Danh mục: Tin tức sự kiện

  • 7 bài học xương máu khiến doanh nhân bỏ lại sự nghiệp để quay về công việc làm thuê

    7 bài học xương máu khiến doanh nhân bỏ lại sự nghiệp để quay về công việc làm thuê

    Cuộc sống của một doanh nhân khó khăn hơn nhiều người vẫn nghĩ.

    7 bài học xương máu khiến doanh nhân bỏ lại sự nghiệp để quay về công việc làm thuê

    Kinh doanh không phải là một nghề. Hầu hết những người được cho là doanh nhân ngày nay thực sự không thích kinh doanh. Nếu bạn đưa ra cho họ một lời đề nghị tốt, họ sẽ sẵn sàng bán công ty và trở thành nhân viên.

    Các nước châu Phi có tỷ lệ doanh nhân cao nhất so với dân số. Trong khi nhiều người ca ngợi đây là sự ngoan cường của người dân châu Phi, thì sự thật là nhiều người chọn việc trở thành doanh nhân bởi họ không thể tìm được một công việc tốt khác.

    Các phương tiện truyền thông tôn vinh kinh doanh vì rất ít người thành công trong lĩnh vực này. Cứ sau 5 năm, sẽ có 9 trên 10 doanh nghiệp thất bại. Đó là một thế giới khắc nghiệt. Nhưng một số người dường như bị mắc kẹt trong ảo tưởng mình sẽ dễ dàng thành công nếu trở thành một doanh nhân.

    Một số người thành công. Nhiều người đấu tranh và tiếp tục cho đến khi họ không còn gì trong tay. Nhiều người trở lại làm nhân viên làm công ăn lương (nếu có thể).

    Điều thú vị là, họ từng rất ghét cuộc sống nhân viên trước khi trở thành một doanh nhân. Nhưng sau một vài năm, họ mong muốn được trở lại cuộc sống của một nhân viên.

    Dưới đây là một số bài học khó khăn khiến họ thực hiện sự thay đổi này:

    1. Chi phí sinh hoạt không phải là một trò đùa

    Thường khi các nhân viên hoặc người thất nghiệp lao vào khởi nghiệp, họ thường có tiền tiết kiệm để dự trù. Kế hoạch là sử dụng tiền để xây dựng doanh nghiệp và chi trả các chi phí sinh hoạt.

    Rắc rối duy nhất là mọi người không biết lối sống của mình đắt đỏ như thế nào cho đến khi họ tiếp xúc với nó. Điều này đặc biệt đúng ở các thành phố lớn trên thế giới. Thật bất ngờ, bạn bắt đầu để ý từng xu một mình đã sử dụng như thế nào. Sau đó, bạn nhận ra để có thể sống với số tiền đủ dùng đó ý nghĩa đến chừng nào.

    Vấn đề này trở nên đáng lo ngại khi khi tiền tiết kiệm sắp hết. Nó càng tồi tệ khi bạn là trụ cột của một gia đình. Đây không còn là vấn đề của riêng bạn nữa, thay vào đó, đây là kế sinh nhai của những người đang phụ thuộc vào bạn.

    Mọi người thường đánh giá thấp chi phí sinh hoạt. Nhưng đó là một trong những điều đầu tiên đánh gục họ khi mọi thứ trở nên khó khăn. Bạn thấy những thứ bạn đã từng làm nhưng nay bạn không thể chi trả cho nó được nữa. Bạn thấy bạn bè của mình vẫn sống lối sống đó nhưng bạn không đủ khả năng để sống nữa. Không phải ai cũng chịu được nỗi đau đó.

    7 bài học xương máu khiến doanh nhân bỏ lại sự nghiệp quay về công việc làm thuê - Ảnh 1.

    2. Những người thích không phải là những người mua

    Người ta: Chà, cái này tốt quá

    [Doanh nghiệp sản xuất ra nhiều để bán cho họ]

    Người ta: Giờ tôi không cần sản phẩm này. Có lẽ tôi sẽ mua sau.

    Chúng ta đều cảm thấy nhột đúng không. Tôi chắc chắn rằng bạn đã từng đối xử như thế này với một doanh nghiệp bằng cách này hay cách khác. Thậm chí là ngày hôm nay có thể bạn đang đối xử như thế này đấy. Chúng ta thích sản phẩm và chúng ta không mua. Thú vị hơn là chúng ta sẽ không bao giờ mua nó.

    Tôi đã từng nói với nhân viên bán hàng rằng tôi sẽ trở lại mua món hàng tôi thích trong cửa hàng của anh ấy. Anh tức giận khi tôi ra về. Tôi cảm nhận được nỗi đau của anh. Tôi thực sự từng nghĩ rằng mình sẽ quay lại sớm để mua món hàng đó. Nhưng nhiều chuyện đã xảy ra và tôi chuyển đến thành phố khác không lâu sau đó.

    Con người thích nhiều thứ lắm. Và không bao giờ họ có ý định thích là mua. Rất nhiều doanh nghiệp trẻ không hiểu điều này. Do vậy họ sản xuất các sản phẩm và dịch vụ cho những khách hàng tưởng tượng. Và rồi họ mới học được bài học cay đắng rằng: Những người thích không phải là người mua.

    Chúng ta có thể tránh được bài học đau lòng này bằng một chiến thuật đơn giản: đặt hàng trước. Nếu họ thực sự yêu thích sản phẩm, hãy để họ đặt hàng trước. Và sau đó họ phải cọc phần trăm nhất định để hợp lệ hoá đơn hàng đó. Đó là cách phân biệt những người đơn thuần thích và những người thực sự mua.

    Tôi thích cái cách Tesla đã làm. Sau khi ra mắt Cybertruck, họ cho phép mọi người có thể đặt hàng trước với giá chỉ 100 USD. Vì vậy, công ty không quan tâm có bao nhiêu người tấm tắc khen thiết kế và đổi mới của họ. Họ chỉ tập trung vào những người đặt hàng trước.

    3. Nhà đầu tư không phải là bạn

     

    Nhà đầu tư không phải là bạn của bạn. Các doanh nghiệp trẻ nghĩ rằng mối quan hệ giữa họ với các nhà đầu tư là một mối quan hệ hữu nghị. Và họ sai hoàn toàn.

    Các nhà đầu tư chịu chi tiền vì 1 hoặc 2 lý do sau:

    – Để kiếm nhiều tiền hơn hoặc duy trì giá trị của đồng tiền.

    – Đặt cược vào một xu hướng trong tương lai vì họ tin tưởng vào nó.

    Nếu một nhà đầu tư xem bạn là một người bạn, bạn sẽ không bao giờ nhận được một xu nào từ họ. Luôn luôn là vậy, họ đầu tư vào nhiều thứ để kiếm nhiều tiền hơn.

    Nhà đầu tư đến vì lý do thứ hai và ở lại (dài hạn) vì lý do đầu tiên. Hoặc ngược lại. Cũng có những người duy trì vì lý do ban đầu của họ. Vấn đề là, chẳng có lý do nào là về tình bạn. Nếu bạn phủ nhận lý do họ đầu tư vào bạn, họ sẽ không ngần ngại đá đít bạn. Họ có thể làm điều này bằng cách rút lại số tiền đầu tư, hoặc không cho bạn tiếp tục điều hành công ty nữa.

    Chuyện này xảy ra rất nhiều. Khi điều này xảy ra, một số doanh nhân chỉ thu mình lại và trở về cuộc sống nhân viên.

    7 bài học xương máu khiến doanh nhân bỏ lại sự nghiệp quay về công việc làm thuê - Ảnh 2.

    4. Marketing không có nghĩa là khách hàng sẽ biết đến

    Có thể bạn đã thấy một số công ty khởi nghiệp bằng cách đổ tiền vào quảng cáo ở khắp mọi nơi. Có quảng cáo trên TV, quảng cáo trên internet, biển quảng cáo và đại loại vậy. Tuy nhiều người biết đến nhưng lại ít người mua. Cuối cùng, doanh số không thể bù đắp cho số tiền họ bỏ ra.

    Điều này dẫn đến tình trạng cạn kiệt ngân sách. Khi một doanh nghiệp hết tiền, không có thu nhập hợp lý thì cái kết đã gần kề. Marketing nhiều hơn cũng chẳng mang lại nhiều khách hàng hơn.

    Thông thường, nếu bạn tạo ra một sản phẩm tốt hơn và quảng cáo nó (giống như các công ty lớn làm) thì bạn sẽ vượt qua tất cả các đối thủ cạnh tranh. Nhưng cuối cùng nhiều người cũng nhận ra được rằng điều này không đúng. Có rất nhiều sản phẩm và dịch vụ tốt hơn đã thất bại.

    Làm sao để khách hàng mua hàng là một nghệ thuật. Các doanh nhân nếu không hiểu tầm quan trọng của nghệ thuật này thì rồi cũng sớm quay trở lại làm nhân viên.

    5. Cuộc đua không bao giờ có sự công bằng

    Mọi người hy vọng một trò chơi kinh doanh công bằng. Có lẽ vì những gì họ đã được dạy ở trường. Nhưng trong thế giới thực, cuộc đua này không bao giờ là công bằng.

    Ví dụ là một doanh nhân đã mang một sản phẩm độc đáo ra thị trường nhưng đã không nộp hồ sơ cho bằng sáng chế trước đó. Một đối thủ khôn ngoan đã bí mật nộp đơn xin cấp bằng sáng chế và có được bằng. Sau đó, họ sản xuất phiên bản của riêng họ và kiện chính công ty nghĩ ra sản phẩm này.

    Nghe đau lòng nhưng chuyện này hoàn toàn có thật. Cuộc đua sẽ không công bằng. Có những công ty thích giày vò các doanh nghiệp trẻ. Để đánh bại họ cần rất nhiều can đảm. Nhiều doanh nhân chỉ đơn giản là không có sự can đảm đó, đặc biệt là khi họ đã phạm sai lầm khi bắt đầu kinh doanh.

    6. Thế giới không thích thay đổi (nhưng chuyển động rất nhanh)

    Thế giới là một nơi thú vị. Một giây trước mọi người đang thích mua sản phẩm của bạn, và giây sau, sản phẩm của bạn đã lỗi thời. Rồi sau đó, mọi người bắt đầu hứng thú với sản phẩm bạn đã giới thiệu 2 năm về trước. Lúc đó, không một ai thích nó. Nhưng bây giờ, người người mua nó. Thế giới là như vậy.

    Thế giới không thích thay đổi, nhưng nó chuyển động rất nhanh. Không có một dự đoán nào chắc chắn. Những người dự đoán tương lai thường lỗ rất nhiều. Điều này do các nguyên tắc cơ bản mà các giả định của họ dựa trên cũng có thể thay đổi. Các chuyển động là quá khó lường.

    Một giây trước, bạn có được một khách hàng lớn. Giây sau bạn mất cả 2 khách hàng lớn và họ nắm giữ 75% doanh thu của bạn. Đây không phải là chuyện đúng sai. Các khách hàng có thể chuyển văn phòng hoặc họ có thể sáp nhập với một công ty khác. Chính mức độ không chắc chắn này đẩy các doanh nhân đến bờ vực.

    7 bài học xương máu khiến doanh nhân bỏ lại sự nghiệp quay về công việc làm thuê - Ảnh 3.

    7. Được biết đến cũng đã là một thành công

    Hầu hết các doanh nhân vẫn là doanh nhân bởi vì họ đã không nhận được một lời đề nghị tốt. Nếu bạn nhận được một lời đề nghị việc làm gấp 4 lần thu nhập của bạn hiện tại, bạn vẫn sẽ tiếp tục chứ? Một số doanh nhân thậm chí hối tiếc vì đã từ chối một đề nghị nào đó.

    Một trong những nhận thức tinh tế của các doanh nhân mọi thời đại là việc được biết đến cũng đã là một thành công. Hầu hết mọi người lý tưởng hoá về kinh doanh. Và sau đó, họ muộn màng nhận ra, được người ta biết đến cũng là một thành công rồi.

    Được biết đến và trở lại làm nhân viên không phải là một điều xấu. Nhưng nhiều người không nhận ra điều đó cho đến khi mọi chuyện đã quá muộn. Một số người cuối cùng nhận ra được điều này, nhưng không có điều kiện thuận lợi bằng những người đã nhận ra nó sớm hơn.

    Ngoài ra còn có thêm một số lý do khác khiến các doanh nhân quay trở lại làm nhân viên. Nhưng tôi hy vọng bạn đừng quá cứng đầu và phải gặp lại những bài học xương máu trên.

    Theo: Nhịp sống kinh tế

  • Doanh nghiệp Việt có 100 đồng đi vay 65 đồng?

    Ông Nguyễn Quang Thuân cho rằng tỷ lệ này khá an toàn và nó được thống kê từ hơn 1.000 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam…

     

     

    Ông Nguyễn Quang Thuân

    BẠCH HUỆ

    17/01/2020 14:43

    Giới kinh tế những ngày đầu năm 2020 đã có nhiều ý kiến trái chiều xung quanh quan điểm và số liệu công bố của một nhóm chuyên gia độc lập, GDP mỗi năm làm ra không đủ để trả lãi vay.

    Để làm rõ quan điểm này, VnEconomy có tham vấn quan điểm của ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc của FiinGroup – đơn vị sở hữu kho dữ liệu về kinh tế, doanh nghiệp rất lớn tại Việt Nam. 

    Giới kinh tế hiện đang khá lo lắng về số nợ của doanh nghiệp phi tài chính được đưa ra bởi một nhóm các chuyên gia độc lập cho thấy tổng dư nợ của nhóm doanh nghiệp phi tài chính tính đến hết năm 2017 đạt 13,8 triệu tỷ đồng, tổng nguồn vốn hơn 22 triệu tỷ đồng. Dữ liệu của Fiin về tổng nợ của khối doanh nghiệp trong nước nói chung và các doanh nghiệp niêm yết trên 3 sàn hiện nay thì khối nợ đáng lo không?.

    Dữ liệu từ Fiin cho thấy, 1.019 doanh nghiệp niêm yết trên 3 sàn chứng khoán tại Việt Nam thì hệ số nợ vay/vốn chủ (Debt/Equity) của khối doanh nghiệp đại chúng Việt Nam đang ở mức 0,65 lần. Tức là cứ có 100 đồng vốn tự có thì các doanh nghiệp đi vay ngân hàng hoặc vay chủ nợ khác 65 đồng và được gọi là nợ vay. Số nợ vay này nếu xem trong báo cáo tài chính thì nó thường bao gồm vay ngắn hạn và vay dài hạn trên bảng cân đối kế toán.

    Mức độ đòn bẩy tài chính này thì có thể nói về lý thuyết đây là ngưỡng an toàn vì nó thấp hơn 1x. Tuy nhiên, để đánh giá cụ thể thì nó tùy thuộc vào các yếu tố khác cũng như là đặc thù của ngành. Chẳng hạn, ngành bất động sản lại có xu hướng giảm và hiện ở mức 0,57 lần vào cuối quý 3/2019 (dữ liệu được tính cho 110 công ty bất động sản bao gồm các tên tuổi lớn nhất như VinGroup, Sun Group, Novaland, Nam Long…).

    Nguyên nhân xuất phát từ các chủ đầu tư bất động sản đã chủ động giảm tỷ lệ sử dụng vốn vay và chuyển hướng để khách hàng mua nhà vay thông qua các chương trình hợp tác 3 nhà: chủ đầu tư, ngân hàng và khách hàng mua nhà. Số dư nợ vay riêng cho khách mua nhà đã tăng rất mạnh trong 5 năm qua hiện chiếm khoảng 13,14% tổng dư nợ toàn ngành trong khi tổng dư nợ vay cho các chủ đầu tư hay doanh nghiệp bất động sản chỉ chiếm 6,1% tổng dư nợ vay toàn ngành. Do đó, đánh giá rủi ro của ngành bất động sản sẽ không chỉ tập trung ở phía doanh nghiệp hay chủ đầu tư mà chúng ta cần nhìn bức tranh rộng hơn đó là đến cả hàng trăm ngàn khách hàng vay mua nhà.

    "Doanh nghiệp Việt có 100 đồng đi vay 65 đồng" - Ảnh 1.

    Mức độ đòn bẩy của các công ty đại chúng 5 năm qua 2015 – 2019. Dữ liệu từ FiinGroup

    Xét về hệ số khả năng trả lãi vay (Interest Cover), theo dữ liệu của FiinGroup thì hiện hệ số này cũng của ngành bất động sản ở mức 3,5 lần cho năm 2018. Theo đó, doanh nghiệp cứ làm ra 3,5 đồng thì dùng 1 đồng trả lãi vay. Đây là mức có thể nói về khá là an toàn trên bình diện chung!

    Tuy nhiên, chúng tôi dự kiến năm 2019 này sẽ giảm nhẹ do tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) và lợi nhuận trước khấu hao, thuế và lãi vay (EBITDA) đang có dấu hiệu giảm tốc.

    Các nhận định này có được nhờ chúng tôi có thống kê và phân tích số liệu cho 3.000 công ty đại chúng tại Việt Nam định kỳ hàng quý và hàng năm qua. Khi mở rộng ra cơ sở dữ liệu cho khoảng 200.000 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam cũng cho kết quả tương tự. 

    Đó là với khối doanh nghiệp, còn hệ số đó với cả nền kinh tế thì sao. Ông nghĩ sao về quan điểm tăng GDP không đủ trả lãi vay hàng năm?

    Đòn bẩy tài chính chỉ nên được xem xét ở dư nợ vay bao gồm các khoản phải trả lãi vay thay vì tổng mức công nợ của doanh nghiệp gồm nhiều hạng mục không có bản chất là “đi vay” theo nghĩa là trách nhiệm phải trả nợ ví dụ như doanh thu trả chậm, khách hàng – nhà cung cấp trả trước…

    Việc dùng tổng công nợ để tính áp lực chi phí lãi vay mà một doanh nghiệp hay cả nền kinh tế phải trả là không hợp lý. Ví dụ nếu như tổng vốn chủ sở hữu 8,5 triệu tỷ đồng cuối năm 2017, của khối doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam là đúng thì nếu áp dụng hệ số D/E của các công ty đại chúng ở mức 0,65 lần thì số nợ vay sẽ ở mức 5,5 triệu tỷ đồng, chứ không phải là 13,8 triệu tỷ đồng.

    Ước tính trên của chúng tôi dựa trên hệ số D/E của các công ty đại chúng. Nhưng thực tế các doanh nghiệp chưa niêm yết theo chúng tôi, có mức đòn bẩy thấp hơn vì các doanh nghiệp đại chúng hầu hết là các doanh nghiệp tốt và có định mức tín nhiệm cao hơn và do đó có thể được vay nhiều hơn.

    Và nếu tính cả phần nợ Chính phủ (khoảng 3,4 triệu tỷ đồng) thì tổng nợ vay là vào khoảng 8,9 triệu tỷ đồng, tức tương đương 380 tỷ USD.

    Để đánh giá khả năng trả nợ của quốc gia thì nên xem xét quy mô giữa tổng chi phí lãi vay phải trả (ước tính là 34 tỷ USD (380 tỷ USD * 9%). Nếu so với giá trị GDP danh nghĩa là 277 tỷ USD thì rõ ràng mức hệ số GDP/Chi phí lãi vay của toàn nền kinh tế hiện đang ở mức 8,1 lần.

    Việc dùng tỷ lệ tăng trưởng 7% của GDP để tính và so sánh với chi phí lãi vay của toàn nền kinh tế là không hợp lý. Lý do là GDP, theo bản chất của nó, đã là giá trị tăng thêm dù các nhà kinh tế học có tính toán theo phương pháp nào đi chăng nữa.

    Dĩ nhiên, theo chúng tôi được biết thì trong số nợ vay của doanh nghiệp cũng như nợ Chính phủ thì không phải khoản nợ nào cũng phát sinh và phải trả lãi. Chẳng hạn, các khoản vay ưu đãi trong nội bộ tập đoàn lớn và kể cả nợ Chính phủ vốn chiếm 52% GDP thì cũng có nhiều khoản nợ mà Chính phủ Việt Nam không phải trả lãi hoặc ưu đãi hoặc ân hạn.

    GDP năm 2019 của Việt Nam được Chính phủ công bố khoảng 277 tỷ USD, Việt Nam vẫn thuộc nhóm tăng trưởng top đầu khu vực và thế giới? Nền kinh tế Việt đang tăng trưởng dựa nguồn lực nào và tăng trưởng đó so với khối nợ thì sao – có đảm bảo khả năng trả nợ, thưa ông?

    Ở góc độ “cầu kéo” cho sự tăng trưởng GDP các năm gần đầy thì như nhiều nhà kinh tế đã phân tích thì tăng trưởng GDP của Việt Nam chủ yếu đến từ tăng trưởng xuất khẩu và cầu về tiêu dùng và đầu tư của khối tư nhân trong bối cảnh đầu tư công chậm lại.

    Ở góc độ “nguồn cung” cho tăng trưởng kinh tế thì cũng rõ ràng là khối doanh nghiệp tư nhân, trong đó đặc biệt là các tập đoàn kinh tế tư nhân mới nổi gần đây và khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp giá trị gia tăng cho phát triển kinh tế.

    Xét trên góc độ về đánh giá khả năng trả nợ thì rõ ràng là chúng ta cần xem xét khối doanh nghiệp tư nhân trong nước thay vì khối FDI. Lý do là Nợ vay khối FDI có quy mô nhỏ hơn và thường gắn với sự hỗ trợ tài chính của các tập đoàn mẹ của họ.

    Việc xem xét đánh giá khối doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam cần tổng thể chứ không thể dựa vào một vài chỉ tiêu tài chính và kết luận được điều gì. Tuy nhiên, số liệu của chúng tôi cũng chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận kế toán vẫn tốt, nhưng chất lượng của lợi nhuận hàng quý đang có dấu hiệu đi xuống.

    "Doanh nghiệp Việt có 100 đồng đi vay 65 đồng" - Ảnh 2.

    Tăng trưởng doanh thu đang thấp dần theo từng quý của nhóm doanh nghiệp bất động sản

    Theo: vneconomy

  • Kinh doanh như Thế Giới Di Động: Thay đổi hay là chết?

    Trong thời gian ngắn hạn gần đây, Thế Giới Di Động vật lộn với những thay đổi nhằm tạo doanh thu trong bối cảnh thị trường không dễ ăn như xưa, mặc dù họ đã có tầm nhìn dài hạn khi mở các chuỗi để kiếm tiền trong tương lai.

    rong các buổi họp với các nhà phân tích, khi được hỏi về kế hoạch phát triển trong vài ba năm tới, ông Nguyễn Đức Tài – đồng sáng lập và chủ tịch HĐQT Thế Giới Di Động (HOSE: MWG) – thường trả lời ước lượng trong vòng một năm, vì cho rằng công việc kinh doanh bán lẻ, nhất là mảng công nghệ, vận động cực kỳ nhanh chóng, công ty buộc phải thích nghi và thay đổi hàng ngày, do đó không lên kế hoạch dài hạn.

     

    “Chả nhẽ giờ tôi bỏ dữ liệu vào file Excel xong rồi dự báo cho các bạn kết quả 3 năm, 5 năm sau? Như vậy dễ quá và không thật, không thực tế”, ông Tài nói.

    “Kinh doanh như thuyền ngược dòng sông vậy, bạn không bơi đi thì tất sẽ lùi lại”, người nắm giữ cổ phần lớn nhất tại Thế Giới Di Động phân tích.

    Từ một chuỗi bán lẻ điện thoại đơn thuần, Thế Giới Di Động bắt đầu bán laptop, sau đó lấn sân sang bán lẻ điện máy. Tiếp đến, mở chuỗi bán lẻ Bách hoá Xanh, mua vào chuỗi nhà thuốc An Khang. Thế Giới Di Động đã thử và dẹp bỏ hàng loạt mô hình. Vì vậy, có thể nói “thay đổi” chính là từ khoá ổn định nhất ở chuỗi bán lẻ này.

    Ông Nguyễn Đức Tài (đứng) và những nhân sự chủ chốt nhất của MWG tại đại hội cổ đông của công ty năm 2019. Ảnh: Hải Đăng

    Những thay đổi từng ngày ở chuỗi Bách hoá Xanh
    Lấy khách hàng làm trung tâm, chuỗi bán lẻ Thế Giới Di Động thường xuyên thay đổi để thích nghi và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người đi mua sắm.

    Chẳng hạn tại các shop Bách hoá Xanh đang được Thế Giới Di Động vận hành, chuỗi này vẫn thường xuyên thay đổi để phù hợp với các yêu cầu mới nhất.

    Với một cửa hàng ở góc đường Quách Thị Trang (Tân Bình, TP.HCM), năm ngoái khi đi ngang người ta có thể thấy cửa hàng được bài trí đồ khô ở gần cổng ra vào, nhưng sau đó thịt cá được ưu tiên bày ra trước. Hay sau đó, góc tường cũ được đập đi thay bằng mặt kính để tận dụng hai mặt tiền đường.

    Ông Đoàn Văn Hiểu Em, CEO Cty CP Thế Giới Di Động (chung tập đoàn, không phụ trách Bách hoá Xanh), nhân câu chuyện đó từng nói: “Anh cứ đi qua cửa hàng đó và để ý, việc thay đổi sẽ diễn ra đều đặn, âm thầm nhưng hiệu quả. Chủ yếu để hút khách nhiều nhất, tiện cho khách mua sắm nhất”.

     

    Thế Giới Di Động là một trong những chuỗi bán lẻ rất sẵn lòng thử cái mới. Chẳng hạn tại Bách hoá Xanh từng thử nghiệm mô hình “rô-bốt” giữ xe. Giải thích việc này, ông Tài cho rằng khách đi “chợ” Bách hoá Xanh thường vào nhanh rồi ra, không cần nhân viên bảo vệ tiếp đón như ở chuỗi Thế Giới Di Động. Do đó, chuỗi này thử nghiệm mô hình khách vào tự khoá bánh xe vào rãnh có sẵn, máy sẽ tự động nhả thẻ để sau khi mua sắm khách có thể lấy xe về.

    Tuy nhiên đến nay mô hình này không được nhân rộng, có lẽ do máy giữ xe tự động yêu cầu mặt bằng rộng, và khách hàng rõ ràng chưa sẵn sàng với việc tự động khoá xe so với việc được một nhân viên bảo vệ giữ xe giúp.

    Vì vây, có thể nói, Bách hoá Xanh chính là bài toán phát triển tiếp theo của Thế Giới Di Động trong bối cảnh mặt hàng công nghệ đang tăng trưởng chậm lại. Trong các chuỗi bán lẻ công nghệ hiện tại, chỉ mỗi Thế Giới Di Động chịu lấn sân sang lĩnh vực mới mẻ hoàn toàn sớm nhất.

    Từ thời điểm mở Bách hoá Xanh cách đây 5 năm, chuỗi này gánh chịu những nghi ngờ từ các nhà đầu tư, dẫn đến cổ phiếu lao đao vài phen, nhưng do những kết quả đạt được gần một năm trở lại, mã MWG đã bắt đầu tăng lại và đạt các mốc cao lịch sử.

    Lấn sang lĩnh vực điện máy khi các chuỗi vẫn yên tâm bán điện thoại

    Từ một chuỗi chỉ thuần bán điện thoại và laptop, Thế Giới Di Động cũng nhanh chóng lấn sân sang thị trường điện máy với việc mở thêm chuỗi Điện máy Xanh hồi năm 2010, thời điểm mà các chuỗi bán lẻ di động vẫn sống khoẻ, không phải lo cho tương lai.

    Điều này cho thấy một mâu thuẫn nhỏ trong lời ông Tài. Dù rằng không đưa ra các dự báo tương lai xa, nhưng chuỗi này rõ ràng nhìn trước được viễn cảnh bão hoà của bán lẻ điện thoại và nhanh chóng thay đổi, tìm kiếm các nguồn doanh thu mới ngay khi cảm nhận được những khó khăn có thể xảy ra trong tương lai.

    Từ một chuỗi điện máy nhỏ, đóng vai phụ cho Thế Giới Di Động, đồng thời cực kỳ non trẻ so với các chuỗi Nguyễn Kim, Điện máy Chợ Lớn, Thiên Hoà, Trần Anh, Pico,… Điện máy Xanh sau vài năm thử nghiệm đã bứt tốc và trở thành chuỗi có thị phần lớn nhất hiện nay, chiếm gần 40% thị phần.

    Khi lĩnh vực điện máy vẫn tăng trưởng nhưng không còn như xưa, Thế Giới Di Động lập tức đầu tư mạnh vào Bách hoá Xanh. Nửa cuối năm 2018, công ty lập tức thay đổi CEO. Đưa ông Trần Kinh Doanh, CEO dày dạn kinh nghiệm của Thế Giới Di Động sang vận hành chuỗi Bách hoá Xanh để tìm kiếm doanh thu cho tương lai xa. Chuỗi Thế Giới Di Động và Điện máy Xanh được giao lại cho người trẻ hơn là ông Đoàn Văn Hiểu Em, với nhiệm vụ duy trì doanh thu cho tập đoàn trong vài năm sau đó.

    Để đảm bảo kế hoạch kinh doanh, kể từ khi nhận chức CEO Cty CP Thế Giới Di Động, chuỗi có doanh thu chủ lực cho tập đoàn, ông Hiểu Em đã thực hiện hàng loạt thay đổi. Trong đó có sự đổi mới cách trưng bày hàng hoá để đặt được nhiều sản phẩm hơn, tận dụng được diện tích hơn; chuyển đổi các cửa hàng nhỏ thành cửa hàng Điện máy Xanh lớn, hoặc chuyển Thế Giới Di Động thành Điện máy Xanh. Kết quả, doanh thu tăng trung bình 30% ở các cửa hàng có nâng cấp. Những việc “nhỏ nhặt” này sẽ khó thấy ở các chuỗi bán lẻ khác.

    Có thể nói, những thay đổi nhỏ hàng ngày cộng với chiến lược dài hạn đã khiến chuỗi Thế Giới Di Động giữ được sự mới mẻ nhất định, dần hoàn thiện hơn và giữ được đà tăng doanh thu, lợi nhuận hai con số hàng năm.

    Theo ICTNews

  • Sản xuất nông nghiệp trước tác động của dịch COVID- 19: Kỳ II- Mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu

    (BGĐT) – Bắc Giang chưa bước vào thời kỳ cao điểm chăm sóc cây trồng cũng như thu hoạch nông sản xuất khẩu nhưng sản xuất nông nghiệp đã bước đầu bị tác động gián tiếp bởi “cơn bão” Covid-19. Để hạn chế thiệt hại rất cần có những  giải pháp trước mắt, lâu dài nhằm phát triển nông nghiệp bền vững. 

    Nông sản chủ lực phát huy lợi thế

    Qua các dẫn chứng và phân tích ở phần trước, có thể thấy, dịch Covid -19 đã tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Vì lo ngại dịch Covid -19 tiếp tục xâm nhập vào nước ta nên Chính phủ đã hạn chế xuất, nhập khẩu với Trung Quốc. Tuy nhiên, chính điều này đã giúp chúng ta kiểm soát, hạn chế lượng lớn hàng nhập lậu như: Rau, củ, quả… nhập về từ nước bạn. Do đó nhiều mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh gồm rau xanh, thịt lợn đã tăng giá ở mức cao.

    Dây chuyền chế biến dưa chuột bao tử xuất khẩu của Công ty G.O.C.

    Dây chuyền chế biến dưa chuột bao tử xuất khẩu của Công ty G.O.C.

    Nếu như những năm trước, vào dịp giêng, hai, rau xanh thường rất rẻ. Trái lại, năm nay, từ sau Tết đến nay giá rau luôn đạt mức cao. Đơn cử như rau cần Hoàng Lương (Hiệp Hòa) giá tăng gấp 10 lần. Bình quân mỗi sào cần hiện thu lãi khoảng 25 triệu đồng. Ở vùng chuyên canh rau thuộc các xã Cảnh Thụy, Tiến Dũng (Yên Dũng); Thái Đào (Lạng Giang), Song Mai (TP Bắc Giang); Chu Điện, Bảo Đài (Lục Nam), nông dân thu rau đến đâu, thương lái mua hết đến đó với giá cao. Bà Nguyễn Thị Bẩy, xã Chu Điện- chuyên thu gom rau cung cấp cho thị trường Thái Nguyên, Quảng Ninh nói: “Dạo này nhiều khách đặt song tôi không đủ hàng cung cấp. Để giữ mối làm ăn, tôi phải chuyển cho các bạn buôn một phần, bởi rau khan quá”.

    Hiện khoai tây cũng có giá khá cao, từ 15-20 nghìn đồng/kg. Một số người dân ở xã Cảnh Thụy đã năng động tích trữ khoai thương phẩm trong kho lạnh. Do chênh lệch giá, nhiều hộ thu bộn tiền. Anh Nguyễn Văn Tùng, chủ kho lạnh tại xã Cảnh Thụy cho hay: “Vụ đông vừa qua, khoai tây không được giá như năm trước nên sau khi thu hoạch tôi trữ trong kho lạnh. Rất may, giờ đây khoai tăng giá nên với hơn 200 tấn, tôi thu thêm gần một tỷ đồng”.

    Cùng với sản phẩm trồng trọt, gà thịt các loại của Bắc Giang vẫn tiêu thụ ổn định. Ông Nguyễn Văn Đông, Trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT Yên Thế cho biết, vài tháng nay, giá gà trong huyện dao động từ 57-90 nghìn đồng/kg (tùy loại); trừ chi phí, người nuôi lãi khoảng 15-20 triệu đồng/một nghìn con.

    Củng cố chất lượng hàng hóa, khơi thông thị trường nội địa

    Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, nhằm giảm thiểu thiệt hại về sản xuất, một số tổ chức, cá nhân đã chủ động thực hiện các giải pháp. Về phía người chăn nuôi vịt đã tạm ngừng vào đàn mới. DN chế biến nông sản đang tìm nguồn và đơn hàng mới ngoài đối tác Trung Quốc. 

    dịch viêm đường hô cấp, Covid-19, sản xuất nông nghiệp, Bắc Giang, chăn nuôi

    Chúng ta phải điều chỉnh từ sản xuất đến thị trường và chất lượng hàng nông sản. Hàng nông sản phải đi từ gốc, đó là sản xuất an toàn, điều chỉnh quy mô cho phù hợp với thị trường, đặc biệt là trong tình hình dịch Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp như hiện nay”.

    Ông Dương Thanh Tùng, Giám đốc

    Sở Nông nghiệp và PTNT.

    Đó là trong ngắn hạn, nếu dịch bệnh Covid-19 kéo dài thì kinh tế nông nghiệp của Bắc Giang sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Viễn cảnh, nếu dịch Covid-19 tiếp diễn tới thời điểm thu hoạch vải thiều thì chắc chắn Bắc Giang sẽ khó tiêu thụ do thương nhân Trung Quốc không thể sang thu mua. Trong khi dự báo năm nay vải sẽ được mùa. Thực tế, từ nhiều năm qua, lượng vải thiều của Bắc Giang xuất sang Trung Quốc chiếm tỷ lệ cao.

    Theo ông Dương Thanh Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, ngành đang triển khai tổ chức lại sản xuất, không để nguồn cung quá lớn. Các địa phương cần giảm diện tích, sản lượng các loại hàng có thể xuất khẩu sang Trung Quốc như: Dưa hấu, sắn, gia cầm… 

    Theo đó, người chăn nuôi không nên vào đàn ồ ạt bởi ngoài việc ảnh hưởng tiêu thụ do dịch Covid-19 thì dịch cúm gia cầm có nguy cơ cao xuất hiện tại tỉnh. Bên cạnh đó, ngành chức năng cần phối hợp, tăng cường kiểm soát lưu thông thị trường, không để gà giống, gà thương phẩm mang mầm bệnh vào (kể cả đi qua) địa bàn Bắc Giang.

    Thuốc bảo vệ thực vật của Công ty TNHH Việt Thắng được đóng thùng trước khi xuất bán.

    Thuốc bảo vệ thực vật của Công ty TNHH Việt Thắng được đóng thùng trước khi xuất bán.

    Với điều kiện hiện nay, tất cả hàng nông sản của Bắc Giang sẽ tập trung cao cho thị trường nội địa thông qua các kênh phân phối. Bắc Giang có thuận lợi là nằm sát các TP đông dân như: Hà Nội, Thái Nguyên, Quảng Ninh, có nhu cầu thực phẩm lớn. Nhằm tạo được chỗ đứng trong thị trường nội địa, bắt buộc hàng nông sản trong tỉnh phải bảo đảm về chất lượng. Năm nay sẽ là năm trọng tâm nâng cao chất lượng nông sản.

    Để đạt mục tiêu đặt ra, ngành nông nghiệp sẽ huy động nguồn lực, tập trung chỉ đạo, tập huấn, xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện để nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm (ATTP) cho nông sản. Xây dựng kế hoạch tổng thể về nâng cao chất lượng nông sản của Bắc Giang; khâu nối các chi cục trực thuộc, Phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện nhằm tạo bước đột phá về chất lượng ATTP. Không để vùng trọng điểm sản xuất nông sản hàng hóa của cả nước lại chỉ có 42% sản phẩm đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.

    Về xuất khẩu vải thiều, Sở Nông nghiệp và PTNT sẽ phối hợp với các sở, ngành liên quan mở rộng đến các thị trường mới. Cụ thể, Sở Nông nghiệp, Sở Công Thương xây dựng kế hoạch sản xuất và xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Nếu vải thiều của Bắc Giang vào được thị trường Nhật Bản thì đồng nghĩa cơ hội tiếp cận các thị trường khác sẽ được mở ra. Cùng đó, Bắc Giang cần tập trung cho tiêu thụ vải tại thị trường trong nước.

    Hiện ngành nông nghiệp vẫn chỉ đạo sản xuất đồng đều, tránh hẫng vụ, đặc biệt là trong chăn nuôi gia cầm vì Bắc Giang là vùng sản xuất gà lớn, cung cấp cho thị trường cả nước, đồng thời phòng, chống dịch bệnh tốt để tránh bị thiệt hại kép.

    Trên tinh thần chủ động, Sở Công Thương đã xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại tiêu thụ vải thiều và các sản phẩm đặc trưng, chủ lực của tỉnh ở trong và ngoài nước. Đồng thời đề nghị Bộ Công Thương hỗ trợ tìm các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ vải thiều cho năm 2020 và những năm tiếp theo.

    Cụ thể, về tiêu thụ tại thị trường trong nước: Mời gọi, kết nối các hệ thống phân phối, bán buôn và bán lẻ, hệ thống kinh doanh các cửa hàng tiện ích, chợ đầu mối, các thương nhân tiêu thụ nông sản… tham gia tiêu thụ vải thiều nói riêng và các sản phẩm chủ lực của tỉnh Bắc Giang nói chung; đẩy mạnh tiêu thụ nông sản ở thị trường nội địa trong tình hình hiện nay, hướng tới cơ cấu thị trường hợp lý, đa dạng giúp quả vải có được thị trường tiêu thụ ổn định và bền vững.

    Về xuất khẩu, tiếp tục hỗ trợ các hoạt động dự báo, xúc tiến tiêu thụ tại thị trường truyền thống (Trung Quốc) và các thị trường tiềm năng. Mời gọi, kết nối các tập đoàn phân phối của thế giới (Aeon, Walmart, Mega Market, Lotte, Emart, Central Group,…) tham gia tiêu thụ vải thiều của tỉnh Bắc Giang; hỗ trợ khảo sát, tìm kiếm thị trường, giúp quảng bá sản phẩm vải thiều và thông tin về cơ chế chính sách, điều kiện, tiêu chuẩn (bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc,…) để xuất khẩu quả vải sang các thị trường khó tính (Nhật Bản, EU, Mỹ, Úc,…), thị trường tiềm năng (Nga, Trung Đông, Ấn Độ, Myanma…).

    Ngoài những giải pháp trên, để giúp các hộ gia đình, DN vượt khó cần thêm một số giải pháp khác. Về vốn, ngành ngân hàng cần triển khai ngay việc hỗ trợ lãi suất, giảm nợ, giãn nợ cho hộ sản xuất, kinh doanh bị thiệt hại do tác động của dịch Covid-19. Ngành thuế cho hoãn hoặc gia hạn nộp thuế. Bảo hiểm xã hội quan tâm xem xét cho chậm nộp các loại bảo hiểm để DN có vốn tái tạo sản xuất, kinh doanh, trả lương người lao động.

    Chính quyền, ngành chức năng tổ chức gặp mặt, lắng nghe kiến nghị đề xuất của DN để tháo gỡ khó khăn; thực hiện đồng bộ các giải pháp về quản lý thị trường bảo đảm chất lượng vật tư phân bón cung ứng cho nông dân.

    Thực tế, dịch Covid-19 khiến kinh tế nông nghiệp của Bắc Giang gặp khó, chẳng khác gì “cơn bão” đang ập đến. Hy vọng từ trong khó khăn đó, chúng ta lại có cơ hội để cơ cấu lại sản xuất, củng cố chất lượng hàng nông sản.

    Theo: Nhóm PVKT – Báo Bắc Giang 

  • Sản xuất nông nghiệp trước tác động của dịch Covid-19: Kỳ 1- Đối mặt thách thức

    (BGĐT) – Dịch Covid-19 đang tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp của nước ta. Tại Bắc Giang, địa phương có vùng sản xuất hàng hóa tập trung cũng bị chi phối đáng kể. Không xuất khẩu được cộng với cung vượt cầu nên hiện nay giá nhiều mặt hàng nông sản đang “tụt dốc”. Doanh nghiệp (DN) xuất khẩu hàng hóa, cung ứng vật tư nông nghiệp cũng gặp trở ngại. Thực tế này khiến nông dân và DN đang phải đối mặt với nhiều thách thức. 

    Hàng nông sản rớt giá, tồn kho

    Do giá vịt xuống thấp nên nhiều chủ trang trại chăn nuôi lỗ nặng. Ảnh chụp tại một trang trại  ở xã Hợp Thịnh (Hiệp Hòa).

    Do giá vịt xuống thấp nên nhiều chủ trang trại chăn nuôi lỗ nặng. Ảnh chụp tại một trang trại  ở xã Hợp Thịnh (Hiệp Hòa).

    Chiều cuối tháng 2, chúng tôi về thôn Thọ Điền 1, xã Ngọc Thiện (Tân Yên). Dọc đường bê tông nội đồng là những đống ớt vừa được nhổ lên vứt chỏng chơ, trên cành vẫn còn nhiều quả chín đỏ, quả non và hoa khiến người chứng kiến không khỏi xót xa. Bà Nguyễn Thị Thái vừa đánh bật từng gốc ớt tại ruộng vừa nói: “Bây giờ một cân ớt chỉ bán 3-4 nghìn đồng nhưng phải nhặt sạch cuống mới được giá như vậy. 

    Tính ra vài tạ ớt thu về chỉ mấy trăm nghìn đồng nên tôi nhổ đi để trồng ngô”. Theo bà Thái, tầm này mọi năm, bình quân 30-35 nghìn đồng/kg ớt, vì thế phải đến cuối tháng 3 Âm lịch người dân mới phá ớt để trồng cây mới.

    Theo đại diện lãnh đạo xã Ngọc Thiện, toàn xã có hơn 100 ha ớt. Hiện nay, nông dân phá bỏ hơn 50% tổng diện tích cây trồng này, chuyển sang gieo rau, màu khác.

    Tương tự, tại các vùng trồng ớt khác thuộc địa bàn huyện Tân Yên, Việt Yên, Lạng Giang và Lục Nam cũng chung tình cảnh này. Một kg ớt dịp này giá chỉ bằng 1/3 so với trước Tết, 1/10 so với cùng kỳ năm ngoái. Nhiều năm trồng ớt để phát triển kinh tế, người dân xã Nghĩa Phương (Lục Nam) chia sẻ, lần đầu tiên giá ớt thấp như bây giờ. Vì vậy, không còn mấy người mặn mà với cây trồng này.

    Bà Nguyễn Thị Thái phá ớt bỏ đi khi trên cây vẫn còn nhiều quả.

    Bà Nguyễn Thị Thái phá ớt bỏ đi khi trên cây vẫn còn nhiều quả.

    Thời điểm này, những người chăn nuôi thủy cầm cũng đang chịu lỗ vì giá xuống thấp, thu không đủ chi. Trang trại nuôi vịt của gia đình anh Phạm Văn Phương, thôn Trung Tâm, xã Hợp Thịnh (Hiệp Hòa) mỗi lứa nuôi hàng nghìn vịt lai. Tưởng chừng đàn vật nuôi được bán sẽ cho anh khoản tiền lớn sau bao ngày chăm bẵm. Ai dè, đến lúc xuất chuồng, giá vịt lại “lao dốc”, còn 17 nghìn đồng/kg. Bán xô cả đàn, anh lỗ gần 80 triệu đồng. 

    Anh Phương cho biết: “Vịt đến lứa là phải xuất chuồng, nếu không càng nuôi càng lỗ. Với 3 nghìn con vịt mà nuôi cầm chừng thì mỗi ngày chi phí vài triệu đồng tiền thức ăn, chúng tôi không thể cáng nổi nên rẻ cũng phải bán”.

    Bắc Giang hiện có hơn 230 trang trại, hộ nuôi gà và hàng chục hộ nuôi vịt sinh sản với tổng lượng trứng trên 200 nghìn quả mỗi ngày. Giá trứng thương phẩm rẻ chỉ bằng một nửa so với trước, từ 1,5-1,7 nghìn đồng/quả. Ngoài ra, Bắc Giang còn có 30 cơ sở ấp nở và kinh doanh gà, vịt giống. Giá trứng, giá con giống gia cầm, thủy cầm thấp nên các cơ sở này cũng đang gặp bất lợi. 

    Đơn cử cơ sở ấp nở thủy cầm của gia đình anh Ngô Quang Luyến, thôn Tam Bình, xã Ngọc Thiện (Tân Yên) cũng đang hoạt động cầm chừng để giữ khách, chờ giá lên. Lò của anh mỗi ngày ấp nở 5 nghìn vịt con. Hiện giá vịt giống chỉ được 4-5 nghìn đồng/con nên cứ sau một phiên bán vịt (4 ngày) gia đình anh Luyến lỗ 80 triệu đồng. 

    Anh Ngô Quang Luyến, xã Ngọc Thiện (Tân Yên) chia sẻ khó khăn trong sản xuất với đại diện lãnh đạo xã Ngọc Thiện.

    Anh Ngô Quang Luyến, xã Ngọc Thiện (Tân Yên) chia sẻ khó khăn trong sản xuất với đại diện lãnh đạo xã Ngọc Thiện.

    Vậy nhưng, những năm qua để có nguồn cung duy trì 10 lò ấp hoạt động thường xuyên, gia đình anh liên kết với khoảng 20 hộ nuôi vịt sinh sản trong và ngoài xã. Do đó, dù lỗ anh vẫn nhập trứng cho các hộ. Anh Luyến chia sẻ: “Làm ăn có lúc được lúc mất. Nếu giờ mình không nhập trứng thì người nuôi thêm khó khăn, có thể bỏ nghề nên tôi phải chia sẻ lúc này mới sản xuất, kinh doanh bền vững được”.

     

    Nhiều DN xuất khẩu nông sản cũng như sản xuất vật tư nông nghiệp nhập nguyên liệu từ Trung Quốc đang đối mặt với không ít trở ngại. Riêng DN cung ứng phân bón thì thắc thỏm âu lo vì đã cấp phân bón trả chậm cho nông dân, nếu nông sản không tiêu thụ được, nhất là nông sản xuất khẩu thì khó thu hồi vốn.

     

    Sở dĩ nông sản khó tiêu thụ là do các lễ hội, cuộc gặp mặt, liên hoan… đầu xuân giảm mạnh; nhiều hàng quán, khu du lịch vắng khách bởi người dân lo ngại dịch Covid- 19 lan rộng. 

    Điều này đã ảnh hướng lớn đến việc tiêu thụ hàng hóa, trong đó có nông sản của Bắc Giang. Các trường học, nhất là những trường tổ chức bếp ăn bán trú cũng nghỉ học là một trong yếu tố chính khiến trứng ở nhiều trang trại xuống thấp, khó tìm đầu ra. 

    Khảo sát tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp (Bộ Công Thương); Trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên (TP Bắc Giang), mỗi tuần 2 trường này chế biến từ 3,5-4 nghìn quả trứng cho học sinh, sinh viên… Như vậy, việc học sinh nghỉ học đồng loạt trong vài tuần qua là một trong nguyên nhân khiến lượng trứng tiêu thụ giảm đáng kể. 

    Riêng với vịt thương phẩm, ngoài yếu tố lo ngại dịch bệnh còn do cung vượt cầu. Đàn vịt tăng nhanh ở các xã vùng trũng, ven sông. Chỉ tính tại Hiệp Hòa, tổng đàn vịt của huyện hơn 400 nghìn con, tăng gần 100 nghìn con so với cùng kỳ năm trước.

    Xuất khẩu hàng hóa, cung ứng vật tư gặp khó

    Do các cửa khẩu với Trung Quốc hạn chế xuất, nhập hàng qua biên giới vì dịch Covid-19 nên giá nông sản chuyên xuất khẩu đi Trung Quốc cũng rẻ, tiêu thụ không mấy dễ dàng như: Dưa hấu, sầu riêng, thanh long của các tỉnh phía Nam. Tại Bắc Giang, có nhiều quầy trưng biển giải cứu dưa hấu, sầu riêng cho bà con. Hội DN trẻ, Huyện Đoàn Hiệp Hòa, Thành Đoàn TP Bắc Giang cũng chung tay mua hàng chục tấn dưa hấu ủng hộ nông dân.

    Ông Nguyễn Văn Nam, Giám đốc HTX Sản xuất và Kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Vinh Quang, xã Cao Xá (Tân Yên) cho biết, trước đây, mỗi tháng HTX xuất khoảng 80 tấn ớt sang nội địa Trung Quốc song gần 2 tháng nay gặp trở ngại. 35 tấn hàng đã mua của bà con, HTX phải bảo quản trong kho lạnh. Qua mối liên hệ, sự giúp đỡ của bạn bè, HTX mới xuất được hàng sang thị trường Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc). 

    Một phần ớt còn lại của HTX được nghiền nhỏ, cung cấp cho cơ sở sản xuất tương ớt trong nước. Hay HTX Nông nghiệp tổng hợp Lục Nam hiện cũng gặp cảnh tương tự. Được biết, mỗi tuần HTX này xuất 20 tấn ớt sang Trung Quốc nhưng gần tháng qua không bán được cân nào trong khi vẫn phải thu mua ớt cho bà con. 

    Ông Hoàng Văn Diện, Giám đốc HTX cho hay, từ khi có dịch Covid-19, HTX của ông đã bị lỗ hơn 1 tỷ đồng vì ớt rớt giá. Điều ông Nam và ông Diện lo lắng nữa là toàn bộ chai, lọ đóng gói phải nhập từ Trung Quốc. Nếu dịch bệnh cứ tiếp diễn thì bao bì bảo quản sẽ không đủ để phục vụ sản xuất lâu dài. Vì thế, các HTX đang tính chuyển sang phương thức đóng gói bằng thùng nhựa hoặc gỗ để thay thế.

    Dù không xuất khẩu trực tiếp nông sản sang Trung Quốc nhưng Công ty cổ phần chế biến Thực phẩm xuất khẩu G.O.C, xã Tân Dĩnh (Lạng Giang) đang thiếu bao bì đóng gói hàng hóa. Một tháng qua, DN phải đàm phán, điều chỉnh lịch xuất hàng cho đối tác vì chai, lọ nhập về chậm. Ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc điều hành Công ty thông tin, mỗi tháng, đơn vị nhập hàng trăm nghìn lọ từ Trung Quốc để đóng gói dưa chuột, ớt chế biến xuất khẩu. Nếu kéo dài tình trạng như hiện nay thì hoạt động sản xuất có thể đình trệ vào giữa tháng 3, vì đây là thời điểm nông sản thu hoạch rộ. 

    Được biết, G.O.C là DN chế biến, xuất khẩu nông sản quy mô lớn nhất tại tỉnh, bình quân xuất khẩu 300 tấn nông sản/tháng. Để bảo đảm nguồn hàng, DN liên kết với hàng nghìn hộ sản xuất tại địa phương và các tỉnh, TP lân cận xây dựng vùng nguyên liệu. Điều này có nghĩa là nếu việc sản xuất, kinh doanh của DN có biến động sẽ kéo theo hàng nghìn nông dân cũng bị xáo trộn.

    Chưa có thống kê cụ thể song nguyên liệu để sản xuất thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong nước có nguồn gốc từ Trung Quốc khá lớn. Nếu sâu bệnh trên cây trồng diễn biến phức tạp thì nguy cơ cao thuốc BVTV không đủ cung cấp cho thị trường, giá bán tăng, đẩy chi phí đầu vào sản xuất lên cao. 

    Ông Lê Văn Thùa, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Việt Thắng – DN duy nhất tại tỉnh sản xuất, sang chai đóng gói thuốc BVTV chia sẻ, 60% nguyên liệu Công ty phải nhập từ Trung Quốc nên rất lo vì thiếu nguồn sản xuất thuốc thành phẩm. Hiện chưa vào thời kỳ đỉnh điểm chăm sóc cây trồng nhưng nếu trong vòng hơn một tháng nữa mà cửa khẩu với Trung Quốc hạn chế thông quan thì Công ty sẽ không còn hàng để cung ứng.

    Đánh giá chung cho thấy, nhiều DN xuất khẩu nông sản cũng như sản xuất vật tư nông nghiệp nhập nguyên liệu từ Trung Quốc đang đối mặt với không ít trở ngại. Riêng DN cung ứng phân bón thì thắc thỏm âu lo vì đã cấp phân bón trả chậm cho nông dân, nếu nông sản không tiêu thụ được, nhất là nông sản xuất khẩu thì khó thu hồi vốn. Dịch Covid- 19 như “cơn sóng ngầm”, âm thầm dâng cao, tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh.

    Theo: Nhóm PVKT – Báo Bắc Giang 

    (Còn nữa)

  • Doanh thu nhiều dịch vụ sụt giảm do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19

    (BGĐT) – Do chịu sự ảnh hưởng từ dịch bệnh Covid-19, doanh thu của nhiều dịch vụ trên địa bàn sụt giảm đáng kể. 

    Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, lượng khách đến Siêu thị BigC giảm mạnh.

    Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, lượng khách đến Siêu thị BigC giảm mạnh.

    Cụ thể trong tháng 2, tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ ước đạt 2.619 tỷ đồng, giảm 6,2% so với tháng trước, cộng dồn 2 tháng ước đạt 5.383 tỷ đồng. Hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác cũng giảm.

    Khảo sát tại Nhà hàng Anh Đào, đường Nguyễn Thị Lưu (TP Bắc Giang) cho thấy, từ sau Tết Nguyên đán Canh Tý 2020 đến nay lượng khách đến đặt ăn giảm khoảng 60% so với trước đó. Anh Phan Văn Lăng, quản lý nhà hàng chia sẻ: “Đơn vị có tổng số 17 lao động, một tháng nay do vắng khách nhà hàng đã cho nhân viên nghỉ làm luân phiên nhưng vẫn trả lương theo hợp đồng”.

    Các quầy thanh toán tại Siêu thị Co.opMart Bắc Giang vắng khách.

    Các quầy thanh toán tại Siêu thị Co.opMart Bắc Giang vắng khách.

    Có nhà hàng, quán ăn đã ngừng hoạt động như: Nhà hàng Trúc Mai, đường Hoàng Quốc Việt (TP Bắc Giang); một số đơn vị chỉ mở cửa nếu có khách đặt bàn trước.

    Doanh thu tại các khách sạn cũng giảm mạnh, điển hình tại Khách sạn Hoàng Gia, đường Hoàng Văn Thụ (TP Bắc Giang), hiện trung bình mỗi ngày chỉ có 5-7 khách sử dụng dịch vụ, giảm hơn một nửa so với thời điểm trước Tết.

    Hoạt động dịch vụ của các ngành nghề du lịch, vận tải, khu vui chơi, giải trí, trung tâm thương mại, siêu thị cũng trong tình trạng tương tự. Tại huyện Sơn Động, Công ty cổ phần Dịch vụ Tây Yên Tử hiện đang không khai thác được dịch vụ lễ hội.

    Theo đại diện lãnh đạo Sở Công Thương, nguyên nhân chính dẫn tới hoạt động thương mại dịch vụ của tỉnh sụt giảm trong thời gian qua là do ảnh hưởng của  dịch bệnh Covid-19. Các tổ chức, đơn vị đã dừng nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, lễ hội, người dân hạn chế đi lại, tụ tập để phòng, chống dịch. 

    Theo: Hoàng Phương – Báo Bắc Giang 

  • Mỗi ngày có 473 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giải thể

    Trong 2 tháng đầu năm, cả nước có gần 16.200 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước.

    Tổng cục Thống kê cho biết, 2 tháng đầu năm, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 16.200 doanh nghiệp, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 9.400 doanh nghiệp, giảm 31,4%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 2.800 doanh nghiệp, giảm 11,1%, trong đó, gần 90% là doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng. Như vậy, tính trung bình mỗi ngày, cả nước có 473 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, ngừng hoạt động chờ giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể.

    Mỗi ngày, cả nước có 473 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giải thể. (Ảnh minh họa)

    Mỗi ngày, cả nước có 473 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giải thể. (Ảnh minh họa)

    Các doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy; công nghiệp chế biến, chế tạo; xây dựng; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác; dịch vụ lưu trú và ăn uống; vận tải, kho bãi.

    Cũng theo Tổng cục Thống kê, trong tháng 2/2020, cả nước có 9.163 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 96,800 tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 73,100 lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 10,6 tỷ đồng, giảm 29% so với tháng trước và giảm 35,2% so với cùng kỳ năm trước.

    Tính chung 2 tháng đầu năm, cả nước có 17.400 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 220.000 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 157.500 lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 2 tháng đạt 12,6 tỷ đồng, giảm 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 421.000 tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 5.700 doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 2 tháng đầu năm 2020 là 641.000 tỷ đồng, giảm 26,2% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 11.900 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm 2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 2 tháng lên 29.400 doanh nghiệp, trung bình mỗi tháng có gần 14.700 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

    Tính theo khu vực kinh tế, trong 2 tháng đầu năm, có 265 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2019; 4.700 doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 8,4%; 12.500 doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 9,2%.

    Một số lĩnh vực hoạt động có số doanh nghiệp thành lập mới tăng: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy; xây dựng; dịch vụ lưu trú và ăn uống; vận tải, kho bãi; thông tin và truyền thông; giáo dục và đào tạo…

    Có 4 lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: y tế và hoạt động trợ giúp xã hội; kinh doanh bất động sản,; nghệ thuật, vui chơi, giải trí; hoạt động dịch vụ khác.

    Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, các cơ quan chức năng cần nỗ lực hơn nữa, vào cuộc để tăng tốc cải cách, phục vụ doanh nghiệp một cách hiệu quả, thực chất hơn nữa. Từ đó, thúc đẩy làn sóng khởi nghiệp, góp phần gia tăng quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế…

    Theo VOV

  • Bắc Giang: Thu hồi phù hiệu của taxi Hồng Hải trong 3 tháng

     

    (BGĐT) – Sau một thời gian kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe taxi đối với Chi nhánh Công ty cổ phần đầu tư và thương mại Hồng Hải (TP Bắc Giang), Sở Giao thông – Vận tải đã có quyết định thu hồi 52 phù hiệu taxi của doanh nghiệp này trong thời gian 3 tháng.

    Hơn 50 xe taxi của Chi nhánh Công ty cổ phần đầu tư và thương mại Hồng Hải đã bị thu hồi phù hiệu.

    Hơn 50 xe taxi của Chi nhánh Công ty cổ phần đầu tư và thương mại Hồng Hải đã bị thu hồi phù hiệu.

    Theo kết luận kiểm tra của Sở Giao thông – Vận tải, trong hai năm liên tiếp (2018 và 2019) Chi nhánh Công ty cổ phần đầu tư và thương mại Hồng Hải liên tục có những sai phạm về tổ chức hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi nhưng không chấp hành các quy định của pháp luật về kinh doanh vận tải.

    Không có bãi đỗ xe như trong phương án đã xây dựng; khi đưa xe vào hoạt động kinh doanh vận tải, không bảo đảm đủ số lượng phương tiện theo phương án kinh doanh đã được duyệt (phương án đăng ký đầu tư 250 xe, tuy nhiên năm 2019 doanh nghiệp có 84 phương tiện được Sở Giao thông – Vận tải cấp phù hiệu, đến thời điểm kiểm tra chỉ còn 52 phương tiện hoạt động).

    Không tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho lái xe, hợp đồng lao động làm việc với các lái xe không đúng với mẫu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Không đóng BHXH, BHYT cho người lao động, không tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho lái xe.

    Bộ phận quản lý, theo dõi điều kiện về an toàn giao thông không duy trì hoạt động theo quy định. Không chấp hành nghiêm túc các văn bản chỉ đạo, điều hành của Sở Giao thông – Vận tải về hoạt động kinh doanh vận tải.

    Không thực hiện việc kiểm tra, kẹp trì đồng hồ tính tiền, niêm yết giá vé trên một số xe; không tổ chức cho lái xe mặc đồng phục khi tham gia kinh doanh vận tải…

    Trao đổi với ông Hoàng Văn Trọng, cán bộ điều hành vận tải của Chi nhánh Công ty cổ phần đầu tư và thương mại Hồng Hải, được biết, đơn vị đã thu hồi một số phù hiệu để nộp về Sở Giao thông – Vận tải. Tuy nhiên, doanh nghiệp đã có văn bản khiếu nại về một số nội dung của kết luận kiểm tra. Đơn vị cũng đề nghị Sở Giao thông – Vận tải xem xét, giải quyết về những nội dung đó, bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Lập biên bản về việc đổ đất xây dựng cây xăng tại thôn Đức Thọ, xã Dương Đức

     

    (BGĐT)-Theo phản ánh của người dân, gần đây, doanh nghiệp (DN)- chủ đầu tư xây dựng cây xăng tại thôn Đức Thọ, xã Dương Đức (Lạng Giang) không tuân thủ biên bản đã lập của UBND xã. Tranh thủ ban đêm, DN thuê phương tiện đổ đất, gây bức xúc trong nhân dân.

    Người dân thôn Đức Thọ bức xúc DN đổ đất vào ban đêm trong khi chưa có văn bản chính thức của cơ quan chức năng huyện.

    Người dân thôn Đức Thọ bức xúc DN đổ đất vào ban đêm trong khi chưa có văn bản chính thức của cơ quan chức năng huyện.

    Cụ thể, trao đổi với phóng viên vào ngày 20-1, ông Lương Mạnh Dũng, Chủ tịch UBND xã thông tin, UBND xã Dương Đức lập biên bản thống nhất DN tạm dừng san lấp mặt bằng xây dựng cây xăng đến hết ngày 15-2 và khi nào có ý kiến, văn bản chính thức của cơ quan chức năng mới tiếp tục xây dựng. Tuy vậy, theo phản ánh của bà con thì DN đã không tuân thủ, thuê phương tiện san gạt, đổ đất vào ban đêm đã bị người dân trong thôn phát hiện. Theo đó, lãnh đạo thôn đã lập biên bản có sự tham gia của Công an xã Dương Đức, người điều hành máy. Hiện nay, việc san gạt đất không còn diễn ra. 

    Cơ quan chức năng huyện Lạng Giang, chính quyền xã Dương Đức cũng vừa làm việc với lãnh đạo thôn vào ngày 21-2 song chưa tìm được tiếng nói chung. Bà Phùng Thị Bài, Trưởng thôn Đức Thọ cho biết: “Tôi mong cơ quan chuyên môn của huyện, lãnh đạo xã Dương Đức tổ chức một buổi đối thoại trực tiếp với người, giải đáp thỏa đáng những khúc mắc. Họ luôn bảo đã làm đúng quy trình nhưng việc công khai trước dân lại không thực hiện”. 

    Trước đó, Báo Bắc Giang điện tử ngày 16-1 đăng bài: “San lấp mặt bằng xây dựng cây xăng tại xã Dương Đức (Lạng Giang): Người dân bức xúc, vì sao?” phản ánh về việc người dân thôn Đức Thọ, xã Dương Đức tập trung phản đối việc san lấp mặt bằng xây dựng cây xăng tại địa bàn.

    Ngoài ra, người dân còn thuê phương tiện dọn đất đã đổ xuống ao với yêu cầu trả lại hiện trạng đất ban đầu. Nguyên nhân của tình trạng này là do chính quyền sở tại thực hiện một số nội dung trong quá trình thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng chưa thực sự khách quan; thông tin chưa đầy đủ đến người dân.

    DN thực hiện xây dựng cây xăng là Công ty cổ phần Phát triển nông nghiệp Sông Thương (Lạng Giang). Công ty này ngoài sử dụng đất ruộng còn có một phần đất thuộc ao trũng, công trình phục vụ cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp để xây dựng công trình. Trong khi đó, người dân thôn Đức Thọ không nhất trí san lấp ao nhằm giữ nước canh tác.

  • Các doanh nghiệp Ba Lan tìm kiếm cơ hội hợp tác tại Bắc Giang

    Trước khi đến lớp, học sinh phải được đo thân nhiệt, nếu sốt thì chủ động ở nhà và thông báo cho nhà trường.

  • Một cán bộ Công ty Điện lực Bắc Giang may hơn 1.000 khẩu trang phát miễn phí

    (BGĐT)- Trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, khẩu trang y tế khan hiếm, chị Lương Thị Thanh Huyền, cán bộ Phòng Tài chính kế toán (Công ty Điện lực Bắc Giang) tranh thủ thời gian ngoài giờ làm việc may hơn 500 khẩu trang vải, phát miễn phí cho các cán bộ, công nhân viên (CBCNV) trong cơ quan và người dân xung quanh.

    Chị Lương Thị Thanh Huyền (đứng ngoài cùng bên phải) đang phát khẩu trang cho CBCVN Công ty.

    Chị Lương Thị Thanh Huyền (đứng ngoài cùng bên phải) đang phát khẩu trang cho CBCVN Công ty.

    Không những tự may khẩu trang phát miễn phí, chị Huyền còn cấp vải và kêu gọi một số thợ may khác cùng nhau may khẩu trang để phát cho mọi người. 

    Nhiều người hỏi chị, trong lúc khan hiếm khẩu trang sao không may để bán kiếm tiền, chị cười và chia sẻ: “Mình không bán mà chỉ may để phát miễn phí với mong muốn góp một phần nhỏ bé chung tay cùng cộng đồng phòng ngừa dịch bệnh”.

    Nhiều trường học trên địa bàn thành phố Bắc Giang biết thông tin trên đã liên hệ để đặt khẩu trang cho học sinh, hiện chị đang tập trung may 500 chiếc khẩu trang tặng Trường Dân tộc nội trú tỉnh Bắc Giang.

    Việc làm của chị Lương Thị Thanh Huyền tuy nhỏ bé nhưng thật ý nghĩa, đáng trân trọng, là hành động truyền cảm hứng đến CBCVN Công ty Điện lực Bắc Giang và cộng đồng.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Bí thư Tỉnh ủy Bùi Văn Hải chỉ đạo: Việt Yên phải làm tốt công tác quy hoạch đô thị và phát triển công nghiệp

    (BGĐT)- Sáng 21-2, đồng chí Bùi Văn Hải, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bắc Giang làm việc với BTV Huyện ủy Việt Yên về tình hình thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương từ sau Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2015-2020 đến nay. 

    Cùng dự có các đồng chí: Dương Văn Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Lại Thanh Sơn, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; Nguyễn Công Thức, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy; đại diện lãnh đạo một số sở, ban, ngành tỉnh.

    Đồng chí Bùi Văn Hải, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy phát biểu tại buổi làm việc.

    Đồng chí Bùi Văn Hải, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy phát biểu tại buổi làm việc.

    Đứng tốp đầu toàn tỉnh về tốc độ tăng trưởng

    Báo cáo của huyện chỉ rõ: Kinh tế của huyện giai đoạn 2016-2019 có bước phát triển mạnh, quy mô nền kinh tế được mở rộng. Cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm, các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ tăng lên. 

    Việt Yên là huyện thuộc tốp đầu của tỉnh về tốc độ tăng trưởng, giá trị sản xuất, đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp, xây dựng. Tính đến hết năm 2019, huyện có 22/23 chỉ tiêu giai đoạn 2016-2020 đã đạt và vượt kế hoạch đề ra. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nền kinh tế toàn huyện giai đoạn 2016-2019 là hơn 14,5%. 

    Huyện ủy đã chỉ đạo UBND huyện đưa ra các chủ trương lớn chưa có trong nhiệm vụ UBND tỉnh giao như: Phấn đấu về đích nông thôn mới; xây dựng huyện Việt Yên trở thành đô thị loại IV trực thuộc tỉnh và trở thành thị xã trong giai đoạn đến năm 2025. Kết quả minh chứng rõ nét nhất là huyện đã về đích nông thôn mới năm 2018, sớm hơn 2 năm so với mục tiêu đề ra. 

    Nhằm đáp ứng kịp thời về mặt bằng cho các chủ đầu tư thực hiện các dự án, huyện đã tập trung chỉ đạo thực hiện giải phóng mặt bằng các dự án phát triển KT-XH trọng điểm như: KCN Vân Trung,  KCN Quang Châu, Khu đô thị Đình Trám – Sen Hồ, CCN Hoàng Mai… Trong 4 năm, toàn huyện phê duyệt 475 phương án bồi thường giải phóng mặt bằng hơn 620 ha đất các loại.

    Trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, BTV Huyện ủy luôn coi trọng việc củng cố các mặt yếu kém của các chi, đảng bộ. Trọng tâm là nâng cao chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ. Số tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên bình quân đạt hơn 95%, tăng 5,4% so với mục tiêu nghị quyết, không có tổ chức cơ sở đảng yếu kém.

    Quan tâm công tác quản lý đất đai, quy hoạch đô thị

    Phát biểu tại buổi làm việc, các đại biểu đồng tình với những kết quả huyện Việt Yên đã đạt được trong nhiệm kỳ qua, đồng thời nêu một số hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới như: Đền bù giải phóng mặt bằng ở một số dự án còn gặp nhiều khó khăn; tiến độ kiểm kê đất đai chậm; một số vụ lấn chiếm, sử dụng đất sai mục đích chưa được xử lý dứt điểm.

    Mục tiêu giai đoạn 2021- 2025, BTV Huyện ủy Việt Yên xác định tiếp tục phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, khẳng định vị thế động lực phát triển kinh tế, huyện trọng điểm phát triển công nghiệp của tỉnh. Huy động mọi nguồn lực xây dựng huyện đạt tiêu chí đô thị loại IV trực thuộc tỉnh và trở thành thị xã năm 2025. 

    Đồng chí Dương Văn Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu.

    Đồng chí Dương Văn Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu.

    Thực hiện mục tiêu này, tại buổi làm việc, đồng chí Dương Văn Thái, Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng: Muốn hoàn thành, thời gian tới địa phương phải xác định rõ vị trí, vai trò của mình trong quy hoạch phát triển chung của tỉnh. Huyện cần thực hiện tốt hai nhiệm vụ, đó là phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh trật tự. 

    Ngoài ra quan tâm công tác quy hoạch đô thị, rà soát lại các tiêu chí đô thị loại IV để kịp thời bổ sung (nếu thiếu). Đối với những khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, đồng chí đề nghị cấp ủy, chính quyền từ huyện đến cơ sở phải xem lại phương pháp, cách làm, chú trọng tuyên truyền, vận động để nhân dân đồng thuận. Xử lý dứt điểm đơn thư khiếu nại của người dân liên quan đến đất đai. 

    Phát biểu kết luận, Bí thư Tỉnh ủy Bùi Văn Hải biểu dương những cố gắng của BTV Huyện ủy Việt Yên trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Đồng chí yêu cầu huyện phải chuẩn bị thật tốt cho quy hoạch phát triển KT- XH 10 năm tiếp theo, phấn đấu trở thành huyện đô thị và công nghiệp. 

    Muốn đạt được mục tiêu này, huyện phải chú trọng quy hoạch đầu tư kết cấu hạ tầng căn bản, bao gồm: Hệ thống giao thông kết nối nội bộ và kết nối đối ngoại với các khu vực lân cận; hạ tầng về cấp thoát nước và về xử lý môi trường. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cũng nêu rõ, bên cạnh thực hiện nhiệm vụ lâu dài, trước mắt, BTV Huyện ủy cần thực hiện có hiệu quả công tác quản lý đất đai, quan tâm kiểm kê hiện trạng, tình trạng quản lý, sử dụng đất. 

    Ở lĩnh vực an ninh trật tự phải chú trọng giải quyết khiếu nại tố cáo. Lực lượng công an cấp xã cần đáp ứng được các yêu cầu như phát hiện sớm sự việc, quản lý chặt chẽ các vấn đề về nhân thân, hộ tịch, hộ khẩu.

    Đối với công tác xây dựng Đảng, đồng chí Bùi Văn Hải lưu ý huyện phải thường xuyên rà soát, đánh giá tình hình đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, lựa chọn người có đủ năng lực, phẩm chất vào các vị trí chủ chốt; nâng cao tỷ lệ trưởng thôn là đảng viên…

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Xây dựng huyện Hiệp Hòa thành vùng động lực phát triển phía Tây tỉnh Bắc Giang

    (BGĐT)- Sáng 25-2, đồng chí Bùi Văn Hải, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bắc Giang chủ trì buổi làm việc với Thường trực Huyện ủy, lãnh đạo UBND huyện Hiệp Hòa về tình hình phát triển KT-XH của địa phương. Cùng dự có đồng chí Dương Văn Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh và lãnh đạo một số sở, ban, ngành liên quan.

    Những vướng mắc trong phát triển KT-XH

    Tại buổi làm việc, Thường trực Huyện ủy Hiệp Hòa báo cáo tình hình thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Trong đó, về công tác chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, Huyện ủy đã thông qua dự thảo báo cáo chính trị lần 2, xây dựng dự thảo đề án nhân sự cấp ủy Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2020 -2025. 

     

    Bí thư Tỉnh ủy Bùi Văn Hải phát biểu chỉ đạo.

    Bí thư Tỉnh ủy Bùi Văn Hải phát biểu chỉ đạo.

    Về tình hình phát triển KT-XH địa phương, năm qua Hiệp Hòa đạt được nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực. Giá trị sản xuất thương mại dịch vụ tăng 15,1%; có 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới, vượt mục tiêu đại hội đề ra. 

    Về văn hóa xã hội, kết quả thi học sinh giỏi văn hóa xếp thứ nhất toàn tỉnh. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững

    Đối với công tác sáp nhập địa giới hành chính cấp xã, huyện chỉ đạo hoàn thành các bước trong quy trình sáp nhập xã Đức Thắng vào thị trấn Thắng, từng bước bàn giao hồ sơ, giấy tờ, tài liệu nhằm kịp thời đi vào hoạt động từ 1-3-2020. 

    Công tác phòng chống dịch Covid -19 được triển khai đồng bộ thông qua tổng tiêu độc khử trùng môi trường; xây dựng các phương án phòng, chống dịch và chủ động rà soát, nắm bắt, giám sát quản lý chặt chẽ các trường hợp là lao động Trung Quốc và một số nước đang lao động, làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn và một số trường hợp liên quan.

    Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái phát biểu.

    Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái phát biểu.

    Năm 2019 huyện triển khai giải phóng mặt bằng (GPMB) 49 dự án với tổng diện tích hơn 209 ha, đến nay 18 dự án đã thực hiện xong. Tuy nhiên một số dự án lớn (gồm: Khu công nghiệp Hòa Phú, Cụm công nghiệp Hà Thịnh, Cụm công nghiệp Đoan Bái…) còn tồn tại một số vướng mắc như: Một số hộ dân chưa nhận tiền bồi thường GPMB, chưa đồng thuận kiểm kê, thậm chí còn có đơn thư khiếu kiện vượt cấp.

    Công tác quản lý đất đai trước đây còn nhiều bất cập, gây khó khăn trong xác định nguồn gốc đất, dẫn đến chậm tiến độ.  

    Đồng chí Ngô Tiến Dũng, Bí thư Huyện ủy Hiệp Hòa báo cáo các nội dung tại buổi làm việc.

    Đồng chí Ngô Tiến Dũng, Bí thư Huyện ủy Hiệp Hòa báo cáo các nội dung tại buổi làm việc.

    Nhân dịp này, huyện Hiệp Hòa kiến nghị với tỉnh nhiều nội dung, trong đó đề xuất chủ trương cho UBND huyện thu hồi đối với diện tích đất hành lang giao thông xen kẹp giữa Quốc lộ 37, các tỉnh lộ với ranh giới các dự án. 

    Tháo gỡ khó khăn liên quan đến dự án Công ty cổ phần đầu tư ASIC tại Cụm công nghiệp Đoan Bái. Chỉ đạo thường xuyên kiểm tra giám sát các chủ đầu tư trong xây dựng hạ tầng, đặc biệt là xây dựng nhà máy xử lý nước thải môi trường trong các khu cụm công nghiệp…

    Lãnh đạo Sở Công Thương trao đổi tại buổi làm việc.

    Lãnh đạo Sở Công Thương trao đổi tại buổi làm việc.

    Tại hội nghị, các đại biểu tập trung thảo luận nhiều nội dung liên quan đến khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các dự án ở Cụm công nghiệp Đoan Bái dọc tuyến quốc lộ 37; việc quy hoạch sử dụng đất. 

    Ngoài ra, trao đổi về công tác phối hợp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là tại các khu, cụm công nghiệp. Quan tâm tạo sinh kế lâu dài cho người dân tại những nơi thu hồi nhiều đất nông nghiệp phục vụ các dự án phát triển công nghiệp.

    Quan tâm giải phóng mặt bằng, tập trung phát triển công nghiệp và đô thị

    Phát biểu tại đây, Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái chỉ rõ 4 vướng mắc nổi lên của Hiệp Hòa trên các lĩnh vực: Quản lý đất đai; bồi thường GPMB; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và bảo đảm an ninh trật tự. Trong đó đồng chí nhấn mạnh đến những vướng mắc về GPMB của nhiều dự án triển khai tại huyện. 

    Để khắc phục tồn tại, đồng chí Dương Văn Thái cho rằng huyện phải xem xét đánh giá lại đối với công tác chỉ đạo, công tác dân vận và tuyên truyền; cùng đó tranh thủ sự phối hợp với các ngành, nếu cần báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh để có hướng giải quyết sớm. Đẩy mạnh hoạt động đối thoại với nhân dân, công khai minh bạch trong quá trình thực hiện các dự án.

    Ngoài ra, Huyện ủy cần thường xuyên quan tâm chỉ đạo đối với những dự án phát triển kinh tế của huyện, kịp thời tháo gỡ khó khăn, thể hiện rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của BTV Huyện ủy. 

    Tăng cường các biện pháp quản lý đất đai, khai thác tài nguyên khoáng sản; đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình NTM, hướng tới mục tiêu cốt lõi là nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn. 

    Kết luận buổi làm việc, Bí thư Tỉnh ủy Bùi Văn Hải khẳng định: Kinh nghiệm từ những việc làm được và những việc chưa làm được cho thấy năng lực của người lãnh đạo. Do vậy, đội ngũ cán bộ lãnh đạo phải thực sự hiểu sâu, hiểu kỹ về tầm nhìn quy hoạch, về chính sách; phải tạo được sự thống nhất và nhất quán trong lãnh đạo, chỉ đạo.

    Thường xuyên tổ chức đối thoại, tích cực lắng nghe ý kiến phản ảnh của người dân về các vấn đề xã hội, từ đó có những định hướng chủ trương đúng đắn, tạo sự đồng thuận trong nhân dân. 

    Đặc biệt, đồng chí chỉ rõ, để xây dựng Hiệp Hòa trở thành vùng động lực phát triển kinh tế phía Tây của tỉnh Bắc Giang, huyện cần tập trung trọng tâm vào phát triển công nghiệp và đô thị. Để làm được điều này, phải làm tốt công tác quy hoạch sử dụng đất, GPMB. 

    Quan tâm phát triển các tuyến giao thông có tính kết nối thông thương, trong đó xác định lấy tuyến đường vành đai 4 để “khai thông khí huyết” cho việc khâu nối các tuyến. Quy hoạch phát triển huyện Hiệp Hòa với một chiến lược dài hơi, xác định rõ đâu là động lực, đâu là mục tiêu trọng tâm, trọng điểm để nghiên cứu xây dựng quy hoạch có tầm nhìn chiến lược. 

    Trong quản lý đất đai cần thực hiện tốt quy hoạch, khoanh vùng rõ ràng đất phục vụ phát triển công nghiệp, đất phục vụ sản xuất nông nghiệp. Riêng với lĩnh vực nông nghiệp, huyện cần xây dựng được vùng sản xuất nông nghiệp theo khu vực cấp xã. 

    Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cũng nhấn mạnh, thời gian tới huyện tập trung cao củng cố tổ chức, bộ máy đảng, chính quyền các cấp theo hướng nâng cao chất lượng; thường xuyên chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã chất lượng, đúng tiêu chuẩn nhằm chuẩn bị tốt nhân sự phục vụ đại hội đảng bộ cấp cơ sở.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Bắc Giang: 192/230 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật

    (BGĐT)-UBND tỉnh vừa công bố danh sách 192 xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) đạt chuẩn và 38 xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2019.

    Theo đó, huyện Yên Dũng có 21/21 xã; Lạng Giang 23/23 xã; Việt Yên 19/19 xã; huyện Lục Nam 20/27 xã; Tân Yên 23/24 xã; huyện Lục Ngạn 23/30 xã; huyện Yên Thế 19/21 xã; huyện Hiệp Hòa 20/26 xã; huyện Sơn Động 8/23 xã và TP Bắc Giang 16/16 xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

    Công chức Tư pháp-Hộ tịch xã Quế Nham (Tân Yên) hướng dẫn người dân giải quyết thủ tục khai tử.

    Công chức Tư pháp-Hộ tịch xã Quế Nham (Tân Yên) hướng dẫn người dân giải quyết thủ tục khai tử.

    Các xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đã bảo đảm chất lượng 5 tiêu chí được quy định trong các quyết định, thông tư của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Cụ thể là: Bảo đảm thi hành hiến pháp và pháp luật; thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã; phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải và thực hiện dân chủ ở cơ sở.

    Thông qua đó giúp nâng cao nhận thức pháp luật, bảo đảm quyền công dân, kịp thời tháo gỡ mâu thuẫn, vướng mắc trên địa bàn cấp xã; phát huy dân chủ ở cơ sở; là điều kiện quan trọng để đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới và phường, thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh; đảng bộ, chính quyền cấp xã đạt chuẩn “trong sạch, vững mạnh”.

    38 xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật do không lập hồ sơ đề nghị; điểm số không đạt; có cán bộ, công chức xã bị xử lý kỷ luật hoặc có hồ sơ nhưng chưa đầy đủ.

    Cấp ủy, chính quyền tại những địa phương chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đang tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn thể ban, ngành mà nòng cốt là ngành tư pháp đẩy mạnh tuyên truyền về vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cho tập thể cán bộ và nhân dân; chú trọng khắc phục khâu yếu, mặt yếu, học tập kinh nghiệm của những xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật để được công nhận trong thời gian tới.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Bắc Giang xếp loại trách nhiệm người đứng đầu trong tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

     (BGĐT) – Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Dương Văn Thái vừa ký ban hành Quyết định về việc chấm điểm, xếp loại trách nhiệm đối với Chủ tịch UBND 10 huyện, TP về chất lượng, kết quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo (KNTC) và thi hành các quyết định, kết luận giải quyết KNTC đã có hiệu lực pháp luật năm 2019. 

    Văn phòng UBND tỉnh tổ chức tập huấn về giải quyết khiếu nại, tố cáo cho cán bộ làm công tác này.                                                                                                                                         Ảnh: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang. 

    Văn phòng UBND tỉnh tổ chức tập huấn về giải quyết khiếu nại, tố cáo cho cán bộ làm công tác này. 

                                                                                                                                            Ảnh: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang.

    Việc chấm điểm, đánh giá dựa trên 4 tiêu chí. Một là, về công tác chỉ đạo, điều hành, chấp hành báo cáo (gồm: Quán triệt các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; thực hiện các yêu cầu của Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND tỉnh trong quá trình giải quyết; chấp hành chế độ thông tin báo cáo; cập nhật tình hình vào hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về KNTC). Hai là, về công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư (tổ chức tiếp công dân định kỳ; phối hợp trong xử lý tiếp công dân vượt cấp ra Trung ương và lên tỉnh; tiếp nhận xử lý đơn theo quy định đạt bao nhiêu %…). Ba là, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (kết quả; chất lượng giải quyết ở mức nào?). Bốn là, thực hiện các quyết định, kết luận giải quyết KNTC đã có hiệu lực thi hành (dứt điểm hay chưa). Ngoài ra, địa phương không có đoàn khiếu kiện đông người và không có KNTC vượt cấp cũng được thưởng điểm.

    Kết quả: Chủ tịch UBND huyện Lạng Giang và Tân Yên xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chủ tịch UBND các huyện: Yên Thế, Yên Dũng, Lục Ngạn, TP Bắc Giang xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chủ tịch UBND các huyện còn lại gồm: Lục Nam, Hiệp Hòa, Sơn Động, Việt Yên xếp loại hoàn thành nhiệm vụ.

    Chủ tịch UBND tỉnh giao Thanh tra tỉnh theo dõi việc chấm điểm, xếp loại trách nhiệm đối với Chủ tịch UBND huyện, TP về chất lượng và kết quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo để làm căn cứ xem xét, đánh giá, xếp loại thi đua hằng năm.

    Nguồn: Báo Bắc Giang

  • Xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam sạch, an toàn, chất lượng

    Ngày 21/02, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc về thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến nông sản và cơ giới hóa nông nghiệp.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thu Hà chủ trì hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang. Cùng dự có đại diện lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị trong tỉnh. 

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thu Hà chủ trì hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, trong 10 năm trở lại đây, cơ giới hóa nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản của Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Hệ thống công nghiệp chế biến nông sản có công suất thiết kế khoảng 120 triệu tấn nguyên liệu nông sản/năm đã được hình thành.

    Hệ thống công nghiệp chế biến bảo quản nông sản có trên 7.500 cơ sở quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu và hàng vạn cơ sở chế biến nông sản nhỏ lẻ, hộ gia đình. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của công nghiệp chế biến nông sản đạt khoảng 5 – 7%/năm. Nhờ đó, kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng mạnh, bình quân tăng khoảng 8 – 10%/năm.

    Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 41,3 tỷ USD, xuất khẩu tới hơn 186 nước và vùng lãnh thổ. Công nghiệp chế biến nông sản giải quyết việc làm trực tiếp cho khoảng 1,6 triệu lao động, trong đó phần lớn là con em nông dân, với mức thu nhập bình quân 5 – 7 triệu đồng/tháng.

    Tuy nhiên, Bộ NN&PTNT cũng thẳng thắn nhìn nhận ngành nông nghiệp vẫn còn nhiều tồn tại, khả năng chế biến đối với một số ngành hàng còn yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là vào cao điểm mùa vụ như rau quả, gây tổn thất sau thu hoạch. 

    Lĩnh vực cơ giới hóa một số khâu trong nông nghiệp đang có xu hướng tăng nhanh, song mức độ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp một số khâu còn thấp. Trang bị máy động lực còn lạc hậu, hầu hết các máy làm đất công suất nhỏ, chỉ thích hợp với quy mô hộ và đất manh mún. Cơ chế, chính sách chưa đủ hấp dẫn đầu tư vào chế biến nông sản. Một số chính sách về đất đai, tài chính, tín dụng, khoa học công nghệ… chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn sản xuất kinh doanh.

    Phát biểu thảo luận tại hội nghị, một số đại biểu cho rằng, nguyên nhân của tình trạng trên là do nhiều doanh nghiệp chưa chủ động được nguồn cung nguyên liệu bảo đảm về số lượng, chất lượng. Giá thành sản phẩm cơ khí nông nghiệp trong nước cao. Chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ còn hạn chế, nhất là công nghiệp hỗ trợ cho máy động lực, máy canh tác phục vụ sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, các hộ nông dân vẫn là chủ thể sản xuất chính, do vậy khó ứng dụng cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp.

    Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết, ngành Nông nghiệp Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 đưa công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản Việt Nam “đứng trong số 10 nước hàng đầu thế giới”, là trung tâm chế biến sâu và logistics nông sản toàn cầu, đồng thời có đủ năng lực chế biến, đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị – Ảnh: VGP/Quang Hiếu

    Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, hiện nay, nông nghiệp Việt Nam còn tiềm năng lớn, có thể làm giàu từ nông nghiệp. Tuy vậy, lãng phí và thất thoát trong nông nghiệp vẫn còn cao trong các khâu chế biến, thu hoạch, bảo quản.

    Thủ tướng đề nghị các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho hộ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam.

    Sau hội nghị, Thủ tướng sẽ ban hành Chỉ thị về các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến và cơ giới hóa trong nông nghiệp. Bộ NN&PTNT tiếp thu các ý kiến của các đại biểu tại hội nghị, khẩn trương hoàn thiện nội dung Chỉ thị trình ban hành.

    Về vai trò của thị trường nội địa trong thời gian tới, Thủ tướng nhấn mạnh, đây được xem là ưu tiên hàng đầu để nhân dân có nông, thủy sản sạch, có chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm. Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục áp dụng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ số, công nghệ sinh học, cơ khí để nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm nông nghiệp; giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp bằng cách áp dụng cơ giới hóa; phấn đấu xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam sạch, an toàn, chất lượng, nông nghiệp hữu cơ…/.

    Nguồn: bacgiang.gov.vn

  • Xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam sạch, an toàn, chất lượng

    Ngày 21/02, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc về thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến nông sản và cơ giới hóa nông nghiệp.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thu Hà chủ trì hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang. Cùng dự có đại diện lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị trong tỉnh. 

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thu Hà chủ trì hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, trong 10 năm trở lại đây, cơ giới hóa nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản của Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Hệ thống công nghiệp chế biến nông sản có công suất thiết kế khoảng 120 triệu tấn nguyên liệu nông sản/năm đã được hình thành.

    Hệ thống công nghiệp chế biến bảo quản nông sản có trên 7.500 cơ sở quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu và hàng vạn cơ sở chế biến nông sản nhỏ lẻ, hộ gia đình. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của công nghiệp chế biến nông sản đạt khoảng 5 – 7%/năm. Nhờ đó, kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng mạnh, bình quân tăng khoảng 8 – 10%/năm.

    Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 41,3 tỷ USD, xuất khẩu tới hơn 186 nước và vùng lãnh thổ. Công nghiệp chế biến nông sản giải quyết việc làm trực tiếp cho khoảng 1,6 triệu lao động, trong đó phần lớn là con em nông dân, với mức thu nhập bình quân 5 – 7 triệu đồng/tháng.

    Tuy nhiên, Bộ NN&PTNT cũng thẳng thắn nhìn nhận ngành nông nghiệp vẫn còn nhiều tồn tại, khả năng chế biến đối với một số ngành hàng còn yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là vào cao điểm mùa vụ như rau quả, gây tổn thất sau thu hoạch. 

    Lĩnh vực cơ giới hóa một số khâu trong nông nghiệp đang có xu hướng tăng nhanh, song mức độ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp một số khâu còn thấp. Trang bị máy động lực còn lạc hậu, hầu hết các máy làm đất công suất nhỏ, chỉ thích hợp với quy mô hộ và đất manh mún. Cơ chế, chính sách chưa đủ hấp dẫn đầu tư vào chế biến nông sản. Một số chính sách về đất đai, tài chính, tín dụng, khoa học công nghệ… chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn sản xuất kinh doanh.

    Phát biểu thảo luận tại hội nghị, một số đại biểu cho rằng, nguyên nhân của tình trạng trên là do nhiều doanh nghiệp chưa chủ động được nguồn cung nguyên liệu bảo đảm về số lượng, chất lượng. Giá thành sản phẩm cơ khí nông nghiệp trong nước cao. Chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ còn hạn chế, nhất là công nghiệp hỗ trợ cho máy động lực, máy canh tác phục vụ sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, các hộ nông dân vẫn là chủ thể sản xuất chính, do vậy khó ứng dụng cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp.

    Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết, ngành Nông nghiệp Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 đưa công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản Việt Nam “đứng trong số 10 nước hàng đầu thế giới”, là trung tâm chế biến sâu và logistics nông sản toàn cầu, đồng thời có đủ năng lực chế biến, đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị – Ảnh: VGP/Quang Hiếu

    Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, hiện nay, nông nghiệp Việt Nam còn tiềm năng lớn, có thể làm giàu từ nông nghiệp. Tuy vậy, lãng phí và thất thoát trong nông nghiệp vẫn còn cao trong các khâu chế biến, thu hoạch, bảo quản.

    Thủ tướng đề nghị các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho hộ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam.

    Sau hội nghị, Thủ tướng sẽ ban hành Chỉ thị về các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến và cơ giới hóa trong nông nghiệp. Bộ NN&PTNT tiếp thu các ý kiến của các đại biểu tại hội nghị, khẩn trương hoàn thiện nội dung Chỉ thị trình ban hành.

    Về vai trò của thị trường nội địa trong thời gian tới, Thủ tướng nhấn mạnh, đây được xem là ưu tiên hàng đầu để nhân dân có nông, thủy sản sạch, có chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm. Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục áp dụng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ số, công nghệ sinh học, cơ khí để nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm nông nghiệp; giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp bằng cách áp dụng cơ giới hóa; phấn đấu xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam sạch, an toàn, chất lượng, nông nghiệp hữu cơ…/.

    Nguồn: bacgiang.gov.vn

  • Hiệp Hòa cần tập trung quy hoạch phát triển công nghiệp và dịch vụ đô thị

    Ngày 25/02, đồng chí Bùi Văn Hải – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bắc Giang đã có buổi làm việc với Ban Thường vụ Huyện ủy Hiệp Hòa về tình hình thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế – xã hội của địa phương năm 2020. Dự buổi làm việc có đồng chí Dương Văn Thái – Chủ tịch UBND tỉnh cùng đại diện lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị của tỉnh.

    Theo lãnh đạo Huyện ủy Hiệp Hòa, năm 2019, tổng thu ngân sách trên địa bàn huyện đạt 1.495 tỷ đồng, đạt 161% dự toán năm; giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2018; sản xuất nông nghiệp ổn định.

    Trong năm, toàn huyện đã hoàn thành thêm 05 xã nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn huyện lên 16 xã, vượt 4 xã so với mục tiêu Đại hội. Cùng với đó, huyện cũng đã nâng cấp, đầu tư được hơn 220 km đường giao thông, đạt 103,8% kế hoạch.

    Cùng đó, thực hiện Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã huyện Hiệp Hòa, Ban Thường vụ Huyện ủy đã ban hành Quyết định giải thể Đảng bộ xã Đức Thắng sáp nhập vào thị trấn Thắng, dự kiến bộ máy mới của thị trấn Thắng đi vào hoạt động từ ngày 01/3/2020.

    Năm 2020, trên cơ sở nhiệm vụ trọng tâm đã đăng ký với Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy Hiệp Hòa đã ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác chính trị tư tưởng trong toàn Đảng bộ huyện năm 2020. Trong đó, tập trung thực hiện tốt Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Chỉ đạo xã Danh Thắng tổ chức Đại hội điểm trong tháng 4/2020. Chỉ đạo Đảng bộ các xã, thị trấn trên địa bàn huyện chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức Đại hội theo đúng kế hoạch đề ra. Đẩy mạnh tuyên truyền Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

    Về kinh tế, tiếp tục duy trì 288 mô hình sản xuất theo hướng công nghệ hiện đại, tập trung nguồn lực hoàn thành xây dựng 6 xã về đích nông thôn mới, 10 thôn nông thôn mới. Chỉ đạo hoàn thành các tuyến đường do huyện làm chủ đầu tư như: Tỉnh lộ 288, đường nối quốc lộ 37 với tỉnh lộ 295… Đồng thời, tiếp tục tăng cường công tác quản lý tài nguyên và môi trường, thực hiện có hiệu quả chương trình phòng, chống tội phạm, công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm, không để phát sinh vi phạm mới.

    Tại buổi làm việc, các đại biểu đồng tình với những kết quả huyện Hiệp Hòa đã đạt được trong thời gian qua. Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong chỉ đạo, điều hành phát triển KT-XH trong thời gian tới, đại diện các phòng, cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện đã đưa ra một số đề xuất kiến nghị như: Tỉnh quan tâm sớm đầu tư xây dựng cầu nối đường vành đai IV tại huyện Hiệp Hòa với Quốc lộ 18 huyện Yên Phong (Bắc Ninh); xây dựng mới tuyến đường, cầu kết nối huyện Hiệp Hòa với thị xã Phổ Yên (Thái Nguyên)…

    Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái cho rằng thời gian qua, Đảng bộ và chính quyền nhân dân các dân tộc huyện Hiệp Hòa đã có nhiều nỗ lực trong phát triển KT-XH, đóng góp thiết thực, hiệu quả vào thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, Hiệp Hòa vẫn còn nổi lên một số tồn tại, nhất là những vướng mắc trong giải phóng mặt bằng chưa được giải quyết triệt để; vấn đề giải quyết khiếu nại tố cáo còn để tồn đọng kéo dài, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân…

    Trước thực trạng đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu lãnh đạo huyện Hiệp Hòa cần đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước, quan tâm phối hợp xử lý những vướng mắc trong giải phóng mặt bằng trên cơ sở công khai, minh bạch; tập trung tháo gỡ khó khăn trong quy hoạch phát triển đô thị.

    Trong đó cần xem xét lại hệ thống quy hoạch theo định hướng phát triển công nghiệp – dịch vụ đô thị, phấn đấu là trung tâm phát triển kinh tế phía Tây của tỉnh.

    Trong quy hoạch cần chú ý rà soát bổ sung quy hoạch đất công nghiệp, bổ sung kịp thời các tiêu chuẩn, tiêu chí để sớm đưa Hiệp Hòa phát triển thành đô thị loại IV vào năm 2025 và thành lập thị xã vào năm 2027. Sau khi có quy hoạch cần thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, nhất là lĩnh vực đất đai.

    Về khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện, Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng, huyện cần phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo việc công khai quy mô, khối lượng khai thác khoáng sản với người dân; đồng thời, ban hành quy chế phối hợp trong quản lý khai thác khoáng sản tại địa phương.

    Để đạt mục tiêu năm 2021 trở thành huyện nông thôn mới, lãnh đạo huyện cần quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân, tập trung phát triển nông nghiệp theo Đề án Ocop; tiếp tục đầu tư các lò đốt rác, xử lý rác thải tại các địa bàn dân cư nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn.

    Cùng với đó, làm tốt công tác đảm bảo ATGT trên địa bàn; thực hiện tốt công tác tiếp công dân; tích cực triển khai thực hiện đối thoại với nhân dân để giải quyết dứt điểm những vướng mắc phát sinh ngay từ cơ sở.

    Trong công tác xây dựng Đảng cần tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Sau Đại hội Đảng bộ cấp xã, cần tăng cường tập huấn để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở và quan tâm đến xây dựng hệ thống chính trị cơ sở…

    Kết luận buổi làm việc, Bí thư Tỉnh ủy Bùi Văn Hải biểu dương những cố gắng của Ban Thường vụ Huyện ủy Hiệp Hòa trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị, KT-XH của địa phương. Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh, để tiếp tục làm tốt các nhiệm vụ chính trị đề ra, thời gian tới, lãnh đạo huyện Hiệp Hòa phải lắm rõ vấn đề về công tác quy hoạch sử dụng đất đai tại địa phương, hiểu rõ về cơ chế, chính sách, có tầm nhìn toàn diện và tầm hiểu biết sâu sắc về xu hướng phát triển KT-XH, qua đó vận dụng hiệu quả trong chỉ đạo, triển khai các nhiệm vụ.

    Theo Bí thư Tỉnh ủy, trong chỉ đạo, triển khai thực hiện các nhiệm vụ, lãnh đạo huyện cũng cần phải nhất quán, trên cơ sở đoàn kết, công khai, minh bạch và thấu hiểu mong muốn, nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Muốn làm được điều đó, lãnh đạo huyện phải tích cực đối thoại trực diện với nhân dân, biết lắng nghe, tiếp thu và phải trả lời rõ ràng, thấu đáo trước quần chúng nhân dân.

    Bí thư Tỉnh ủy cho rằng, Hiệp Hòa là địa phương phát triển động lực kinh tế phía Tây của tỉnh Bắc Giang, trong đó cần tập trung phát triển công nghiệp và dịch vụ đô thị, dựa trên cơ sở kết nối hạ tầng giao thông với các địa phương trong và ngoài tỉnh. Do đó, Hiệp Hòa cần tiếp tục chú trọng đến công tác quy hoạch phát triển giao thông, cần nghiên cứu kỹ về quy hoạch để đề xuất với lãnh đạo tỉnh, tạo đà phát triển KT-XH trong huyện.

    Về phát triển đô thị, ngoài thị trấn Thắng, Hiệp Hòa cũng cần tiếp tục quy hoạch các khu dân cư khác để đầu tư phát triển đô thị. Cùng với đó, ưu tiên quy hoạch đất sản xuất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp đảm bảo cho sự phát triển bền vững, tương xứng với sự phát triển kinh tế của địa phương.

    Đồng thời, tiếp tục củng cố bộ máy tổ chức Đảng các cấp, lựa chọn những cán bộ tuyệt đối trung thành, có năng lực, có trình độ, có trách nhiệm với công việc, nhiệm vụ được giao. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những cán bộ, đảng viên thiếu trách nhiệm với công việc, nhiệm vụ được giao. Trong đó, chú trọng tập trung chỉ đạo đội ngũ cán bộ cấp xã, trong công tác cán bộ phải loại bỏ những tư tưởng cục bộ, cá nhân.

    Trước mắt, lãnh đạo huyện cần tập trung cao cho công tác chuẩn bị Đại hội Đảng bộ các cấp và công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn huyện…/.

    nguồn: bacgiang.gov.vn

  • Phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)

    Phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)

    Ngày 12 tháng 02 năm 2020, Nghị viện châu Âu đã bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA).

    Việc Nghị viện châu Âu thông qua Hiệp định EVFTA đánh dấu một cột mốc quan trọng trong chặng đường 30 năm phát triển quan hệ đối tác và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU). Trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, việc đàm phán, ký kết và phê chuẩn Hiệp định EVFTA thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của cả hai bên trong việc thúc đẩy quan hệ song phương, góp phần đưa quan hệ giữa Việt Nam và EU phát triển sâu rộng và thực chất hơn.
    Với Hiệp định EVFTA, Việt Nam là nước đang phát triển đầu tiên ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương có quan hệ thương mại tư do với EU. Điều này khẳng định vai trò và vị thế địa – chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực, khẳng định Việt Nam – từ quốc gia đi sau trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, lần đầu tiên đã vươn lên trở thành nước đi đầu. Hiện nay, EU là một trong số thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này năm 2019 đạt 41,48 tỉ USD và nhập khẩu đạt 14,91 tỉ USD. Do vậy, Hiệp định sẽ giúp chúng ta có điều kiện thúc đẩy xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường, thu được giá trị gia tăng cao hơn thông qua việc thiết lập các chuỗi cung ứng mới. Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình chính trị – an ninh thế giới và khu vực đang thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp, Hiệp định EVFTA vừa giúp Việt Nam có điều kiện nâng cao nội lực để ứng phó, vừa giúp củng cố vị thế để thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa đi đôi với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh.

    Theo quy định của EU, Hiệp định EVFTA sẽ cần được Hội đồng châu Âu phê duyệt để có hiệu lực. Hiệp định sẽ có hiệu lực vào ngày đầu tiên của tháng thứ hai sau khi hai bên thông báo cho nhau về việc đã hoàn tất thủ tục trong nước hoặc vào một thời điểm khác do hai bên thống nhất.

    Về phía Việt Nam, Chính phủ cũng đang đẩy nhanh việc thực hiện các quy trình, thủ tục trong nước để hai Hiệp định này sớm được Quốc hội phê chuẩn. Song song với việc hoàn tất các thủ tục phê chuẩn, công tác chuẩn bị cho việc thực thi Hiệp định cũng đã được tiến hành. Cụ thể, Bộ Công Thương đã xây dựng và trình Chính phủ dự thảo Kế hoạch hành động để chuẩn bị cho việc thực thi Hiệp định EVFTA. Kế hoạch hành động này xác định rõ mục tiêu, các nhiệm vụ chủ yếu và các Bộ, ngành có liên quan trong việc thực hiện với lộ trình cụ thể. Trong đó, các nhiệm vụ chủ yếu bao gồm 5 nhóm chính: công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về Hiệp định EVFTA và thị trường của các nước EU; công tác xây dựng pháp luật, thể chế; nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nguồn nhân lực; chủ trương và chính sách đối với tổ chức công đoàn và các tổ chức của người lao động tại cơ sở doanh nghiệp; và chính sách an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

    Ngoài ra, để giúp người dân và cộng đồng doanh nghiệp hiểu biết hơn về Hiệp định EVFTA nhằm tận dụng tối đa những cơ hội mà Hiệp định mang lại, Bộ Công Thương đã đăng tải toàn bộ văn kiện Hiệp định cũng như tóm tắt và giải thích nội dung cam kết của các lĩnh vực quan trọng trong Hiệp định trên trang web evfta.moit.gov.vn. Bên cạnh đó, trang web này cũng cập nhật thông tin về tình hình phê chuẩn Hiệp định, các thông tin cho nhà xuất khẩu sang thị trường EU, kế hoạch hành động của Chính phủ và các Bộ, ngành, cũng như các văn bản quy phạm pháp luật đang được xây dựng và dự kiến sẽ ban hành trong thời gian tới để thực thi Hiệp định./.

    (Nguồn: Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương)

  • Báo cáo năng lực cạnh tranh cấp Sở, ban, ngành và địa phương năm 2019 (DDCI) của tỉnh Bắc Giang.

    Trong những năm qua, sự vào cuộc quyết liệt của các ủy đảng, chính quyền môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh Bắc Giang đã được cải thiện rõ rết. Kết quả chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) trong 05 năm qua liên tục tăng, từ nhóm có chất lượng điều hành trung bình năm 2018 vừa qua đã vươn lên nhóm khá trên bảng xếp hạng PCI của cả nước.
    Tuy nhiên, lãnh đạo tỉnh ủy và UBND tỉnh Bắc Giang luôn xác định việc cải thiện môi trường kinh doanh của tỉnh là một quá trình liên tục và bền bỉ, nó không phải là công việc của một sở, ban, ngành hay địa phương nào mà là cả hệ thống chính trị từ tỉnh cho đến cấp cơ sở.
    Để môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện hơn nữa, UBND tỉnh Bắc Giang đã giao Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Phát triển doanh nghiệp – Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Viện Friedrich Naumann Việt Nam nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực điều hành của cấp Sở, Ban, Ngành và địa phương (DDCI) năm 2019 dưới góc nhín của doanh nghiệp, nhà đầu tư; bộ công cụ này với mục tiêu:
    Giúp chuyền tải sự hài lòng của doanh nghiệp, nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh về thủ tục hành chính, chất lượng điều hành, sự quan tâm hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức khi làm việc, tiếp xúc với doanh nghiệp; tính năng động của lãnh đạo các đơn vị đến lãnh đạo tỉnh.
    Thông qua DDCI các doanh nghiệp dễ dàng phản ánh những khó khăn, vướng mắc mà họ gặp phải trong quá trình kinh doanh, vượt qua được những e ngại, tế nhị khi phản ánh trực tiếp khó khăn của mình với các cơ quan chính quyền.
    Tạo sự canh tranh, thi đua về chất lượng điều hành kinh tế giữa chính quyền các huyện, thành phố và các sở, ban, ngành, từ đó tạo động lực cải cách một cách quyết liệt, đồng bộ trong việc nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến nhà đầu tư, doanh nghiệp.

    Ngày 18/2/2020 Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã chủ trì cuộc họp Công bố Báo cáo năng lực cạnh tranh cấp Sở, ban, ngành và địa phương năm 2019 (DDCI) với sự tham gia đầy đủ của Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc UBND tỉnh; Thủ trưởng các cơ quan: Công an tỉnh, Bộ CHQS tỉnh, Cục Thuế tỉnh, Cục Thống kê tỉnh, Kho bạc nhà nước tỉnh, Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh, Cục Quản lý thị trường Bắc Giang cùng Chủ tịch UBND các huyện, thành phố.
    Tại cuộc họp đồng chí Nguyễn Cường – Phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư đã trình bày các tiêu chí, kế hoạch và phương thức triển khai để thu được kết quả đánh giá khách quan nhất từ doanh nghiệp, nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đối với các sở, ban, ngành và địa phương của tỉnh.
    Kết quả xếp hạng DDCI năm 2019 đối với các sở,ban, ngành ghi nhận Sở Khoa học và Công nghệ đứng đầu trên bảng xếp hạng với 79,77 điểm, hai đơn vị lần lượt xếp vị trí tiếp theo lần lượt là Sở Lao động, thương binh và Xã hội đững thứ hai với 79,76 điểm và Sở Kế hoạch và Đầu tư xếp vị trí thứ ba với 78,83 điểm. Ba vị trí đứng cuối trên bảng xếp hạng lần lượt là: Sở Tài nguyên và Môi trường đứng vị trí thứ mười hai với 75,14 điểm, tiếp theo đó là Thanh tra tỉnh đứng thứ mười ba với 74,80 điểm và đững cuối bảng xếp hạng là Sở Xây dựng với 73,03 điểm.
    Kết quả xếp hạng DDCI năm 2019 đối với các địa phương ghi nhận huyện Lục Nam đứng đầu trên bảng xếp hạng với 75,67 điểm, hai địa phương xếp vị trí tiếp theo lần lượt là thành phố Bắc Giang đứng thứ hai với 75,33 điểm và huyện Tân Yên xếp vị trí thứ ba với 74,78 điểm. Ba vị trí đứng cuối trên bảng xếp hạng lần lượt là: huyện Sơn Động đứng thứ tám với 69,51 điểm, huyện Hiệp Hòa đứng thứ chín với 68,98 điểm và đứng cuối bảng xếp hạng là huyện Lạng Giang với 64,89 điểm.

    Links: https://www.facebook.com/ipcbacgiang/posts/620907638481904