đạo về phương án Quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thời kỳ 2021 – 2020, tầm nhìn đến năm 2050, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lại Thanh Sơn yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT tiếp tục rà soát đảm bảo sự thống nhất về số liệu đánh giá hiện trạng. Tiếp tục nghiên cứu để đưa ra các đề xuất về mục tiêu, phân bổ không gian phát triển đảm bảo phù hợp với các quy hoạch khác. Cùng đó chú trọng tăng giá trị hiệu quả của ngành nông nghiệp, phát triển hạ tầng nông nghiệp, phòng chống thiên tai đảm bảo phát triển bền vững. Đảm bảo sự phát triển của ngành nông nghiệp nhưng không làm xáo trộn mục tiêu các ngành khác./.

    Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Giang

  • Bắc Giang: Lao động tự do gặp khó do dịch Covid-19

    (BGĐT) – Không có hợp đồng lao động, việc làm bấp bênh, thu nhập thấp, cuộc sống của nhiều lao động tự do ở Bắc Giang trong mùa dịch Covid-19 đang gặp nhiều khó khăn.

    Bán hoa quả ở khu vực chợ Thương (TP Bắc Giang) đã hơn 10 năm, chị Nguyễn Thị Ngân (SN 1976) ở tổ dân phố Phú Mỹ, phường Dĩnh Kế chia sẻ: Trước đây tôi phải cho hoa quả lên xe thồ, dong ruổi khắp các ngõ phố để bán. Khoảng 3 năm trở lại đây, có chỗ ngồi bán hàng ổn định, khách mua quen nên mỗi tháng trừ chi phí, tôi có khoản lãi ổn định ở mức khoảng 8 triệu đồng, đủ để trang trải cuộc sống. 

    Chị Nguyễn Thị Ngân lo lắng về thu nhập, đời sống nếu dịch kéo dài.

    Chị Nguyễn Thị Ngân lo lắng về thu nhập, đời sống nếu dịch kéo dài.

    Nhưng khoảng hai tháng nay, do tác động của dịch bệnh Covid-19, người mua thưa dần, thậm chí có hôm chỉ có vài khách, lượng hàng tiêu thụ chỉ bằng 1/10 so với trước. Bình thường, 3 chị em cùng bán, nhưng nay phải luân phiên nhau vì không có khách đồng nghĩa với thu nhập không đáng kể. Trò chuyện được biết, chồng chị Ngân làm nghề thợ xây, thời điểm này cũng không có việc làm. “Cứ mãi thế này thì tôi chẳng biết lấy đâu ra tiền để lo chi phí sinh hoạt, sắp tới hai con đi học đại học trở lại, khoản đóng học phí cũng mấy triệu đồng”, chị Ngân nói.

    Như chị Ngân, hơn một tháng nay, anh Đặng Văn Hướng (SN 1983), thị trấn Neo (Yên Dũng) làm nghề lái taxi thi thoảng mới có khách quen. Anh tâm sự: “Tôi chạy xe ôm được gần 4 năm. Từ nguồn tiết kiệm cộng với vay mượn thêm người thân, mới đây tôi mua được chiếc ô tô chạy thuê cho đỡ vất vả. Cứ nghĩ có việc đều đều thì mấy năm nữa sẽ có tiền trả nợ, ai ngờ xảy ra dịch bệnh nên phải tạm nghỉ. Nếu dịch bệnh kéo dài, tôi chẳng biết đến bao giờ mới trả hết nợ”.  

    Thực hiện quy định cách ly xã hội, các hộ kinh doanh đều đóng cửa.

    Thực hiện quy định cách ly xã hội, các hộ kinh doanh đều đóng cửa.

    Dịch Covid-19 đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó tiểu thương, hộ kinh doanh, buôn bán nhỏ, lao động tự do bị tác động mạnh. Dạo một vòng đến một số chợ ở TP Bắc Giang và trung tâm các huyện thì thấy, thực hiện quy định cách ly xã hội, hầu hết hàng quán, cửa hiệu đều đóng cửa. Riêng cơ sở kinh doanh mặt hàng, dịch vụ thiết yếu được mở cửa song với tâm lý lo sợ dịch, hầu hết người dân không ra đường, việc mua sắm cũng giảm. Tạm dừng hoạt động hoặc không có khách hàng kéo theo thu nhập giảm sút, cuộc sống của người dân gặp khó khăn. 

     

    “Để bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng khó khăn, trong khi chờ hướng dẫn của Chính phủ, các địa phương, nhất là MTTQ, các đoàn thể đẩy mạnh tuyên truyền về chính sách, tạo sự đồng thuận và thực hiện đúng mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội”, ông Nguyễn Thế Dũng, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH.

     

    Nhằm chia sẻ khó khăn, bảo đảm cuộc sống người lao động, mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 42/NQ-CP về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19. Đây được xem là “phao cứu sinh”, kịp thời giúp hàng triệu lao động thu nhập thấp có thêm điều kiện vượt qua dịch bệnh. Thực tế, nhiều gia đình nguồn thu nhập hằng tháng vốn eo hẹp, nay do tác động của dịch Covid-19 lại càng thêm khó khăn, vất vả.

    Nhóm lao động tự do chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch Covid-19.

    Nhóm lao động tự do chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch Covid-19.

    Theo Nghị quyết của Chính phủ, gói hỗ trợ 62 nghìn tỷ đồng sẽ dành cho 7 nhóm đối tượng. Ngoài lao động bị nghỉ việc, mất việc, chấm dứt hợp đồng lao động; người sử dụng lao động khó khăn về tài chính; hộ kinh doanh cá thể có thu nhập dưới 100 triệu đồng/năm; người có công; đối tượng bảo trợ xã hội; hộ nghèo, cận nghèo thì nhóm lao động tự do, không có hợp đồng lao động cũng được trợ giúp. 

    Theo ông Nguyễn Thế Dũng, Phó Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội: Dù có việc làm nhưng nhóm lao động tự do như người giúp việc gia đình, bán hàng rong, buôn bán nhỏ không có giấy phép kinh doanh, lái xe ôm, xe taxi, bốc vác, giúp việc tại các cơ sở dịch vụ… thu nhập thường bấp bênh. Thêm nữa, do không có hợp đồng lao động, không tham gia bảo hiểm xã hội nên khi mất việc làm, họ sẽ không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp hay bất cứ quyền lợi liên quan nào. Việc Chính phủ có giải pháp kịp thời hỗ trợ nhóm đối tượng này là hoàn toàn phù hợp, góp phần thiết thực bảo đảm an sinh xã hội. 

    Theo: Tường Vi 

  • Nắm cái cần nắm, buông cái cần buông, muôn đời tự tại: 5 tài sản nhất định phải đầu tư trong thời kì khủng hoảng

    Nắm cái cần nắm, buông cái cần buông, muôn đời tự tại: 5 tài sản nhất định phải đầu tư trong thời kì khủng hoảng

    Thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng tồi tệ hơn một cuộc sụp đổ tài chính, và người ta vẫn sống sót để kể lại lịch sử. Nhưng khi thảm họa ập đến, tốt hơn là chúng ta nên ở trong số những người đã sẵn sàng cho cơn bão. Hãy chủ động chuẩn bị cho mọi thay đổi có thể xảy ra chính là có thể sống đời tự tại.

    Nắm cái cần nắm, buông cái cần buông, muôn đời tự tại: 5 tài sản nhất định phải đầu tư trong thời kì khủng hoảng

    Khi đối mặt với lạm phát cực đoan, giảm phát cực đoan, hoặc tình trạng bất ổn xã hội, danh mục đầu tư nào sẽ có khả năng trụ vững? Những tài sản sau đây đã chứng minh được khả năng hoạt động tốt trong môi trường lạm phát và giảm phát, đồng thời vẫn tồn tại qua những thời kỳ bất ổn xã hội, từ Chiến tranh Ba mươi năm đến thời Đức Quốc xã.

    1. VÀNG – TÀI SẢN THỰC SỰ KHÔNG CÓ RỦI RO

    Sẽ là khôn ngoan nếu phân bổ từ 10% đến 20% danh mục tài sản có thể đầu tư cho vàng. Việc phân bổ nên có hình thức vật chất như tiền xu hoặc vàng thỏi để tránh việc chấm dứt hợp đồng sớm và thanh toán bằng tiền mặt, vấn đề nhiều khả năng sẽ ảnh hưởng đến thị trường vàng giấy trong tương lai. 

    Đảm bảo an toàn trong khâu logistics, dễ dàng tiếp cận bởi nhà đầu tư, nên được cân nhắc, nhưng tránh để trong ngân hàng, bởi vì vàng được lưu giữ tại các ngân hàng sẽ không dễ rút ra khi cần thiết nhất. Mức phân bổ trên 20% không được khuyến khích vì vàng rất dễ biến động và dễ bị thao túng và bên cạnh vàng, còn các tài sản đầu tư khác thực hiện chức năng bảo tồn tài sản tương tự.

    Chúng ta có thể nghĩ về chức năng bảo hiểm của vàng như sau: 20% danh mục đầu tư sẽ đem lại 500% lợi nhuận và cung cấp 100% khả năng phòng vệ rủi ro cho cả danh mục. Vàng hoạt động tốt trong môi trường lạm phát, cho đến khi lãi suất được nâng lên trên mức tỉ lệ lạm phát. Trong môi trường giảm phát, ban đầu giá trị danh nghĩa của vàng sẽ giảm, mặc dù nó có thể hoạt động tốt hơn các loại tài sản khác. Nếu giảm phát vẫn tiếp diễn, vàng tăng mạnh vì các chính phủ định giá lại đồng tiền giấy để tạo ra lạm phát.

    Vàng đem lại giá trị cao tính theo trọng lượng và có thể mang theo khi cần trốn chạy.

    Nắm cái cần nắm, buông cái cần buông, muôn đời tự tại: 5 tài sản nhất định phải đầu tư trong thời kì khủng hoảng - Ảnh 1.

    2. ĐẤT ĐAI – TIỀM NĂNG CHO NHIỀU MỤC ĐÍCH

    Tài sản đầu tư này bao gồm đất chưa sử dụng nhưng ở vị trí đắc địa hoặc đất có tiềm năng nông nghiệp, nhưng không bao gồm đất đã quy hoạch. Giống như vàng, đất đai sẽ hoạt động tốt trong môi trường lạm phát cho đến khi lãi suất danh nghĩa cao hơn tỉ lệ lạm phát. 

    Giá trị danh nghĩa của đất đai có thể giảm trong môi trường giảm phát, nhưng chi phí khai thác, xây dựng còn giảm nhiều hơn. Điều này có nghĩa là đất đai có thể được khai thác với giá rẻ ở đáy của giai đoạn giảm phát và mang lại lợi nhuận cao trong giai đoạn lạm phát, nhiều khả năng sẽ đến ngay sau giảm phát. 

    Tòa nhà Empire State và Rockefeller Center, cả hai đều ở thành phố New York, được xây dựng trong thời kỳ Đại suy thoái và hưởng lợi từ chi phí nhân công thấp và vật liệu rẻ vào thời điểm đó. Từ đó đến nay, hai dự án này đã chứng tỏ là những dự án đầu tư tuyệt vời.

    3. TÁC PHẨM MĨ THUẬT – GIÁ TRỊ KHÔNG BỊ THAO TÚNG

    Loại tài sản này bao gồm các bức tranh và bản vẽ có chất lượng bảo tàng, nhưng không bao gồm ô tô, rượu, hoặc các vật lưu niệm. Tác phẩm mỹ thuật cũng đem lại lợi nhuận như vàng trong cả hai môi trường lạm phát và giảm phát, nhưng lại không bị thao túng như vàng. Các ngân hàng trung ương không hề quan tâm đến chuyện giá cả tăng bất thường trong thị trường nghệ thuật và cũng không can thiệp để ngăn chặn điều đó. 

     

    Các nhà đầu tư nên tập trung vào các họa sĩ nổi tiếng, tránh những trường phái có thể không được ưa chuộng. Tranh cũng có thể mang theo người và có giá trị cực kỳ cao tính theo trọng lượng. Một bức tranh trị giá 10 triệu USD nặng khoảng 2 pound, tức là trị giá đến 312.500 USD/ounce, gấp hơn 200 lần giá trị của vàng tính theo trọng lượng, và sẽ không bị máy dò kim loại phát hiện. 

    Nghệ thuật chất lượng cao có thể mua được với số tiền thấp hơn nhiều so với 10 triệu thông qua các phương tiện đầu tư chung và mang lại lợi nhuận cực cao, mặc dù những phương tiện này thiếu tính thanh khoản và tính linh hoạt của quyền sở hữu tác phẩm nghệ thuật.

    Nắm cái cần nắm, buông cái cần buông, muôn đời tự tại: 5 tài sản nhất định phải đầu tư trong thời kì khủng hoảng - Ảnh 2.

    4. CÁC QUỸ THAY THẾ – CỘT TRỤ TRONG BẤT ỔN

    Danh mục này bao gồm các quỹ đầu cơ và quỹ cổ phần tư nhân với các chiến lược cụ thể. Những chiến lược quỹ đầu cơ có thể đứng vững trong môi trường lạm phát, giảm phát và bất ổn xã hội bao gồm chiến lược vốn cổ phần dài hạn, vĩ mô toàn cầu và tài sản hữu hình nhắm vào tài nguyên thiên nhiên, kim loại quý, nước hoặc năng lượng. 

    Các chiến lược cổ phần tư nhân cũng nên bao gồm các tài sản hữu hình, năng lượng, vận tải và các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các quỹ dựa trên các cổ phiếu tài chính, các thị trường mới nổi, các khoản nợ công và các công cụ tín dụng mang lại rủi ro quá mức cho những con đường phía trước. Các quỹ đầu cơ và quỹ cổ phần tư nhân cung cấp mức độ thanh khoản khác nhau, mặc dù một số quỹ nhất định có thể không thanh khoản trong 5 đến 7 năm. 

    Việc lựa chọn người quản lý có tầm quan trọng sống còn, và nói luôn dễ hơn làm. Sau khi cân nhắc kỹ, bạn nên đưa các quỹ này vào danh mục đầu tư vì lợi ích của sự đa dạng hóa và một nhà quản lý tài năng sẽ có trọng lượng hơn nhiều so với việc thiếu tính thanh khoản.

    5. TIỀN MẶT – LỰA CHỌN ĐÁNG NGẠC NHIÊN

    Có vẻ như đây là một sự lựa chọn đáng ngạc nhiên trong một thế giới bị đe doạ bởi lạm phát phi mã và những vụ sụp đổ tiền tệ. Nhưng tiền mặt vẫn có chỗ đứng riêng, ít nhất là trong thời gian này, vì nó là một hàng rào chống giảm phát tuyệt vời và có khả năng tích hợp tùy chọn, cho phép chủ sở hữu có thể xoay qua các tài sản khác ngay tại thời điểm có biến cố. Đưa tiền mặt vào danh mục đầu tư cũng làm giảm khả năng biến động của danh mục, ngược lại với đòn bẩy. 

    Các nhà đầu tư đang tìm kiếm đồng tiền lý tưởng có thể xem xét đồng đô-la Singapore, đồng đô-la Canada, đồng đô-la Mỹ và đồng euro. Tiền mặt có thể không phải là khoản đầu tư tốt nhất sau một thảm họa, nhưng nó có thể phục vụ nhà đầu tư một cách hiệu quả cho đến khi thảm họa mới xuất hiện. Tất nhiên, thách thức dành cho nhà đầu tư là phải chú ý đến các chỉ dẫn và cảnh báo, kịp thời chuyển đổi sang một trong những tài sản thay thế đã nói trên.

    Nhìn chung, một danh mục bao gồm 20% vàng, 20% đất đai, 10% tác phẩm mỹ thuật, 20% quỹ thay thế và 30% tiền mặt sẽ là sự kết hợp tối ưu để bảo tồn tài sản trong điều kiện lạm phát, giảm phát và bất ổn xã hội, đồng thời  mang lại lợi nhuận điều chỉnh theo rủi ro cao và tính thanh khoản hợp lý. Nhưng không có danh mục nào thiết kế cho những mục tiêu này mà lại hiệu quả cho một nhà đầu tư “mua và giữ”. Danh mục này phải được quản lý tích cực.

    Nắm cái cần nắm, buông cái cần buông, muôn đời tự tại: 5 tài sản nhất định phải đầu tư trong thời kì khủng hoảng - Ảnh 3.

    Vì các chỉ dẫn và cảnh báo ngày càng trở nên phổ biến, và khi có đủ lý do để xác định rằng một khả năng sẽ xảy ra thì danh mục đầu tư phải được sửa đổi một cách hợp lý. Nếu giá vàng tăng lên đến 9.000 USD/ounce, thì có lẽ đây là lúc để bán vàng và mua thêm đất. Nếu lạm phát xuất hiện  nhanh hơn dự kiến, sẽ hợp lý nếu chuyển đổi tiền mặt sang vàng. Một quỹ cổ phần tư nhân hoạt động tốt trong 5 năm có thể được bán đi nếu không có kế hoạch tái đầu tư, vì tình hình có thể trở nên nguy hiểm hơn sau 5 năm. Không ai biết trước được kết quả chính xác và hiệu quả hoạt động của danh mục, vì vậy không ngừng chú ý đến bảy dấu hiệu kể trên và linh hoạt trong tầm nhìn.

    Thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng tồi tệ hơn một cuộc sụp đổ tài chính, và người ta vẫn sống sót để kể lại lịch sử. Nhưng khi thảm họa ập đến, tốt hơn là chúng ta nên ở trong số những người đã sẵn sàng cho cơn bão. Chúng ta không bất lực và có thể bắt đầu ngay từ bây giờ để chuẩn bị đối phó với những thử thách, rủi ro lúc nào cũng có thể xảy đến.

    Năm tài sản trên đây sẽ là một sự đảm bảo về mặt vật chất cho bất kì ai khi đứng trước nguy cơ, rủi ro mà thị trường mang lại. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả, tài sản đơn thuần chỉ là tài sản, bản thân nó không lại được một sự bình ổn nếu chúng ta không có một lí trí tỉnh táo, sáng suốt để nhìn nhận. Hãy có tầm nhìn, có sự chủ động và lựa chọn khôn ngoan, đối mặt với khó khăn bằng sự vững mạnh trong chính mình, biết rõ cái gì nên nắm, cái gì nên buông, ta mới có thể sống một đời tự tại. 

  • Quyền lợi của NLĐ bị ngừng việc, mất việc do dịch Covid-19

    Quyền lợi của NLĐ bị ngừng việc, mất việc do dịch Covid-19

    Khi bị ngừng việc, tiền lương của người lao động trả theo thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng

    Quyền lợi của NLĐ bị ngừng việc, mất việc do dịch Covid-19

    Ông Trần Văn Triều, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật LĐLĐ TP HCM, đã trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động về các quy định pháp luật hiện hành về giải quyết chế độ cho người lao động bị ngừng việc , thôi việc, mất việc.

    Phóng viên: Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, có khá nhiều doanh nghiệp (DN) phải thu hẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động và cho người lao động (NLĐ) tạm ngừng việc. Trường hợp này, tiền lương của NLĐ được tính ra sao, thưa ông?

    – Ông TRẦN VĂN TRIỀU: Theo quy định tại khoản 3, điều 98 Bộ Luật Lao động (BLLĐ), nếu NLĐ phải ngừng việc vì các nguyên nhân khách quan như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế, thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Như vậy, trong trường hợp DN cho NLĐ ngừng việc vì lý do dịch Covid-19 thì tiền lương của NLĐ sẽ trả theo thỏa thuận giữa 2 bên nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.

     Quyền lợi của NLĐ bị ngừng việc, mất việc do dịch Covid-19  - Ảnh 1.

    Trường hợp NLĐ bị cách ly theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền thì DN có phải trả lương cho họ không?

    – Theo hướng dẫn tại Công văn 1064/LĐTBXH-QHLĐTL của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB-XH) thì đối với trường hợp NLĐ phải ngừng việc do tác động trực tiếp của dịch Covid-19 như lao động là người nước ngoài trong thời gian chưa được quay trở lại DN làm việc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; NLĐ phải ngừng việc trong thời gian thực hiện cách ly theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; NLĐ phải ngừng việc do DN hoặc bộ phận DN không hoạt động được vì chủ sử dụng lao động hoặc những NLĐ khác cùng DN, bộ phận DN đó đang trong thời gian phải cách ly hoặc chưa được quay trở lại DN làm việc, thì tiền lương của NLĐ trong thời gian ngừng việc thực hiện theo khoản 3, điều 98 BLLĐ như nêu ở trên.

    Hiện một số DN gặp khó khăn về nguồn nguyên vật liệu, đơn hàng, dẫn đến thời gian ngừng việc kéo dài và dù đã cố gắng nhưng vẫn không còn khả năng chi trả lương chờ việc cho NLĐ. Trong trường hợp này, DN phải giải quyết thế nào, thưa ông?

     

    – Nếu DN rơi vào tình huống thời gian ngừng việc kéo dài, ảnh hưởng đến khả năng chi trả thì có thể tiến hành thỏa thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động (HĐLĐ) với NLĐ theo quy định tại điều 32 BLLĐ. Trường hợp DN buộc phải thu hẹp sản xuất, dẫn tới giảm chỗ làm việc thì thực hiện sắp xếp lao động theo quy định tại điều 38 hoặc điều 44 BLLĐ.

     Quyền lợi của NLĐ bị ngừng việc, mất việc do dịch Covid-19  - Ảnh 2.

    Doanh nghiệp phải bảo đảm quyền lợi người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 (ảnh có tính minh họa) Ảnh: AN KHÁNH

    Như vậy, những DN bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ?

    – Điều 38 BLLĐ quy định về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người sử dụng lao động có bao gồm trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc. Mặt khác, theo khoản 2, điều 12 Nghị định 05/2015/NĐ-CP thì lý do bất khả kháng thuộc một trong các trường hợp: địch họa, dịch bệnh hay di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, nếu bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 thì DN có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ. Nhưng cần lưu ý, khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ trong trường hợp này, DN phải báo cho NLĐ biết trước ít nhất 45 ngày đối với HĐLĐ không xác định thời hạn; ít nhất 30 ngày đối với HĐLĐ xác định thời hạn và NLĐ được hưởng trợ cấp thôi việc (nếu có).

    Hiện nay đã xuất hiện tình trạng một số DN lợi dụng tình hình dịch để đơn phương chấm dứt HĐLĐ vì lý do bất khả kháng với lao động lớn tuổi. Ông có ý kiến gì về tình trạng này?

    – Hướng dẫn tại Công văn 1064/LĐTBXH-QHLĐTL có nêu “Nếu trong trường hợp DN gặp khó khăn kéo dài thì có quyền áp dụng điều 38 và điều 44 của BLLĐ để cho NLĐ thôi việc”.

    Tuy nhiên, công văn lại không nói rõ khái niệm thế nào là “khó khăn kéo dài” cũng như trình tự, thủ tục và điều kiện áp dụng nên sẽ phát sinh tình trạng DN lạm dụng để né chi trả các khoản trợ cấp mất việc hay bồi thường vì đơn phương chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ. Do vậy, để bảo đảm quyền lợi cho các bên liên quan, Bộ LĐ-TB-XH cần có hướng dẫn cụ thể đối với quy định này; đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với NLĐ bị ngừng việc, thôi việc…, tránh trường hợp DN lợi dụng để cắt giảm quyền lợi của NLĐ, chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Các cấp Công đoàn cần tăng cường tuyên truyền pháp luật, tìm các giải pháp hỗ trợ DN vượt khó, động viên NLĐ đồng lòng chia sẻ để cùng DN vượt qua giai đoạn khó khăn này.

    Theo Mai Chi

    Theo NLĐCopy link

  • Chuyên gia Đức hiến kế khởi động lại nền kinh tế hậu Covid-19: Phải làm như đang chạy marathon chứ không phải đua nước rút!

    Chuyên gia Đức hiến kế khởi động lại nền kinh tế hậu Covid-19: Phải làm như đang chạy marathon chứ không phải đua nước rút!

    Làm sao để khởi động lại nền kinh tế sau một thời gian bị phong toả bởi dịch Covid-19? Câu trả lời là phải rất, rất thận trọng.Chuyên gia Đức hiến kế khởi động lại nền kinh tế hậu Covid-19: Phải làm như đang chạy marathon chứ không phải đua nước rút!

    Dù hiện tại virus corona vẫn tiếp tục lan rộng ra toàn thế giới nhưng các chính phủ ở châu Âu đã bắt đầu nghĩ về các kịch bản mở cửa lại nhà máy, văn phòng, trường học. Vào ngày thứ 2, chính phủ Áo nói rằng họ sẽ dần dàn mở cửa lại các cửa hàng sau dịp lễ Phục sinh – và đây là nước đầu tiên ở châu Âu làm như vậy.

    Áp lực đang đè nặng lên vai các chính phủ về việc giải thích các kế hoạch bởi những chi phí kinh tế rất lớn cho các biện pháp nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh. Nó còn được kết hợp với nỗi lo sợ rằng nguồn cung cấp thức ăn và chăm sóc sức khỏe sẽ có thể bị phá hủy nếu các lệnh cấm bị kéo dài quá lâu.

    Trong khi lệnh phong tỏa vẫn duy trì trong nhiều tuần và ở một vài nước thậm chí là nhiều tháng – các kế hoạch chi tiết được làm ngay từ bây giờ có thể giúp bảo vệ những người dễ bị tổn thương và giúp nền kinh tế hồi phục nhanh chóng khi lệnh cấm bị dỡ bỏ. Dẫu vậy, việc này cần được tiến hành một cách hết sức thận trọng bởi chỉ cần thực hiện sai 1 bước cũng có thể khiến thảm họa trở nên tồi tệ hơn, những lệnh phong tỏa tiếp theo sẽ được thực hiện và cuộc sống của người dân, nền kinh tế sẽ tiếp tục chịu thiệt hại nặng nề.

    Tại Đức, nơi có 100.000 người dương tính với virus Sars-coV-2 và gần 1.600 người thiệt mạng, một nhóm các chuyên gia phân tích, luật sư và chuyên gia y tế đã đưa ra đề xuất kế hoạch phục hồi nền kinh tế lớn nhất châu Âu – cho phép những ngành công nghiệp đặc biệt và công nhân sẽ hồi phục lại hoạt động trong khi đó vẫn bảo đảm làn sóng virus thứ 2 không quay trở lại.

    Chuyên gia Đức hiến kế khởi động lại nền kinh tế hậu Covid-19: Phải làm như đang chạy marathon chứ không phải đua nước rút! - Ảnh 1.

    Có hoảng 12 chuyên gia viết trong báo cáo. Tất cả đều không kỳ vọng có vắc xin hay một biện pháp chữa trị hữu hiệu nào cho virus corona có thể có trước năm 2021. Chính vì vậy, họ cho rằng nước Đức nên tiếp cận cách chiến đấu chống lại bệnh tật trên tinh thần của một cuộc chạy marathon, chứ không phải một cuộc chạy nước rút.

    “Các biện pháp trong tương lai phải được thiết kế và chuẩn bị theo cách một mặt đảm bảo chăm sóc sức khỏe tốt và mặt khác vẫn duy trì được trong những khoảng thời gian cần thiết. Quá trình này phải được bắt đầu ngay lập tức trong hệ thống chính trị, các công ty và tổ chức khác”.

    Hiện tại Đức đang buộc các trường học, nhà hàng, hoạt động thể thao ngừng hoạt động cho tới ít nhất là 20/4 khiến nền kinh tế vốn đang trên bờ vực suy thoái rơi vào hố sâu. Người phát ngôn của chính phủ Đức nói vào thứ 2 rằng ông không thể cung cấp thời gian chính xác để dỡ bỏ lệnh cấm. Trong khi đó GDP của nước này dự đoán sẽ giảm 20% trong năm nay nếu việc phong tỏa kéo dài 3 tháng.

    Làm thế nào để khởi động lại nền kinh tế?

    Chính phủ Đức đang đã công bố gói cứu trợ nền kinh tế trị giá 750 tỷ euro (tương đương 825 tỷ USD) gồm các biện pháp như thúc đẩy cho vay doanh nghiệp, mua cổ phần của các công ty và hỗ trợ cho các lao động mất việc. Gói này là một trong những gói cứu trợ lớn bậc nhất trên thế giới.

    Nhóm các chuyên gia đưa ra báo cáo này (Ifo) nói rằng quốc gia này nên thành lập một đội đặc nhiệm quốc gia gồm các chuyên gia để đưa ra những đề xuất về việc khi nào và bằng cách nào gỡ bỏ lệnh cấm và thời điểm thích hợp để các ngành công nghiệp bắt đầu khởi động lại là bao giờ.

    Các ngành công nghiệp như viễn thông và sản xuất ô tô – những thứ tạo thêm nhiều giá trị nhất cho nền kinh tế cần phải được ưu tiên. Những công việc nào có thể làm ở nhà nên được tiếp tục cho làm ở nhà. Y tế và trường học sẽ phải mở lại tương đối nhanh bởi người trẻ hiếm có triệu chứng bệnh nghiêm trọng và các phụ huynh sẽ không thể quay trở lại làm việc như bình thường nếu trường học vẫn tiếp tục đóng cửa.

    Chưa nghĩ tới việc tổ chức các sự kiện lớn

    Các công ty về sản phẩm chăm sóc sức khỏe hay linh kiện cũng sẻ mở lại nhanh chóng trong khi đó khách sạn, nhà hàng nên được cân nhắc “rất thận trọng và có sự quản lý” nếu muốn hoạt động trở lại. Các câu lạc bộ vẫn nên tiếp tục đóng cửa và những sự kiện lớn có đông khán giả chưa nên tổ chức vội.

     

    Chuyên gia Đức hiến kế khởi động lại nền kinh tế hậu Covid-19: Phải làm như đang chạy marathon chứ không phải đua nước rút! - Ảnh 2.

    Các chuyên gia nói rằng có thể các tiêu chuẩn sẽ khác nhau tại những khu vực khác nhau. Lệnh cấm có thể được xóa bỏ đầu tiên ở những nơi có tỷ lệ nhiễm bệnh thấp hoặc rủi ro lây lan yếu như các vùng nông thôn. Sau đó, các khu vực có đông dân cư có thể được cho phép hoạt động trở lại nhưng với một vài điều kiện nhất định.

    Dĩ nhiên, để làm được những điều đó cần sự hợp tác và việc xét nghiệm trên quy mô lớn đối với virus corona.

    Các chuyên gia cũng đề xuất rằng Đức nên tăng cường sản xuất các sản phẩm quần áo bảo hộ và khẩu trang, thuốc và vắc xin và thiết lập cả một nền tảng công nghệ thông tin cho các kế hoạch khôi phục nền kinh tế.

    Bài học từ Trung Quốc

    Các quốc gia đang nỗ lực khởi động lại nền kinh tế đồng thời ngăn chặn làn sóng thứ 2 của virus có thể tìm đến Trung Quốc như một bài học hữu hiệu.

    Quốc gia này đã trải qua sự sụt giảm nền kinh tế lần đầu tiên trong vài thập kỷ trong quý đầu tiên của năm nay sau khi áp dụng những lệnh phong tỏa nghiêm ngặt nhằm làm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh.

    Trung Quốc đã tiến hành ngay những kế hoạch nhằm cứu nền kinh tế, công bố các chính sách và chiến dịch để thúc đẩy người dân quay trở lại làm việc, bảo vệ nhiều công ty khỏi nguy cơ phá sản. Bắc Kinh đã chi hàng tỷ USD vào thiết bị y tế và chữa trị và bơm tiền và các dự án cơ sở hạ tầng để tạo ra việc làm. Họ cũng gỡ bỏ lệnh cấm và cho phép người dân đi lại tự do trong khu vực virus khởi phát.

    Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để nói về kết quả.

    Cần phải tạo ra sự cân đối

    Tiến sỹ Anthony Fauci – chuyên gia dịch bệnh truyền nhiễm hàng đầu của Mỹ nói rằng dù sức khỏe cộng đồng là ưu tiên hàng đầu nhưng việc giữ cho xã hội và nền kinh tế bị phong tỏa quá lâu sẽ tạo ra những hậu quả tiêu cực không thể lường trước được.

    Trung tâm nghiên cứu kinh doanh và kinh tế Anh dự đoán rằng thiệt hại cho nền kinh tế nước này đạt mức 2,4 tỷ bảng (2,9 tỷ USD) mỗi ngày vì lệnh phong toả. “Nếu việc này kéo dài trong một thời gian dài, nó sẽ ảnh hưởng tới khả năng hoạt động hệ thống chăm sóc sức khỏe hiệu quả”, cựu Thủ tướng Anh Tony Blair nói.

    Làm sao để cân bằng được mọi mặt là bài toán đau đầu với nhiều quốc gia trên thế giới khi dịch virus vẫn lan rộng.

    “Mọi người phụ thuộc vào chuỗi cung ứng cho thực phẩm và chất dinh dưỡng. Họ có thể đói, có thể bị bệnh. Nếu sự gián đoạn đến một điểm tồi tệ nào đó, việc này sẽ thành thảm hoạ. Chúng ta cần phải đảm bảo rằng kế hoạch đưa ra có thể cân đối được mọi mặt”.

    Vân Đàm Theo Trí Thức Trẻ/CNN

  • Malaysia cùng nhiều nước Đông Nam Á tung hàng tỷ USD cứu nền kinh tế

    Malaysia cùng nhiều nước Đông Nam Á tung hàng tỷ USD cứu nền kinh tế

    Gói cứu trợ của các nước chủ yếu nhắm tới hỗ trợ người dân, doanh nghiệp chịu thiệt hại nặng vì Covid-19.Malaysia cùng nhiều nước Đông Nam Á tung hàng tỷ USD cứu nền kinh tế

    Dịch Covid-19 đang khiến hàng loạt nền kinh tế lao đao và nhiều chính phủ đang phải tung tiền để hỗ trợ người dân cũng như doanh nghiệp. Mới đây, Malaysia cũng đã phải tung ra gói cứu trợ thứ 3 trị giá 10 tỷ Ringgit, tương đương 2,3 tỷ USD nhằm cứu nền kinh tế tránh khỏi cuộc suy thoái do lệnh cách ly kéo dài.

    Gói cứu trợ này chủ yếu nhắm đến những doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), vốn chiếm đến 98% nền kinh tế Malaysia.

    Ngoài ra, gói cứu trợ cũng bao gồm khoản hỗ trợ lương cho doanh nghiệp trị giá 7,9 tỷ Ringgit. Chính phủ cũng cam kết giảm 2% lãi suất cho SME và giảm thuế thu nhập cho những chủ đất hạ tiền thuê.

    Theo lệnh cách ly, công dân Malaysia bị cấm ra khỏi nhà trừ trường hợp cần thiết cho đến giữa tháng 4/2020. Tính đến thời điểm hiện nay, khoảng 6.048 người đã bị bắt vì vi phạm lệnh cấm trên.

    Malaysia cùng nhiều nước Đông Nam Á tung hàng tỷ USD cứu nền kinh tế - Ảnh 1.

    Hiện Malaysia có hơn 3.700 trường hợp nhiễm bệnh và 62 ca tử vong, mức cao nhất ở Đông Nam Á.

    Tính cả 3 gói cứu trợ, chính phủ Malaysia đã tung tổng cộng 260 tỷ Ringgit, tương đương 59,6 tỷ USD hay khoảng 5% GDP để cứu nền kinh tế.

     

    Theo Chuyên gia kinh tế Yeah Kim Leng của trường đại học Sunway, gói cứu trợ của chính phủ sẽ thúc đẩy các hộ gia đình chi tiêu cũng như giữ việc làm cho lao động, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khủng hoảng.

    Ngoài Malaysia, một số quốc gia trong khu vực cũng đang tung các gói cứu trợ để giúp người dân cùng doanh nghiệp vượt qua khủng hoảng.

    Chính phủ Philippines mới đây cũng đã tung 3,9 tỷ USD trong khi Indonesia tuyên bố 3 gói cứu trợ với tổng trị giá 12 tỷ USD.

    Singapore mới đây cũng đã tung gói cứu trợ thứ 3, đưa tổng số tiền nước này chi cho hỗ trợ lên 42 tỷ USD. Trong khi đó Thái Lan cũng chi khoảng 3,6 tỷ USD để cứu nền kinh tế.

    Vào tháng 3/2020, Ngân hàng thế giới (World Bank) đã hạ dự báo tăng trưởng của khu vực Đông Nam Á, đồng thời cảnh báo về một cuộc suy thoái kinh tế tại Malaysia lẫn Thái Lan.

    Theo: Cafebiz

  • Ngân hàng giảm lương, tung các gói cho vay ‘cứu’ doanh nghiệp

    Một số ngân hàng vừa có kế hoạch giảm hàng loạt chi phí như Lương cán bộ, nhân viên, chấp nhận hy sinh lợi nhuận và tung gói tín dụng hàng chục nghìn tỷ đồng “cứu” doanh nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19.

    Ngân hàng HDBank thông báo giảm thu nhập 10 – 25% để đối phó với tình hình phức tạp của dịch bệnh Covid-19, áp dụng cho những nhân viên có tổng lương từ 10 triệu trở lên. Mức giảm lớn nhất 25% được áp dụng cho người có tổng thu nhập cao hơn 80 triệu đồng. Việc điều chỉnh thực hiện từ tháng 4/2020 cho đến khi có thông báo thay thế.

    Doanh nghiệp “dễ thở” hơn nhờ được cơ cấu thời hạn trả nợ, giảm lãi suất để có tiền duy trì hoạt động.

    Còn tại SHB, ngân hàng sẽ giảm chi phí hoạt động tối thiểu 10% đồng nghĩa lãnh đạo Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban điều hành và cán bộ quản lý cấp cao tự nguyện giảm thu nhập 50% cho đến khi công bố hết dịch; các cấp quản lý từ phó phòng trở lên giảm từ 10 – 30% tùy theo mức thu nhập. Để tiết giảm chi phí, đối với dịch bệnh có nguy cơ kéo dài, một số ngân hàng khác cũng đang có kế hoạch giảm tương tự như trên.

    Động thái này nhằm thực hiện những Chỉ thị trước đó của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng, yêu cầu các tổ chức tín dụng (TCTD) xây dựng kế hoạch đối phó và khắc phục khó khăn do dịch Covid-19. Một trong những biện pháp được người đứng đầu ngành ngân hàng đưa ra là giảm chi thưởng cũng như điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, kế hoạch tài chính phù hợp thực tế trước khi đại hội cổ đông. Đặc biệt, trước mắt ngân hàng không chia cổ tức bằng tiền mặt để giữ lại tối đa nguồn lực hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.

    Đại diện VietinBank cho biết: Ngân hàng tiếp tục giảm 2% lãi suất cho vay, đưa ra chương trình tín dụng 60.000 tỷ đồng hỗ trợ khách hàng kể từ tháng 4/2020. Cụ thể: VietinBank đặc biệt ưu đãi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cung ứng các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho người dân trong giai đoạn đại dịch Covid-19.

    “VietinBank đã cơ cấu, giữ nguyên nhóm nợ khoảng 350 khách hàng với dư nợ khoảng 18.000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2% dư nợ của VietinBank. Bên cạnh cơ cấu nợ, miễn giảm hỗ trợ lãi suất thì việc giảm phí cho các doanh nghiệp cũng được VietinBank thực hiện với khách hàng. Mức phí giảm khoảng 20 – 50%. Cá biệt có một số loại phí, đặc biệt là các phí về tài trợ thương mại có thể giảm tới 100% so với trước đây để hỗ trợ cho các doanh nghiệp”, ông Lê Đức Thọ – Chủ tịch HĐQT VietiinBank nói.

    Phía BIDV cũng giảm đến 2%/năm lãi suất cho vay VND đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Đối với dư nợ hiện hữu, BIDV tiếp tục cơ cấu lại nợ, giãn thời gian trả nợ gốc, lãi và giảm đến 2%/năm (đối với các khoản vay bằng VND) cho các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực, ngành nghề bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

    BIDV cũng giảm 1%/năm đối với các khoản vay bằng VND cho khách hàng cá nhân vay tiêu dùng tín chấp trả nợ bằng lương do ảnh hưởng của dịch làm ảnh hưởng đến thu nhập. Đặc biệt, trường hợp người lao động mất việc được hưởng trợ cấp 1,8 triệu đồng theo định hướng của Chính phủ, BIDV sẽ giảm 2% lãi suất; đồng thời ân hạn chưa thu gốc và lãi đến hạn của các khách hàng này trong thời gian còn dịch.

    “Đối với nhu cầu vay mới, BIDV có các gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 có nhu cầu vay mới với lãi suất giảm 2% so với lãi suất cho vay cùng loại ngày 31/12/2019. Thời gian triển khai giảm lãi suất cho vay (gồm cả dư nợ hiện hữu và dư nợ mới) áp dụng đến ngày liền kề sau 3 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid-19”, đại diện BIDV nói.

    Theo BIDV, với quy mô dư nợ lớn, ở đợt giảm lãi suất cho vay này, BIDV dự kiến giảm từ 2.400 đến 3.000 tỷ đồng thu nhập để hỗ trợ khách hàng khắc phục khó khăn do ảnh hưởng của Covid-19.

    Theo ước tính của Vietcombank, quy mô dư nợ của các khoản vay được giảm lãi suất khoảng 30.000 tỷ đồng, của khoảng 300 khách hàng là tổ chức kinh doanh lớn. Số tiền giảm lãi suất mà Vietcombank chia sẻ với doanh nghiệp ước khoảng 300 – 450 tỷ đồng, nếu tính cả tiền lãi khách hàng cá nhân đang vay được giảm thì con số hỗ trợ còn lớn hơn. Vietcombank đặt mục tiêu lợi nhuận trong năm 2020 tăng trưởng 15% so với năm 2019. Tuy nhiên, kịch bản lợi nhuận này chưa đo lường đến những thiệt hại do Covid-19.

    Nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, MSB đã triển khai gói tín dụng 7.000 tỷ đồng với lãi suất hấp dẫn, áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn tiêu dùng, kinh doanh từ nay đến ngày 31/12/2020. Gói tín dụng 7.000 tỷ được thiết kế cho khách hàng cá nhân vay tín chấp và vay thế chấp. Đối với vay tín chấp, MSB áp dụng lãi suất chỉ 12.99% trong 12 tháng đầu. Đối với vay thế chấp, MSB mang tới những lựa chọn đa dạng về lãi suất. Theo đó, khách hàng được lựa chọn lãi suất ưu đãi 6.99%/năm trong 06 tháng, 7.99%/năm trong 12 tháng, hoặc 8.75%/năm trong 18 tháng đầu.

    Phía ngân hàng Kienlongbank đang hỗ trợ bà con bị ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn bằng việc giảm lãi suất vay 3% đối với khách hàng. Thời gian áp dụng giảm lãi vay từ ngày 1/4 đến hết ngày 30/6, đối với những khách hàng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ưu tiên 5 tỉnh đã công bố tình huống khẩn cấp là: Kiên Giang, Bến Tre, Cà Mau, Tiền Giang và Long An) để hỗ trợ kịp thời và cấp bách đến những khách hàng bị thiệt hại do ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn.

    Không chỉ vậy, Ban Lãnh đạo Kienlongbank còn giảm đến 25%/tổng số tiền lãi phải thanh toán cho hơn 85.000 khách hàng đang vay vốn trả góp theo ngày tại Kienlongbank, kể từ ngày 3/4 cho đến 30/6.

    Theo Tổng Giám đốc của Kienlongbank, Trần Tuấn Anh, đa số khách hàng vay vốn trả góp ngày của Kienlongbank là những người có thu nhập thấp, vừa đủ để trang trải cuộc sống hàng ngày như: Bán vé số, chạy xe ôm, bán quán nước, bán quán ăn và buôn bán nhỏ, lẻ… Trong thời gian cao điểm phòng, chống dịch Covid-19, họ thực sự gặp nhiều khó khăn và rất cần sự hỗ trợ từ nhiều phía.

    Sau gói hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn được triển khai ngay từ đầu mùa dịch Covid-19, VPBank đã công bố chương trình đồng hành thứ 2 với mức giảm lãi suất tới 2% cho các khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chương trình được áp dụng cho cả khách hàng hiện hữu lẫn khách hàng mới có nhu cầu vay vốn tại VPBank.

    Cụ thể: Đối với các khoản vay có tài sản bảo đảm, mức giảm lãi suất tối đa 1,5%/năm đối với khoản vay VND, 1%/năm đối với khoản vay USD. Đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm, VPBank áp dụng mức giảm lãi suất tối đa 2%/năm đối với khoản vay VND và 1%/năm đối với các khoản vay USD.

    Những doanh nghiệp được hưởng những ưu đãi này cần đáp ứng một số yêu cầu như: Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, nhà hàng, khách sạn, phương tiện vận tải; có hoạt động xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Mỹ, châu Âu chiếm tối thiểu 50% doanh thu của doanh nghiệp năm 2019; có nguồn nguyên liệu chiếm tối thiểu 50% từ thị trường Trung Quốc, Mỹ, châu Âu; cũng như gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ do ảnh hưởng của dịch Covid-19 theo đánh giá của đơn vị kinh doanh.

    Theo báo cáo của NHNN về kết quả thực hiện hỗ trợ tín dụng tính từ 23/1 – 28/3 cho thấy, các tổ chức tín dụng đã bước đầu cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho trên 12.000 khách hàng với dư nợ 13.500 tỷ đồng; đã và đang xem xét miễn giảm lãi cho gần 36.000 khách hàng với dư nợ trên 91.000 tỷ đồng.

    Các TCTD cũng tích cực triển khai các chương trình, gói sản phẩm tín dụng ưu đãi lãi suất thấp hơn so với lãi suất thông thường từ 0,5 – 3% (khoảng 285.000 tỷ đồng, chủ yếu cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa…). Kết quả, đến nay các tổ chức tín dụng đã cho vay mới đối với 47.000 khách hàng với doanh số cho vay đạt gần 80.000 tỷ đồng.

    “Trong hoàn cảnh này doanh nghiệp càng đánh giá cao sự hỗ trợ của phía ngân hàng. Vấn đề đặt ra là cần sự phối hợp giữa ngân hàng và doanh nghiệp để làm sao các chính sách, giải pháp đúng và trúng đối tượng, tránh việc trục lợi chính sách. Việc giãn nợ, có nghĩa là doanh nghiệp đến thời kỳ trả nợ mà chưa trả được nhưng ngân hàng chưa chuyển nhóm nợ thành nợ xấu, giúp doanh nghiệp tập trung sản xuất kinh doanh. Với giảm lãi suất giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí trong sản xuất, vượt qua khó khăn. Khi doanh nghiệp đưa ra những khó khăn của mình phải đúng và minh bạch thông tin, để các ngân hàng trực tiếp cho vay nhìn thấy. Còn doanh nghiệp nào ỷ lại, trục lợi, thụ động thì không nên”, ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa nói.

    Theo TTXVN

  • Ngân hàng giảm lương, tung các gói cho vay ‘cứu’ doanh nghiệp

    Một số ngân hàng vừa có kế hoạch giảm hàng loạt chi phí như Lương cán bộ, nhân viên, chấp nhận hy sinh lợi nhuận và tung gói tín dụng hàng chục nghìn tỷ đồng “cứu” doanh nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19.

    Doanh nghiệp “dễ thở” hơn nhờ được cơ cấu thời hạn trả nợ, giảm lãi suất để có tiền duy trì hoạt động.

    Ngân hàng HDBank thông báo giảm thu nhập 10 – 25% để đối phó với tình hình phức tạp của dịch bệnh Covid-19, áp dụng cho những nhân viên có tổng lương từ 10 triệu trở lên. Mức giảm lớn nhất 25% được áp dụng cho người có tổng thu nhập cao hơn 80 triệu đồng. Việc điều chỉnh thực hiện từ tháng 4/2020 cho đến khi có thông báo thay thế.

    Còn tại SHB, ngân hàng sẽ giảm chi phí hoạt động tối thiểu 10% đồng nghĩa lãnh đạo Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban điều hành và cán bộ quản lý cấp cao tự nguyện giảm thu nhập 50% cho đến khi công bố hết dịch; các cấp quản lý từ phó phòng trở lên giảm từ 10 – 30% tùy theo mức thu nhập. Để tiết giảm chi phí, đối với dịch bệnh có nguy cơ kéo dài, một số ngân hàng khác cũng đang có kế hoạch giảm tương tự như trên.

    Động thái này nhằm thực hiện những Chỉ thị trước đó của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng, yêu cầu các tổ chức tín dụng (TCTD) xây dựng kế hoạch đối phó và khắc phục khó khăn do dịch Covid-19. Một trong những biện pháp được người đứng đầu ngành ngân hàng đưa ra là giảm chi thưởng cũng như điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, kế hoạch tài chính phù hợp thực tế trước khi đại hội cổ đông. Đặc biệt, trước mắt ngân hàng không chia cổ tức bằng tiền mặt để giữ lại tối đa nguồn lực hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.

    Đại diện VietinBank cho biết: Ngân hàng tiếp tục giảm 2% lãi suất cho vay, đưa ra chương trình tín dụng 60.000 tỷ đồng hỗ trợ khách hàng kể từ tháng 4/2020. Cụ thể: VietinBank đặc biệt ưu đãi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cung ứng các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho người dân trong giai đoạn đại dịch Covid-19.

    “VietinBank đã cơ cấu, giữ nguyên nhóm nợ khoảng 350 khách hàng với dư nợ khoảng 18.000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2% dư nợ của VietinBank. Bên cạnh cơ cấu nợ, miễn giảm hỗ trợ lãi suất thì việc giảm phí cho các doanh nghiệp cũng được VietinBank thực hiện với khách hàng. Mức phí giảm khoảng 20 – 50%. Cá biệt có một số loại phí, đặc biệt là các phí về tài trợ thương mại có thể giảm tới 100% so với trước đây để hỗ trợ cho các doanh nghiệp”, ông Lê Đức Thọ – Chủ tịch HĐQT VietiinBank nói.

    Phía BIDV cũng giảm đến 2%/năm lãi suất cho vay VND đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Đối với dư nợ hiện hữu, BIDV tiếp tục cơ cấu lại nợ, giãn thời gian trả nợ gốc, lãi và giảm đến 2%/năm (đối với các khoản vay bằng VND) cho các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực, ngành nghề bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

    BIDV cũng giảm 1%/năm đối với các khoản vay bằng VND cho khách hàng cá nhân vay tiêu dùng tín chấp trả nợ bằng lương do ảnh hưởng của dịch làm ảnh hưởng đến thu nhập. Đặc biệt, trường hợp người lao động mất việc được hưởng trợ cấp 1,8 triệu đồng theo định hướng của Chính phủ, BIDV sẽ giảm 2% lãi suất; đồng thời ân hạn chưa thu gốc và lãi đến hạn của các khách hàng này trong thời gian còn dịch.

    “Đối với nhu cầu vay mới, BIDV có các gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 có nhu cầu vay mới với lãi suất giảm 2% so với lãi suất cho vay cùng loại ngày 31/12/2019. Thời gian triển khai giảm lãi suất cho vay (gồm cả dư nợ hiện hữu và dư nợ mới) áp dụng đến ngày liền kề sau 3 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid-19”, đại diện BIDV nói.

    Theo BIDV, với quy mô dư nợ lớn, ở đợt giảm lãi suất cho vay này, BIDV dự kiến giảm từ 2.400 đến 3.000 tỷ đồng thu nhập để hỗ trợ khách hàng khắc phục khó khăn do ảnh hưởng của Covid-19.

    Theo ước tính của Vietcombank, quy mô dư nợ của các khoản vay được giảm lãi suất khoảng 30.000 tỷ đồng, của khoảng 300 khách hàng là tổ chức kinh doanh lớn. Số tiền giảm lãi suất mà Vietcombank chia sẻ với doanh nghiệp ước khoảng 300 – 450 tỷ đồng, nếu tính cả tiền lãi khách hàng cá nhân đang vay được giảm thì con số hỗ trợ còn lớn hơn. Vietcombank đặt mục tiêu lợi nhuận trong năm 2020 tăng trưởng 15% so với năm 2019. Tuy nhiên, kịch bản lợi nhuận này chưa đo lường đến những thiệt hại do Covid-19.

    Nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, MSB đã triển khai gói tín dụng 7.000 tỷ đồng với lãi suất hấp dẫn, áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn tiêu dùng, kinh doanh từ nay đến ngày 31/12/2020. Gói tín dụng 7.000 tỷ được thiết kế cho khách hàng cá nhân vay tín chấp và vay thế chấp. Đối với vay tín chấp, MSB áp dụng lãi suất chỉ 12.99% trong 12 tháng đầu. Đối với vay thế chấp, MSB mang tới những lựa chọn đa dạng về lãi suất. Theo đó, khách hàng được lựa chọn lãi suất ưu đãi 6.99%/năm trong 06 tháng, 7.99%/năm trong 12 tháng, hoặc 8.75%/năm trong 18 tháng đầu.

    Phía ngân hàng Kienlongbank đang hỗ trợ bà con bị ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn bằng việc giảm lãi suất vay 3% đối với khách hàng. Thời gian áp dụng giảm lãi vay từ ngày 1/4 đến hết ngày 30/6, đối với những khách hàng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ưu tiên 5 tỉnh đã công bố tình huống khẩn cấp là: Kiên Giang, Bến Tre, Cà Mau, Tiền Giang và Long An) để hỗ trợ kịp thời và cấp bách đến những khách hàng bị thiệt hại do ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn.

    Không chỉ vậy, Ban Lãnh đạo Kienlongbank còn giảm đến 25%/tổng số tiền lãi phải thanh toán cho hơn 85.000 khách hàng đang vay vốn trả góp theo ngày tại Kienlongbank, kể từ ngày 3/4 cho đến 30/6.

    Theo Tổng Giám đốc của Kienlongbank, Trần Tuấn Anh, đa số khách hàng vay vốn trả góp ngày của Kienlongbank là những người có thu nhập thấp, vừa đủ để trang trải cuộc sống hàng ngày như: Bán vé số, chạy xe ôm, bán quán nước, bán quán ăn và buôn bán nhỏ, lẻ… Trong thời gian cao điểm phòng, chống dịch Covid-19, họ thực sự gặp nhiều khó khăn và rất cần sự hỗ trợ từ nhiều phía.

    Sau gói hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn được triển khai ngay từ đầu mùa dịch Covid-19, VPBank đã công bố chương trình đồng hành thứ 2 với mức giảm lãi suất tới 2% cho các khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chương trình được áp dụng cho cả khách hàng hiện hữu lẫn khách hàng mới có nhu cầu vay vốn tại VPBank.

    Cụ thể: Đối với các khoản vay có tài sản bảo đảm, mức giảm lãi suất tối đa 1,5%/năm đối với khoản vay VND, 1%/năm đối với khoản vay USD. Đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm, VPBank áp dụng mức giảm lãi suất tối đa 2%/năm đối với khoản vay VND và 1%/năm đối với các khoản vay USD.

    Những doanh nghiệp được hưởng những ưu đãi này cần đáp ứng một số yêu cầu như: Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, nhà hàng, khách sạn, phương tiện vận tải; có hoạt động xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Mỹ, châu Âu chiếm tối thiểu 50% doanh thu của doanh nghiệp năm 2019; có nguồn nguyên liệu chiếm tối thiểu 50% từ thị trường Trung Quốc, Mỹ, châu Âu; cũng như gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ do ảnh hưởng của dịch Covid-19 theo đánh giá của đơn vị kinh doanh.

    Theo báo cáo của NHNN về kết quả thực hiện hỗ trợ tín dụng tính từ 23/1 – 28/3 cho thấy, các tổ chức tín dụng đã bước đầu cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho trên 12.000 khách hàng với dư nợ 13.500 tỷ đồng; đã và đang xem xét miễn giảm lãi cho gần 36.000 khách hàng với dư nợ trên 91.000 tỷ đồng.

    Các TCTD cũng tích cực triển khai các chương trình, gói sản phẩm tín dụng ưu đãi lãi suất thấp hơn so với lãi suất thông thường từ 0,5 – 3% (khoảng 285.000 tỷ đồng, chủ yếu cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa…). Kết quả, đến nay các tổ chức tín dụng đã cho vay mới đối với 47.000 khách hàng với doanh số cho vay đạt gần 80.000 tỷ đồng.

    “Trong hoàn cảnh này doanh nghiệp càng đánh giá cao sự hỗ trợ của phía ngân hàng. Vấn đề đặt ra là cần sự phối hợp giữa ngân hàng và doanh nghiệp để làm sao các chính sách, giải pháp đúng và trúng đối tượng, tránh việc trục lợi chính sách. Việc giãn nợ, có nghĩa là doanh nghiệp đến thời kỳ trả nợ mà chưa trả được nhưng ngân hàng chưa chuyển nhóm nợ thành nợ xấu, giúp doanh nghiệp tập trung sản xuất kinh doanh. Với giảm lãi suất giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí trong sản xuất, vượt qua khó khăn. Khi doanh nghiệp đưa ra những khó khăn của mình phải đúng và minh bạch thông tin, để các ngân hàng trực tiếp cho vay nhìn thấy. Còn doanh nghiệp nào ỷ lại, trục lợi, thụ động thì không nên”, ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa nói.

     

    Theo TTXVN

  • 8 nhóm hàng xuất khẩu đầu tiên cán mốc tỷ USD

    Theo thông tin mới nhất từ Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước tính từ đầu năm đến 15/3 đạt 50,3 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ 2019.

    Dù gặp khó khăn song, xuất khẩu hàng dệt may đã cán mốc 1 tỷ USD

    Dù gặp khó khăn song, xuất khẩu hàng dệt may đã cán mốc 1 tỷ USD

    Đóng góp quan trọng vào kết quả này là 8 nhóm hàng có kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên gồm: Thủy sản; gỗ và sản phẩm gỗ; dệt may; giày dép; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; phương tiện vận tải và phụ tùng.

    Với tổng kim ngạch gần 35,5 tỷ USD, riêng 8 nhóm hàng trên đóng góp tới khoảng 70,5% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước trong cùng thời điểm. Đáng chú ý, đến 15/3, Việt Nam đã có nhóm hàng xuất khẩu đầu tiên đạt kim ngạch từ 10 tỷ USD trở lên, trong khi cùng kỳ năm ngoái chưa có nhóm hàng nào đạt được mốc này.

    Điện thoại các loại và linh kiện là nhóm hàng đầu tiên đạt kim ngạch hơn 10,2 tỷ USD, tăng gần 8,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc, Hàn Quốc vẫn là những địa bàn chủ lực nhập khẩu mặt hàng này.

    Theo: Báo Bắc Giang

  • Bắc Giang nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã

    (BGĐT) – Trong thời đại công nghiệp 4.0, việc liên kết, chia sẻ thông tin để tăng cường xúc tiến thương mại là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã (HTX), đặc biệt đối với khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

    Chủ động hội nhập

    Với mục tiêu tạo ra các sản phẩm từ lợn sạch, HTX Chăn nuôi và Dịch vụ thực phẩm sạch Tín Nhiệm (TP Bắc Giang) đã hợp đồng với nhà sản xuất thức ăn cung cấp nguồn thức ăn chính bằng thực phẩm hữu cơ. HTX cũng đã xây dựng nhà xưởng và áp dụng quy trình giết mổ tập trung, đóng gói và đa dạng các sản phẩm từ lợn. Cuối năm 2018, sản phẩm sạch 3S của HTX đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa.

    Bình quân mỗi ngày, HTX cung ứng ra thị trường 5 tấn các sản phẩm từ lợn như: thịt chân giò, thịt ba chỉ, thịt vai… và giò nạc, xúc xích, lạp xườn qua hệ thống các cửa hàng thực phẩm sạch, siêu thị tại Bắc Giang, Bắc Ninh và Thủ đô Hà Nội. Ngoài ra, HTX còn triển khai bán hàng qua hệ thống thương mại điện tử khi khách hàng có yêu cầu.Theo anh Lưu Văn Nhiệm, Giám đốc HTX, khi đã có sản phẩm chất lượng thì việc liên kết, chia sẻ thông tin để xúc tiến thương mại là yếu tố quan trọng. Đơn vị đã tham gia nhiều cuộc triển lãm, hội chợ giới thiệu sản phẩm. Kết quả, sản phẩm đầu ra của HTX đã tiếp cận với chuỗi các cửa hàng thực phẩm sạch, siêu thị trong và ngoài tỉnh. 

    Cũng như HTX Chăn nuôi và Dịch vụ thực phẩm sạch Tín Nhiệm, một trong những việc được HTX Nông nghiệp Đồng Tâm 3 (Hiệp Hòa) quan tâm, đó chính là khâu liên kết và mở rộng thị trường tiêu thụ. Theo ông Nguyễn Văn Nghiệp, Giám đốc HTX, với sản phẩm chính: Dưa lưới và nho trồng theo quy trình công nghệ cao, nên thị trường mà HTX quan tâm là các siêu thị và chuỗi cửa hàng bán thực phẩm sạch. 

    Để vào được các điểm bán hàng này, đơn vị đã sản xuất các sản phẩm theo quy trình VietGAP gắn với tem truy xuất nguồn gốc, đồng thời tiếp cận, giới thiệu quảng bá rộng rãi. Hiện nay, các mặt hàng của HTX đã được người tiêu dùng ở Thủ đô Hà Nội tiếp nhận qua siêu thị và các chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch.

    Giữ vai trò “bà đỡ”

    Được biết, nhằm tạo điều kiện giúp các HTX trong khâu liên kết, chia sẻ thông tin, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành liên quan triển khai nhiều giải pháp. Chỉ tính 5 năm trở lại đây, tỉnh hỗ trợ kinh phí cho các HTX tham gia hội chợ trong và ngoài nước với số tiền gần 1,5 tỷ đồng, bình quân 10-15 triệu đồng/HTX/lần. Nhiều HTX được hướng dẫn đăng ký mã số, mã vạch quốc gia, ghi nhãn hiệu lên bao bì sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. 

    Hiện toàn tỉnh có 46 sản phẩm được cấp chứng nhận quyền sở hữu công nghiệp trong thời hạn. Trong đó, 1 chỉ dẫn địa lý, 4 nhãn hiệu chứng nhận và 41 chứng nhận tập thể do các HTX và hội đăng ký. Đặc biệt, ngoài việc được bảo hộ trong nước, 4 nông sản được bảo hộ ở nước ngoài gồm: Vải thiều Lục Ngạn, mỳ Chũ, mỳ Kế, gà đồi Yên Thế.

    Liên minh HTX tỉnh đã thực hiện hỗ trợ các HTX, tổ hợp tác, hộ kinh doanh cá thể sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hoàn thiện sản phẩm, đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn, đưa sản phẩm vào trưng bày, giới thiệu và tiêu thụ trong các siêu thị, chuỗi bán lẻ hiện đại. Tại hội nghị xúc tiến thương mại sản phẩm nông nghiệp của các HTX tỉnh Bắc Giang với các tỉnh, TP gần đây, đã có hàng chục lượt biên bản ghi nhớ, hợp tác giữa các doanh nghiệp, siêu thị, đơn vị tiêu thụ sản phẩm với các HTX và Liên minh HTX tỉnh được ký kết.

    Không chỉ ở tỉnh, để mở đường cho nông sản an toàn của địa phương vào các siêu thị, hệ thống phân phối hiện đại, Liên minh HTX tỉnh là cầu nối đưa các sản phẩm tiêu biểu của các HTX tiếp cận với các hội chợ xúc tiến thương mại tại nhiều địa phương trong cả nước, gần đây nhất là tại Ninh Bình và Thái Nguyên.

    Ông Nguyễn Đức Hiền, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh cho biết: Tìm giải pháp đưa sản phẩm của các HTX vào hệ thống phân phối thương mại hiện đại là bước đi quan trọng nhằm hướng đến mục tiêu sản xuất an toàn, cung ứng sản phẩm chất lượng cho người tiêu dùng và thực hiện tốt cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. 

    Những kết quả bước đầu thông qua việc liên kết, xúc tiến thương mại đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được vào các siêu thị, chuỗi bán lẻ. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX trên địa bàn.

  • Bắc Giang: Thu hồi giấy phép cơ sở kinh doanh karaoke để khách sử dụng ma túy

    (BGĐT)- Ngày 5/4, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Giang đã ra quyết định thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke Royal KTV, địa chỉ tại khu dân cư thương mại, xã Bích Sơn (nay là thị trấn Bích Động), huyện Việt Yên do ông Nguyễn Xuân Trường, thường trú ở xã Việt Hùng, huyện Đông Anh (Hà Nội) làm chủ. 

     

    11 nam thanh nữ tú “quẩy” thâu đêm trong quán karaoke

    Phá tụ điểm tập trung sử dụng ma túy trong quán karaoke tại Nam Định

    Giết người vì mâu thuẫn chọn bài hát karaoke

    Lý do thu hồi giấy phép do chủ cơ sở không tạm dừng hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19; vi phạm Điều 16, Nghị định số 54/2019/NĐ-CP ngày 19/6/2019 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường.

    Cùng đó, cơ sở để cho khách sử dụng chất ma túy trong phòng hát karaoke, vi phạm Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

    Quyết định về việc thu hồi giấy phép đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke  Royal KTV.

    Quyết định về việc thu hồi giấy phép đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke  Royal KTV.

    Trước đó, khoảng 0 giờ 30 phút, ngày 28/3/2020, Công an huyện Việt Yên xây dựng kế hoạch, huy động 50 cán bộ, chiến sĩ kiểm tra hành chính cơ sở kinh doanh karaoke Royal KTV.

    Tại đây, lực lượng chức năng phát hiện tại 4 phòng hát có 53 đối tượng nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Qua thiết bị kiểm tra nhanh, phát hiện 16 đối tượng dương tính với ma túy. Hiện Công an huyện Việt Yên đang củng cố hồ sơ để xử lý chủ cơ sở và các đối tượng theo quy định pháp luật. 

    Căn cứ theo quy định của pháp luật, Công an huyện Việt Yên đã báo cáo Chủ tịch UBND huyện và đề nghị cơ quan chức năng thu hồi giấy phép kinh doanh đối với cơ sở này.

    Được biết, ngoài vi phạm trên, cơ sở kinh doanh karaoke Royal KTV từng vi phạm lỗi không thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý an ninh, trật tự đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện. 

    Theo: Báo Bắc Giang 

  • Bắc Giang: Khởi tố đối tượng liên quan đến cưỡng đoạt tài sản của doanh nghiệp

    (BGĐT) – Ngày 7/4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên (Bắc Giang) ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và lệnh tạm giam 3 tháng đối với Thân Văn Thế (SN 1988) ở thôn Đanh, xã Minh Đức (Việt Yên) về hành vị cưỡng đoạt tài sản.

    Theo tài liệu điều tra, từ đầu năm 2020, Thân Văn Thế cùng đồng bọn gây áp lực buộc một số doanh nghiệp đang thi công nhà xưởng trong Khu công nghiệp Quang Châu (Việt Yên) phải ký hợp động thuê bọn chúng làm bảo vệ với mức từ 5-8 triệu đồng/tháng. 

    Sau đó, dù không cho người đến làm nhiệm vụ như hợp đồng đã ký nhưng cuối tháng các đối tượng vẫn đến thu tiền.

    Đối tượng Thân Văn Thế.

    Đối tượng Thân Văn Thế.

    Tiến hành điều tra, ngày 30/3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Thân Văn Thế.

    Bước đầu, đối tượng khai nhận từ đầu năm 2020 đến khi bị bắt đã ký 23 hợp đồng lao động với các nhà thầu để cử bảo vệ trông coi công trường, máy móc nhưng không cử người đến; qua đó chiếm đoạt khoảng hơn 100 triệu đồng mỗi tháng. 

    Ngoài ra, nhóm của Thân Văn Thế còn chặn xe, thu tiền “luật” của nhiều chủ phương tiện khi cho máy móc, phương tiện ra vào các công trường xây dựng.

    Cán bộ Công an huyện Việt Yên lấy lời khai của Thân Văn Thế.

    Cán bộ Công an huyện Việt Yên lấy lời khai của Thân Văn Thế.

    Liên quan đến vụ việc này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên đang tạm giữ hình sự với 4 đối tượng gồm: Thân Ngọc Châu (SN 1990) ở thôn Kẹm, xã Minh Đức; Nguyễn Văn Tuyên (SN 1991) ở thôn Hạ Vụ, xã Vạn Phái, thị xã Phổ Yên (Thái Nguyên); Đinh Xuân Trường (SN 1991) ở thôn Dốc Tế, xã Tất Thắng, huyện Thanh Sơn (Phú Thọ) và Hoàng Thành Văn (SN 1990) ở xóm 10, xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương (Nghệ An) để điều tra về hành vi cưỡng đoạt tài sản và trộm cắp tài sản.

    Theo: Sỹ Quyết ( Báo Bắc Giang )

  • Bắc Giang: Phạt nhiều cá nhân vi phạm quy định cách ly xã hội để phòng dịch Covid-19

    (BGĐT) – Qua kiểm tra việc thực hiện quy định về cách ly xã hội, đeo khẩu trang để phòng, chống dịch Covid-19, ngày 6/4, lực lượng chức năng các huyện: Hiệp Hòa, Việt Yên, Lạng Giang và TP Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang) đã chốt trực phòng dịch, tuyên truyền, nhắc nhở và xử lý nhiều trường hợp vi phạm.

    * Tại thành phố Bắc Giang, trong ngày 6/4, lực lượng chức năng tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19; tập trung phân luồng ra – vào một chiều tại một số chợ dân sinh. 

    Chợ Mía (xã Tân Mỹ) được xem là điểm phức tạp do tập trung số lượng lớn tiểu thương từ các tỉnh đến giao – nhận, vận chuyển hoa quả đi tiêu thụ, lực lượng chức năng tổ chức chốt trực, phun thuốc tiêu độc khử trùng tại khu vực và toàn bộ phương tiện, đo thân nhiệt tiểu thương, yêu cầu khai báo y tế.

    Lực lượng chức năng phun thuốc tiêu độc khử trùng phương tiện đến chợ Mía

    Lực lượng chức năng phun thuốc tiêu độc khử trùng phương tiện đến chợ Mía

    Tuy nhiên, việc chấp hành quy định về cách ly xã hội của một bộ phận người dân chưa tốt. Tại nhiều tuyến phố như: Hoàng Văn Thụ, Lê Lợi, Nguyễn Văn Cừ… không ít người dân tụ tập trò chuyện, trong đó có người già, trẻ em, một số người không đeo khẩu trang. 

    Chiều 6/4, tại Khu đô thị Bách Việt (TP Bắc Giang) vẫn tập trung nhiều người, một số người không đeo khẩu trang.

    Chiều 6/4, tại Khu đô thị Bách Việt (TP Bắc Giang) vẫn tập trung nhiều người, một số người không đeo khẩu trang.

    Buổi chiều, tại nhiều khuôn viên, nhất là ở Khu đô thị Bách Việt (phường Dĩnh Kế) tập trung nhiều người. Tại đây, từng tốp từ vài đến hàng chục người đi dạo,  trò chuyện, sử dụng máy tập thể thao, trong số đó một số người không đeo khẩu trang.

    * Trong hai ngày 5 và 6/4, các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Hiệp Hòa tăng cường kiểm tra việc chấp hành quy định cách ly xã hội. UBND thị trấn Thắng đã ban hành quyết định xử phạt 4 trường hợp không đeo khẩu trang và bảo đảm khoảng cách an toàn 2 m ở khu vực công cộng, mức phạt mỗi trường hợp 200 nghìn đồng. Chính quyền các xã, thị trấn sẽ thông báo những trường hợp vi phạm trên loa truyền thanh để người dân nâng cao ý thức chấp hành quy định.

    *Thông tin từ Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 huyện Việt Yên, trong ngày 6/4, có 3 trường hợp ở xã Việt Tiến và Tiên Sơn bị lập biên bản, xử phạt hành chính với hành vi không đeo khẩu trang nơi công cộng. 

    Như vậy, từ ngày 1/4 đến chiều 6/4, huyện Việt Yên đã xử phạt 151 trường hợp, tổng số tiền hơn 30 triệu đồng với các lỗi không đeo khẩu trang, khai báo không trung thực. 

    *Trong ngày 6/4, huyện Lạng Giang có 6 trường hợp bị xử lý không đeo khẩu trang tại các xã: An Hà, Hương Sơn, Dương Đức, Mỹ Thái, Xuân Hương. Cùng đó lập biên bản, yêu cầu tạm dừng kinh doanh đối với 3 hộ kinh doanh các mặt hàng không thiết yếu ở thị trấn Vôi. 

    Được biết, những ngày qua, Lạng Giang là một trong những địa phương ra quân quyết liệt, xử phạt nhiều trường hợp không đeo khẩu trang nơi công cộng.

    Đến 18 giờ ngày 6/4, một số địa phương như: Lục Nam, Sơn Động, Yên Dũng chưa xử lý trường hợp nào vi phạm quy định về cách ly xã hội theo Chỉ thị số 16 của Thủ tướng Chính phủ.  

    Theo: Báo Bắc Giang 

  • EVN đề xuất miễn tiền điện cho cơ sở điều trị Covid-19

    Các cơ sở khám chữa bệnh, khu cách ly tập trung phòng chống Covid-19 sẽ được miễn phí tiền điện trong 3 tháng, theo đề xuất của EVN. 

    Đề xuất này đã được Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) gửi lên Chính phủ ngày 31/3. Ngoài miễn tiền điện cơ sở khám chữa bệnh, khu cách ly tập trung, EVN đề xuất hỗ trợ 50% tiền điện cho cả các cơ sở có điều trị, khám cho bệnh nhân nghi nhiễm nCoV. Thời gian miễn, giảm tiền điện với các cơ sở này kéo dài trong 3 tháng (tháng 4-6). 

    EVN cũng đang nghiên cứu phương án hỗ trợ người dân và sẽ đề xuất với Bộ Công Thương, Chính phủ. Trong khi đó, lãnh đạo Bộ Công Thương cho biết, cơ quan này sẽ kiến nghị Chính phủ phương án hỗ trợ tiền điện với doanh nghiệp. 

    Trước đó, nhiều ý kiến từ người dân, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và địa phương đề xuất Chính phủ hỗ trợ khẩn cấp chi phí sinh hoạt cho người dân thông qua giảm 50% giá điện, cho nợ 50% trong 3 tháng. 

    Theo AP, Chính phủ Malaysia cũng quyết định giảm giá hoá đơn tiền điện trong 6 tháng cho người dân, cấp tiền mặt cho khoảng 33.000 lao động nghỉ không lương vì Covid-19…

    Theo: Hoài Thu 

  • EU hoàn tất phê chuẩn EVFTA

    Hiện tại, EVFTA chỉ cần được Quốc hội phê chuẩn và hai bên hoàn tất thủ tục thông báo là sẽ có hiệu lực.

    Hôm qua (30/3), Hội đồng châu Âu (EC) quyết định thông qua Hiệp định thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam (EVFTA). Đây là bước pháp lý cuối cùng theo thủ tục phê chuẩn nội bộ của EU để EVFTA có hiệu lực. Trước đó, ngày 12/2, Nghị viện châu Âu (EP) đã bỏ phiếu thông qua hiệp định này .

    Hiện tại, EVFTA chỉ cần được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn và hai bên hoàn tất thủ tục thông báo (dự kiến 30 ngày kể từ ngày thông báo) là sẽ có hiệu lực. Ngày 21/2, Bộ Công Thương đã trình Chính phủ bộ hồ sơ về việc phê chuẩn Hiệp định EVFTA. Đến ngày 24/3, Bộ Công Thương đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo bộ hồ sơ của Chính phủ trình Chủ tịch nước để Chủ tịch nước xem xét, quyết định trình Quốc hội về việc phê chuẩn Hiệp định.

    Thỏa thuận này sẽ gỡ bỏ gần như toàn bộ thuế nhập khẩu giữa hai bên trong vòng 10 năm. Theo đó, 65% hàng xuất khẩu của EU vào Việt Nam sẽ ngay lập tức được miễn thuế. Thuế với số hàng hóa còn lại sẽ dần về 0% trong vòng 10%.

    Ngược lại, 71% hàng xuất khẩu của Việt Nam vào EU sẽ được miễn thuế ngay trong ngày đầu tiên. Số hàng hóa còn lại sẽ được miễn trong vòng 7 năm. Thỏa thuận còn bao gồm các điều khoản về gỡ bỏ rào cản phi thuế quan, chỉ dẫn địa lý, về ngành dịch vụ, mua sắm công và phát triển bền vững.

    EU là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, song thị phần hàng hoá của khu vực này còn khiêm tốn, bởi năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam còn hạn chế. Vì vậy, với cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ, khả năng cạnh tranh về giá của hàng hóa Việt Nam khi nhập khẩu vào EU sẽ tăng.

    EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

    Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý-thể chế.

    Theo: Hà Thu 

  • Vietcombank cho vay mới hơn 41.200 tỷ đồng trong đại dịch

    Vietcombank cho vay mới hơn 41.200 tỷ đồng trong đại dịch

    Vietcombank cho biết sẽ tiếp tục thực hiện nhanh và mạnh hơn nữa các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị tác động bởi Covid- 19.

    Con số được công bố tại cuộc họp các chi nhánh trên toàn hệ thống Vietcombank sáng ngày 30/3, tổ chức qua các điểm cầu truyền hình trực tuyến. Cuộc họp nhằm đánh giá việc triển khai các biện pháp hỗ trợ khách hàng doanh nghiệp của Vietcombank trong Covid-19, đặc biệt là sau 2 tuần kể từ ngày Thông tư 01 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực.

    Vietcombank cho biết đã thực hiện giải ngân cho vay mới hơn 41.200 tỷ đồng từ ngày 23/1 đến nay, góp phần hỗ trợ các khách hàng chịu ảnh hưởng bởi Covid-19, đảm bảo duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và cân đối dòng tiền. Nhà băng còn đồng hành với khách hàng rà soát đánh giá các phương án sản xuất kinh doanh, cân đối tài chính, dòng tiền để có những tư vấn và hỗ trợ phù hợp.

    Tổng dư nợ của các khách hàng có gặp khó khăn tạm thời do bị ảnh hưởng bởi Covid-19 được Vietcombank giữ nguyên nhóm nợ từ đầu năm đến nay là trên 8.200 tỷ đồng.

    Trong thời gian tới, nhiều trường hợp trong tổng số hơn 50.000 tỷ đồng dư nợ cho vay bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 sẽ được ngân hàng xem xét cơ cấu nợ, giữ nguyên nhóm nợ theo quy định.

    Một quầy giao dịch của Vietcombank.

    Một quầy giao dịch của Vietcombank.

    Thời gian qua, Vietcombank đồng bộ việc giảm, ưu đãi lãi suất cho vay và giảm phí dịch vụ cho khách hàng. Cụ thể, tổng số dư nợ các ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng bởi Covid-19 được Vietcombank hỗ trợ, ưu đãi lãi suất thấp hơn 0,5% – 1,5% so với mặt bằng lãi suất chung đến nay lên tới trên 112.700 tỷ đồng.

    Về phí dịch vụVietcombank giảm đồng loạt phí giao dịch ngân hàng điện tử 24/7, nhằm khuyến khích khách hàng sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, đồng thời miễn phí chuyển tiền ủng hộ phòng chống dịch Covid-19 và chống hạn mặn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

    Vietcombank cho biết sẽ đảm bảo duy trì hoạt động liên lục trong mùa dịch tại tất cả các chi nhánh, phòng giao dịch trên toàn quốc. Thời gian giao dịch từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần, trừ các ngày nghỉ theo quy định. Ngân hàng khuyến khích khách hàng sử dụng các dịch vụ trực tuyến 24/7 do Vietcombank cung cấp, nhằm tối ưu hóa hiệu quả tài chính đồng thời hạn chế rủi ro lây nhiễm bệnh cho khách hàng, nhân viên và cộng đồng. Vietcombank cũng sớm triển khai kế hoạch ứng phó toàn diện theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Y tế và Ngân hàng Nhà nước về việc phòng, chống Covid-19. Các thông tin quan trọng sẽ được thông báo trên trang thông tin điện tử chính thức, kênh liên lạc khách hàng đã đăng ký, đảm bảo các quyền lợi của khách hàng.

    Các chi nhánh trên toàn hệ thống Vietcombank tham gia Hội nghị qua các điểm cầu truyền hình trực tuyến hôm 30/3.

    Các chi nhánh trên toàn hệ thống Vietcombank tham gia hội nghị qua các điểm cầu truyền hình trực tuyến hôm 30/3.

    Thời gian qua, Vietcombank triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ an sinh xã hội, như trao tặng 10 tỷ đồng cho công tác phòng, chống Covid-19 do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, hỗ trợ 2 tỷ đồng cho 7 cơ sở quân đội được giao nhiệm vụ tiếp nhận, cách ly người dân trở về từ vùng dịch.

    Đại diện Vietcombank (bên phải) ủng hộ 10 tỷ đồng tại lễ phát động toàn dân ủng hộ phòng, chống Covid-19.

    Đại diện Vietcombank (bên phải) ủng hộ 10 tỷ đồng tại lễ phát động toàn dân ủng hộ phòng, chống Covid-19 hôm 17/3.

    Tại các địa phương, nhà băng giao chi nhánh Hưng Yên hỗ trợ hơn 2,6 tỷ đồng cho Sở Y tế Hưng Yên, mua một xe cứu thương và 2 máy siêu âm màu xách tay. Chi nhánh Hà Tĩnh hỗ trợ 500 triệu đồng cho Ủy ban mặt trận Tổ quốc huyện Hương Sơn và tặng 500 triệu đồng cho Sở Y tế tỉnh Hà Tĩnh, mua các dụng cụ y tế cần thiết như khẩu trang, nước rửa tay…

    Ngoài ra, nhiều chi nhánh, tổ chức đoàn thể khác có mức hỗ trợ từ 50-100 triệu đồng cùng các nhu yếu phẩm và thiết bị cho các đơn vị làm công tác phòng chống dịch và cách ly của các địa phương.

    Theo: Phong Vân

  • Mỗi lít xăng đang ‘gánh’ bao nhiêu thuế, phí

    Mỗi lít xăng đang ‘gánh’ bao nhiêu thuế, phí

    Giá xăng có thể thấp hơn nhiều mức 12.000 đồng hiện nay nếu như không phải “cõng” gần 70% thuế, phí.

    Mỗi lít xăng đang 'gánh' bao nhiêu thuế, phí

    Theo: Anh Minh – Tạ Lư

  • Những nét mờ trong bức tranh kinh tế quý I

    Những nét mờ trong bức tranh kinh tế quý I

    Kinh tế quý I không chỉ tăng thấp nhất 11 năm mà còn ghi nhận khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản hầu như không góp gì vào tăng trưởng chung. 

    Tổng cục Thống kê vừa công bố số liệu kinh tế ba tháng đầu năm, với tăng trưởng GDP chỉ đạt 3,82%. Lần gần nhất kinh tế Việt Nam tăng trưởng dưới 4% trong quý I là năm 2009 – năm đầu tiên khi khủng hoảng tài chính nổ ra. Và đây chưa phải là số liệu duy nhất phản ánh khó khăn của nền kinh tế do ảnh hưởng của đại dịch.

    %Tăng trưởng GDP quý I2010 – 20205.845.845.95.94.754.754.764.765.065.066.126.125.485.485.155.157.387.386.796.793.823.82201020122014201620182020024682014● Tăng trưởng GDP: 5.06

    Bởi phía sau là sự đi xuống của cả ba khu vực chính (nông, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp & xây dựng; dịch vụ). Trong đó, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản gần như không đóng góp gì vào bức tranh chung. Tăng trưởng của mảng này trong quý đầu tiên chỉ đạt 0,08% do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, Covid-19 và dịch tả lợn châu Phi. Trong đó, riêng khu vực nông nghiệp giảm 1,17% so với cùng kỳ.

    %Tăng trưởng ba khu vực của nền kinh tế2010 – 2020Nông lâm nghiệp và thủy sảnCông nghiệp và xây dựngDịch vụ201020122014201620182020-2.502.557.51012.5

    Trong quá khứ, như năm 2016 khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản suy yếu, nền kinh tế được “đỡ” lại bằng công nghiệp và dịch vụ. Còn quý I năm nay, cả hai khu vực này cùng giảm sút, xuống mức thấp nhất nhiều năm, với một lý do chung “tác động của Covid-19”. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng thấp nhất ba năm, trong khi dịch vụ tăng thấp nhất hơn một thập kỷ. 

    Ở khía cạnh thương mại và xuất nhập khẩu, kết quả cũng không khả quan hơn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I đạt hơn 1,2 triệu tỷ đồng, chỉ tăng 4,7% so với cùng kỳ và là mức tăng thấp nhất hơn 10 năm. Trong đó, riêng tháng 3, chỉ tiêu này giảm 0,8% – lần đầu tiên ghi nhận mức tăng âm trong 5 năm gần đây.

    Nghìn tỷ đồngTổng mức bán lẻ hàng hóa trong quý I2010 – 2020364.5364.5451.8451.8569.7569.7636.2636.2701.4701.4790.8790.8859.6859.6921.1921.11 0481 0481 184.91 184.91 246.11 246.120102012201420162018202002505007501000125015002016● Tổng mức bán lẻ hàng hóa: 859.6

    “Covid-19 đã tác động tới tâm lý người tiêu dùng, làm hạn chế mua sắm, du lịch và ăn uống ngoài gia đình do lo ngại dịch lây lan”, Tổng cục Thống kê lý giải.

    Với hoạt động xuất nhập khẩu, tính chung quý I, tổng kim ngạch hàng hóa đạt hơn 115 tỷ USD, giảm 0,7% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu chỉ tăng 0,5% còn nhập khẩu giảm 1,9%. Kết quả này đã chấm dứt chuỗi tăng liên tục từ năm 2010 đến 2019. 

    Tỷ USDKim ngạch xuất nhập khẩu quý I2010 – 2020141419.219.224.524.529.729.733.333.335.735.737.937.943.743.754.354.358.558.5595917.517.522.322.324.824.829.229.232.332.337.537.537.137.145.645.65353585856.356.3Xuất khẩuNhập khẩu20102012201420162018202002550751001252016● Nhập khẩu: 37.1

    Tương tự, những chỉ số chính như tổng vốn đầu tư vào nền kinh tế cũng chứng kiến đà giảm mạnh. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I tăng 2,2% so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng thấp nhất 10 năm, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 5,4%. Theo cơ quan thống kê, Covid-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh.

    %Tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội trong quý I2010 – 202026.226.214.714.712.812.85.55.53.83.89.19.110.710.78.68.610.410.48.88.82.22.2201020122014201620182020051015202530

    Dù những chỉ số trên chỉ suy giảm thay vì tăng trưởng âm, bức tranh kinh tế quý I đã phản ánh sự yếu đi rõ rệt về tổng cung và tổng cầu, sự chậm lại trong hoạt động sản xuất và tiêu dùng. Những yếu tố không chắc chắn cũng ngày càng hiện rõ. 

    Nhiều tiểu thương trong chợ bến Thành đã phải đóng các sạp hàng, ngày 27/3. Ảnh: Quỳnh Trần.

    Nhiều tiểu thương trong chợ bến Thành đã phải đóng các sạp hàng, ngày 27/3. Ảnh: Quỳnh Trần.

    Đầu tiên về cấu trúc nền kinh tế. “Trụ đỡ” trong quý I chủ yếu đến từ khu vực công nghiệp và xây dựng, nhưng điều này được dự báo khó duy trì. Vì những biện pháp hạn chế lây lan dịch bệnh chủ yếu áp dụng từ nửa cuối tháng 3, tình trạng dừng sản xuất, thiếu nguyên liệu, thị trường bắt đầu diễn ra trong giai đoạn này nên khả năng ảnh hưởng đến khu vực công nghiệp và xây dựng sẽ rõ ràng hơn trong quý II. Và ngành dịch vụ có thể còn tiếp tục sụt giảm. 

    Trong hoạt động thương mại, xuất khẩu chỉ tăng 0,5% ba tháng đầu năm nhưng riêng tháng 3 đã giảm hơn 12% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng cuối quý I, xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước giảm 3,7%, khu vực vốn đầu tư nước ngoài giảm 15,4%. Những mặt hàng chủ lực như dệt may, sắt thép, giày dép, thủy sản, điện thoại và linh kiện đều giảm ở mức hai con số.

    Vốn đầu tư FDI – được xem là điểm sáng trong nhiều năm gần đây, cũng suy giảm trong quý I. Còn vốn thực hiện từ nguồn ngân sách ba tháng đầu năm mới đạt 13,2% kế hoạch năm.

    Trước kiến nghị điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng khi GDP năm nay khó tăng 6,8%, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống Kê, cho rằng việc điều chỉnh là không cần thiết. 

    “Dưới góc độ cơ quan thống kê, chúng tôi cho rằng không nên đề xuất sửa mục tiêu tăng trưởng chỉ để hoàn thành kế hoạch. Tăng trưởng 6,8% trong năm nay là điều rất khó, nếu đạt 5% cũng xem là rất thành công”, ông Lâm nói.

    Theo khuyến nghị của cơ quan thống kê, bài toán khó trong tăng trưởng năm nay có thể giải quyết bằng động lực thể chế, gia tăng hiệu quả sử dụng vốn, cải thiện năng suất lao động, thay đổi cơ cấu kinh tế. Giải ngân thêm 1% vốn đầu tư công giúp GDP tăng 0,06%. Trong khi đó, nếu hệ số đầu tư tăng trưởng (ICOR) giảm 0,5 thì GDP tăng 0,64%, ICOR giảm 1 thì GDP tăng 1,42%. Năng suất lao động cũng là một yếu tố tạo lực đẩy cho tăng trưởng khi tăng 1% có thể làm GDP tăng 0,94%.

    “Kinh tế đang rất khó khăn, thậm chí kéo dài những quý sau. Việt Nam không có nguồn lực mạnh như Mỹ để có thể phát cho dân 1.000 USD, cung cấp các gói cứu trợ mấy nghìn tỷ USD, nhưng chúng ta sẽ có những giải pháp khác. Tăng trưởng kinh tế sẽ đạt mức tích cực, có thể không hoàn thành mục tiêu 6,8% nhưng sẽ hơn hiện trạng chung của thế giới”, Tổng cục trưởng Thống kê cho biết.

     Theo: Minh Sơn

  • TS Vũ Đình Ánh: Cần vận hành kinh tế an toàn thay vì đóng băng

    TS Vũ Đình Ánh: Cần vận hành kinh tế an toàn thay vì đóng băng

    Không ủng hộ việc duy trì sản xuất nhưng lại dừng kinh doanh, ông Vũ Đình Ánh cho rằng nền kinh tế vẫn có thể được vận hành an toàn dù trong đại dịch.

    – Chính phủ đã ban hành gói tín dụng 285.000 tỷ và đang xem xét gói tài khoá giãn thuế hơn 80.200 tỷ nhằm giảm áp lực tài chính ngắn hạn cho doanh nghiệp. Ông đánh giá như thế nào về tác động của các giải pháp này?

    – Các giải pháp tài khoá như giãn, hoãn, giảm thuế sẽ giúp doanh nghiệp giảm gánh nặng nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Hiện tại, đó là một phương án hợp lý.

    Trong khi đó, gói tín dụng 285.000 tỷ đồng với lãi suất thấp thực tế không tác động nhiều tới các ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp. Doanh nghiệp hiện không có nhu cầu vay mới do sản xuất – kinh doanh đã suy giảm đáng kể. Điều họ lo ngại nhất là nghĩa vụ tài chính khi các khoản vay đến hạn, nhất là vay ngân hàng. Lúc này, họ cần được giãn, hoãn các nghĩa vụ tài chính liên quan đến trả nợ gốc, lãi vay đối với các khoản nợ cũ, chứ không phải giảm lãi suất cho hợp đồng tín dụng mới.

    Giải pháp cho doanh nghiệp vay vốn với lãi suất 0% để trả lương cho người lao động cũng không hợp lý, bởi chưa biết dịch bệnh bao lâu mới kết thúc. Nếu doanh nghiệp không thể hồi phục, người lao động cũng không còn cơ hội trở lại doanh nghiệp làm việc.

    Cuối cùng, kích cầu kinh tế đồng nghĩa với việc phải nới lỏng điều kiện hoạt động kinh doanh cho người dân, doanh nghiệp. Nhưng hành động này lại mâu thuẫn với biện pháp hạn chế tập trung đông người, dừng hoạt động kinh doanh, dịch vụ, thương mại đang được nhiều địa phương áp dụng.

    – Trong cuộc họp thường trực Chính phủ ngày 27/3, Thủ tướng đã đề nghị tính toán, nghiên cứu một gói hỗ trợ từ trái phiếu chính phủ để kích cầu. Ông đánh giá sao về tính khả thi của giải pháp này?

    – Tôi cho là không phù hợp. Phát hành trái phiếu là việc được thực hiện khi nền kinh tế vận hành bình thường. Sau 3 tháng đầu năm nay, các tổ chức và định chế tài chính rơi vào trạng thái gián đoạn dòng tiền do các hoạt động kinh tế, thương mại đình trệ. Vậy ai sẽ mua số trái phiếu được Chính phủ phát hành?

    Tiếp đó, nợ công của Việt Nam gia tăng qua từng năm, việc phát hành trái phiếu chính phủ chắc chắn sẽ khiến tỷ lệ nợ công/GDP thay đổi, tạo áp lực đáng kể lên thu – chi ngân sách năm nay và các năm tiếp theo.

    Chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh.

    Chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh. Ảnh: Trọng Hiếu.

    – Trong điều kiện ngân sách có hạn, theo ông, Chính phủ nên có những giải pháp ưu tiên gì để hỗ trợ doanh nghiệp?

    – Theo tôi, Chính phủ cần có phương án vận hành nền kinh tế trong bối cảnh dịch bệnh thay vì dừng hẳn hoạt động kinh doanh để chống dịch. Không thể đồng ý cho nhà máy, phân xưởng hoạt động sản xuất, nhưng dừng hoạt động kinh doanh được. Như vậy hàng hoá sản xuất ra sẽ bán cho ai? Việc cần làm trước tiên là xây dựng phương án vận hành cả sản xuất – kinh doanh nhưng vẫn tránh lây nhiễm bệnh.

    Thứ hai, giai đoạn đầu diễn ra Covid-19, doanh nghiệp bị gián đoạn nguồn cung nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất do phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Gần đây, khi dịch bệnh tại Trung Quốc dần được kiểm soát, nguồn cung có thể được nối lại, doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với bài toán thiếu thị trường tiêu thụ do dịch lan rộng ra nhiều quốc gia, dẫn tới tình trạng cách ly, kiểm soát chặt chẽ ở các cửa khẩu hải quan.

    Vậy nên, cần tìm nguồn cung thay thế, giảm phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc thông qua gia tăng tỷ lệ nội địa hoá, tăng cường các ngành công nghiệp hỗ trợ. Nếu có gói hỗ trợ cho vay, nên dành cho đối tượng này. Từ đó, họ sẽ có thêm cơ hội mở rộng quy mô sản xuất, tiến tới giảm dần sự phụ thuộc với thị trường cung cấp nguyên vật liệu nước ngoài.

    Thứ ba, Chính phủ phải quan tâm tới đầu ra tiêu thụ sản phẩm. Khi dịch đã lan tới nhiều quốc gia, mục tiêu kích thích xuất khẩu cực kỳ khó khăn, doanh nghiệp cũng phải chịu một khoản phí tổn lớn. Những chính sách lúc này cần tập trung phát triển thị trường nội địa. Việc này vừa giúp doanh nghiệp Việt Nam giải bài toán thị trường trong ngắn hạn, vừa tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    Thứ tư, cần giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp. Khi doanh thu từ hoạt động sản xuất – kinh doanh không phát sinh, dòng tiền của doanh nghiệp gặp khó khăn, giải pháp đơn giản nhất là giảm các nghĩa vụ của họ với nhà nước và bạn hàng.

    Những giải pháp này sẽ duy trì sức cầu của nền kinh tế, đồng thời bảo đảm đầu ra cho hoạt động sản xuất – kinh doanh.

    Các cửa hàng trên phố Đào Duy Từ (Hà Nội) đóng cửa theo yêu cầu để tránh lây lan trong mùa dịch. Ảnh: Giang Huy.

    Các cửa hàng trên phố Đào Duy Từ (Hà Nội) đóng cửa theo yêu cầu để tránh lây lan trong mùa dịch. Ảnh: Giang Huy.

    – Với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần làm sao để đảm bảo sự phá sản hàng loạt không xảy ra?

    – Đặc điểm nổi bật của đối tượng này là tính linh hoạt cao, có thể nhanh chóng chuyển đổi phương thức hoạt động. Tôi thấy không ít cơ sở giáo dục tổ chức học nhóm bằng skype, zalo, livestream trên fanpage. Nhiều tiệm cà phê, nhà hàng đã tiếp thị, bán hàng qua trang thương mại điện tử, facebook, sử dụng dịch vụ vận chuyển. Vậy nên, Chính phủ và các địa phương cần định hướng sản xuất – kinh doanh cho họ.

    Song vấn đề nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối mặt rất đa dạng, thay vì áp dụng chính sách chung cho hàng trăm nghìn doanh nghiệp, nên có những chính sách khác biệt cho từng nhóm.

    Những doanh nghiệp cần nguồn lực tài chính để duy trì hoạt động, ngân hàng có thể hỗ trợ họ bằng qua các tín dụng với lãi suất thấp. Với doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm hướng đi mới, các địa phương, Bộ, ngành có thể cung cấp thông tin mang tính chất tư vấn. Nếu doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn về lực lượng lao động, cần kích hoạt thị trường này. Trường hợp doanh nghiệp không thể hoạt động liên tục, nên tạo điều kiện cho họ dừng kinh doanh hoặc giải thể.

    Tôi chỉ lưu ý là cần hết sức tránh để doanh nghiệp rơi vào tình trạng tới hạn vẫn không trả được nợ, buộc phải phá sản. Các phương án giãn, hoãn, giảm thuế, tiền thuê đất sẽ giúp Chính phủ giải quyết điều này.

    – Ngoài gói hỗ trợ tín dụng 285.000 tỷ đồng, phần lớn các phương án hỗ trợ nền kinh tế vẫn nằm trên giấy do phải trải qua quy trình thông qua về pháp luật phức tạp theo quy định. Ông có đề xuất gì để các chính sách hỗ trợ sớm được ban hành và phát huy hiệu quả?

    – Hiện quy định phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm của từng tổ chức khá phức tạp nhưng không đến mức cản trở một quyết định, đề xuất nào. Với những vấn đề cấp bách, vượt quá quyền hạn của Chính phủ, vẫn có thể trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định, không cần đợi đến kỳ họp Quốc hội hàng năm.

    Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải có đề án và lựa chọn định hướng rõ ràng, theo hệ thống, có những chi tiết cụ thể để đảm bảo tính khả thi. Không nên để diễn ra tình trạng hôm nay nghĩ ra cái này, ngày mai nghĩ ra cái khác đều trình Quốc hội cho ý kiến. Cách làm việc như vậy thể hiện sự manh mún, không đồng bộ, thậm chí các đề xuất dễ xung đột nhau.

    – Bên cạnh hình thức hỗ trợ trực tiếp tài chính, theo ông nên chuyển đổi công việc cho nhóm lao động bị mất việc làm ra sao?

    – Việc này nên để thị trường giải quyết. Nhà nước chỉ cần hướng nguồn lực của nền kinh tế phát triển vào đâu, dòng chảy lao động sẽ dịch chuyển tới đó.

    Dịch bệnh là yếu tố xuất hiện nhất thời, nhưng chúng ta không biết nó kéo dài bao lâu. Còn bài toán đào tạo, chuyển dịch, chuyển đổi công việc mang tính dài hạn. Vậy nên, nhà nước không thể can thiệp, phải để cho thị trường tự vận động. Khi các hoạt động sản xuất – kinh doanh chuyển động theo hướng vừa phải duy trì hoạt động, vừa phải đảm bảo an toàn thì thị trường lao động sẽ tự chuyển dịch theo.

    Theo: Hoàng Thắng (vnexpress.net)