Danh mục: Tin tức sự kiện

  • Bắc Giang: Trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 02 dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp

    Bắc Giang: Trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 02 dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp

    Ngày 21/01, UBND tỉnh Bắc Giang tổ chức trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 02 nhà đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp (KCN) Tân Hưng (huyện Lạng Giang) và KCN Yên Lư (huyện Yên Dũng).

    Dự buổi lễ có các đồng chí: Lê Ánh Dương – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Phan Thế Tuấn – Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo một số sở, ngành liên quan và lãnh đạo UBND 2 huyện Lạng Giang, Yên Dũng.

    Về phía nhà đầu tư có: Ông Bùi Đình Chiên – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần bất động sản Capella; ông Nguyễn Hoài Nam – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Lideco 1.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
    và tặng hoa chúc mừng 02 nhà đầu tư.

    Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Tân Hưng có quy mô 105,3 ha, địa điểm tại xã Tân Hưng và xã Xương Lâm, huyện Lạng Giang. Dự án có tổng vốn đầu tư 1.185 tỷ đồng do Công ty cổ phần Lideco 1 làm chủ đầu tư. Thời hạn hoạt động của Dự án là 50 năm kể từ ngày được cấp quyết định chủ trương đầu tư (ngày 23/11/2021).

    Dự án thực hiện không quá 36 tháng kể từ ngày được Nhà nước bàn giao đất. Theo kế hoạch đến tháng 02/2023 dự án bắt đầu thu hút đầu tư các Nhà đầu tư thứ cấp. Khi dự án đi vào hoạt động và lấp đầy 100% đất công nghiệp sẽ tạo việc làm cho nhân dân và người dân địa phương khoảng 30.000 lao động.

    Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Yên Lư có quy mô 377 ha, địa điểm tại xã Yên Lư, huyện Yên Dũng. Dự án có tổng vốn đầu tư gần 2.692 tỷ đồng do Công ty cổ phần bất động sản Capella làm chủ đầu tư. Thời hạn hoạt động của Dự án là 50 năm kể từ ngày được cấp quyết định chủ trương đầu tư (ngày 31/12/2021).

    Dự án thực hiện không quá 36 tháng kể từ ngày được Nhà nước bàn giao đất. Theo kế hoạch đến tháng 11/2022 dự án bắt đầu thu hút đầu tư các Nhà đầu tư thứ cấp. Khi dự án đi vào hoạt động và lấp đầy 100% đất công nghiệp sẽ tạo việc làm cho nhân dân và người dân địa phương khoảng 42.000 lao động.

    Ông Bùi Đình Chiên – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần bất động sản Capella phát biểu tại buổi lễ.

    Phát biểu tại buổi lễ, thay mặt hai nhà đầu tư, ông Bùi Đình Chiên – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần bất động sản Capella trân trọng cảm ơn lãnh đạo tỉnh, chính quyền các cấp tỉnh Bắc Giang đã quan tâm, hỗ trợ và tạo điều kiện cho hai Công ty triển khai Dự án trên địa bàn.

    Để sớm có mặt bằng sạch triển khai thi công xây dựng các hạng mục cơ sở hạ tầng và thu hút đầu tư, hai Công ty cam kết sẽ tích cực phối hợp với các sở, ngành và 2 huyện Lạng Giang, Yên Dũng hoàn thành công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng giai đoạn 1 trong tháng 10/2022 theo đúng tiến độ đề ra. Đây là nhiệm vụ được hai nhà đầu tư xác định là quan trọng hàng đầu. Đồng thời đề nghị lãnh đạo tỉnh tiếp tục quan tâm, chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương hỗ trợ và tạo điều kiện để công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng được thực hiện đúng tiến độ.

    Ông Bùi Đình Chiên tin tưởng 02 Dự án triển khai sẽ thành công tốt đẹp và mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo hàng nghìn việc làm cho người dân địa phương, góp phần xây dựng phát triển ngành công nghiệp của tỉnh Bắc Giang.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương phát biểu tại buổi lễ.

    Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương nhấn mạnh trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 2 nhà đầu tư hôm nay có ý nghĩa là sự kiện mở màn cho năm mới 2022. Đồng thời hy vọng sự khởi đầu tốt đẹp này sẽ mang lại may mắn, thịnh vượng cho tỉnh Bắc Giang cũng như cho nhà đầu tư.

    Đồng chí mong muốn các nhà đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án, phấn đấu kết thúc năm 2022 có thể thu hút đầu tư. Từ năm 2023 KCN Tân Hưng hoàn thiện và đi hoạt động, KCN Yên Lư hoạt động được giai đoạn 1. Đồng thời mong muốn các nhà đầu tư đồng hành cùng tỉnh thu hút các nhà đầu tư thứ cấp có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, phù hợp với chiến lược thu hút đầu tư FDI của tỉnh.

    Chủ tịch UBND tỉnh giao cho Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn, Giám đốc các sở, ngành liên quan và Chủ tịch UBND huyện Lạng Giang, Yên Dũng có trách nhiệm đồng hành cùng với các nhà đầu tư để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc. Đồng thời yêu cầu nhà đầu tư bám sát các cơ quan chức năng của tỉnh trong triển khai thực hiện dự án, phấn đấu hết quý I/2022 cơ bản hoàn thành giải phóng mặt bằng KCN Tân Hưng, tháng 10/2022 hoàn thành giai đoạn một 150 ha KCN Yên Lư để sớm đưa chủ trương đầu tư đi vào hiện thực hóa.

    Đồng chí đề nghị các nhà đầu tư và các địa phương phối hợp chặt chẽ thực hiện dự án đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng. Ngay sau nhận được Giấy chứng nhận đầu tư, các nhà đầu tư bắt tay ngay vào triển khai dự án để sớm đạt được mục tiêu đề ra./.

                                                                                                                                                                Theo Bacgiang.gov.vn

  • Hoàn thiện hệ thống văn bản và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho chuyển đổi số

    Hoàn thiện hệ thống văn bản và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho chuyển đổi số

     

    Chiều ngày 17/01, Ban chỉ đạo chuyển đổi số (CĐS) tỉnh Bắc Giang đã tổ chức phiên họp lần thứ nhất. Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND Mai Sơn – Phó Trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo CĐS tỉnh chủ trì, tham dự có thành viên Ban chỉ đạo và Tổ giúp việc.

    Ảnh: Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Trần Minh Chiêu – Phó Trưởng Ban chỉ đạo báo cáo kết quả chuyển đổi số năm 2021.

    Theo Báo cáo của Ban chỉ đạo Chuyển đổi số (CĐS) tỉnh, tháng 6/2021, Tỉnh uỷ đã ban hành Nghị quyết về CĐS tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030; UBND tỉnh đã ban hành các kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết: kế hoạch phát triển doanh nghiệp công nghệ số và doanh nghiệp số; kế hoạch số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính; kế hoạch hỗ trợ đưa hộ sản xuất nông nghiệp lên sàn thương mại điện tử, thúc đẩy phát triển kinh tế số nông nghiệp, nông thôn; hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo;… Các sở, ban, ngành và huyện, thành phố cũng đã xây dựng kế hoạch CĐS tại cơ quan, đơn vị và địa phương.

    Về chính quyền số

    Sở Thông tin và Truyền thông, cùng các cấp, các ngành đã bảo đảm hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, triển khai hệ thống truyền hình hội nghị kết nối từ cấp tỉnh đến cấp xã với 277 điểm cầu; hệ thống camera an ninh được triển khai tại các huyện, thành phố. Nhiều phần mềm, ứng dụng được triển khai như: Nền tảng, tích hợp chia sẻ dữ liệu tỉnh Bắc Giang (LGSP); quản lý văn bản và điều hành công việc và ký số với gần 15.000 tài khoản, 6.890 chứng thư số; hệ thống thư điện tử công vụ với gần 15.000 tài khoản; hệ thống hội nghị không giấy tờ,…

    Cung cấp 1.380 dịch vụ công mức độ 3, 4  trên Cổng dịch vụ công tỉnh (cấp tỉnh: 1.118, cấp huyện: 183 và cấp xã: 79). Hệ thống thông tin Một cửa điện tử tỉnh liên thông 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) với 100% thủ tục hành chính thực hiện theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông.

    Về kinh tế số

    UBND tỉnh đã ban hành Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2025; ký kết Chương trình CĐS cho doanh nghiệp với Tập đoàn FPT, đặt mục tiêu hỗ trợ 1.000 doanh nghiệp CĐS. Toàn tỉnh hiện có 837 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử viễn thông với giá trị sản xuất đạt 169.353 tỷ đồng (tăng 23.726 tỷ đồng) và nhân lực ICT là 159.563 người (tăng 29.544 người).

    Về xã hội số

    Hiện toàn tỉnh có trên 1,8 triệu thuê bao điện thoại và có 1,7 triệu thuê bao truy cập Internet tốc độ cao 3G, 4G; 72% hộ gia đình có máy tính và 100% hộ gia đình được gán mã địa chỉ bưu chính Vpostcode. Có 47,85% cơ sở y tế từ cấp xã trở lên kết nối hỗ trợ tư vấn khám chữa bệnh từ xa; 85% (17/20) ngân hàng trên địa bàn tỉnh đã cung cấp các dịch vụ tài chính – ngân hàng điện tử; 9,07% số hợp tác xã nông nghiệp có hoạt động thương mại điện tử, ứng dụng nông nghiệp thông minh.

    Ảnh: Quang cảnh hội nghị.

    Kết quả chuyển đổi số trên một số lĩnh vực

    Lĩnh vực y tế, đã triển khai thành công giải pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ chẩn đoán hình ảnh y tế cho 16/16 bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh; 100% bệnh viện, các Trung tâm Y tế trong tỉnh sử dụng phần mềm quản lý y tế; 80% Trung tâm Y tế tuyến huyện và 100% bệnh viện tuyến tỉnh đã có phần mềm quản lý xét nghiệm LIS ở mức cơ bản; 100% các cơ sở khám chữa bệnh trong tỉnh có cầu truyền hình trực tuyến khám chữa bệnh từ xa.

    Lĩnh vực giáo dục, triển khai cơ sở dữ liệu (CSDL) ngành giáo dục riêng; sử dụng sổ sách, học bạ điện tử theo dõi và đánh giá học sinh; duy trì dạy học trực tuyến với trên 1.200 phòng học trực tuyến tại 243 trường; triển khai hiệu quả chương trình “Sóng và máy tính cho em”.

    Lĩnh vực tài nguyên môi trường, tiếp tục duy trì, vận hành ổn định các hệ thống CSDL về đất đai, CSDL về môi trường, CSDL tài nguyên nước, CSDL địa chất khoáng sản, CSDL nền địa lý và đo đạc bản đồ, CSDL nguồn thải; triển khai phần mềm quản lý thông tin quy hoạch và giá đất, hệ thống quan trắc môi trường tự động.

    Thảo luận tại hội nghị, các đại biểu đề nghị quan tâm thu hút doanh nghiệp đầu tư công nghệ cao, điện tử; có cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực công nghệ thông tin; bảo đảm kinh phí cho CĐS; quan tâm hơn nữa về an toàn, an ninh thông tin; tăng cường để thanh niên, học sinh tiếp cận với công nghệ số và đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức; triển khai đồng bộ các CSDL chuyên ngành và đầu tư trang thiết bị chuyên dùng phục vụ cho CĐS; đẩy mạnh triển khai hệ thống thông minh như: Trung tâm giám sát điều hành thông minh, giao thông thông minh, y tế thông minh;… 

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn phát biểu kết luận hội nghị.

    Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn khẳng định, năm 2021 cùng với thành tích chung của tỉnh trong phát triển kinh tế – xã hội, chuyển đổi số tỉnh Bắc Giang cũng đạt nhiều kết quả đáng phấn khởi, các nội dung được triển khai quyết liệt, sâu sát và linh hoạt. Người đứng đầu các cấp, các ngành đã nhận thức rõ tầm quan trọng của CĐS đối với phát triển ngành, địa phương và kinh tế – xã hội của tỉnh. Quá trình triển khai đã bám sát và tranh thủ sự quan tâm, chỉ đạo của Chính phủ và các Bộ, ngành trung ương. Tuy nhiên, hạ tầng công nghệ thông tin còn chưa đáp ứng yêu cầu; hệ thống phần mềm, CSDL còn thiếu tính đồng bộ; một số chỉ tiêu trong chỉ số DTI còn thấp; nhân lực làm chuyển đổi số còn hạn chế;…

    Để triển khai hiệu quả CĐS năm 2022, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu khắc phục ngay những tồn tại, hạn chế trong CĐS năm 2021. Khẩn trương tham mưu hoàn thiện hệ thống văn bản làm cơ sở cho việc triển khai, chỉ đạo trong năm 2022. Ưu tiên xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng chỉ số DTI, trong đó xác định rõ trách nhiệm và nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành đối với từng tiêu chí của Chỉ số.

    Đồng chí nhấn mạnh, cần quan tâm tuyển dụng đủ và đào tạo, bồi dưỡng người làm công nghệ thông tin, trong đó ưu tiên đào tạo cho 20 nhân sự nòng cốt trong chuyển đổi số. Bố trí bảo đảm đủ kinh phí cho triển khai chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết của Tỉnh ủy, đồng thời rà soát các nhiệm vụ đã giao nhưng chưa bố trí kinh phí.

    Tiếp tục xây dựng trung tâm giám sát điều hành thông minh, giao thông thông minh kết hợp với camera an ninh. Ngành giáo dục tiếp tục đưa nội dung cải cách hành chính, chuyển đổi số vào trong chương trình học cho học sinh; đồng thời, xây dựng đội ngũ nòng cốt tuyên truyền về chuyển đổi số đến người dân. Cùng với đó, triển khai quyết liệt, thực chất dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 và thanh toán trực tuyến. Trong tháng 02/2022, tổ chức gặp mặt cán bộ công nghệ thông tin chuyên trách.

    Công an tỉnh và Sở Thông tin và Truyền thông ký kết Chương trình phối hợp.

    Cũng tại hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn, cùng các đại biểu dự và chứng kiến Chương trình ký kết kế hoạch phối hợp giữa Công an tỉnh và Sở Thông tin và Truyền thông về bảo đảm an toàn, an ninh công nghệ thông tin

                                                                                                                                                                   Theo Bacgiang.gov.vn

  • Tăng tính bền vững cho phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế

    Tăng tính bền vững cho phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế

     
    Tăng tính bền vững cho phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế

    Là khu vực quan trọng của nền kinh tế, bên cạnh chính sách phát triển khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) của Chính phủ, các doanh nghiệp cũng đang có nhiều giải pháp hỗ trợ lĩnh vực này.

    Khu vực trọng điểm thu hút đầu tư

    Chia sẻ thông tin tại một sự kiện xúc tiến đầu tư vào KCN, KKT mới đây, ông Takeo Nakajima, Trưởng đại diện tại Hà Nội của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) cho biết, theo khảo sát của cơ quan này với hơn 700 doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, chỉ 31% câu trả lời dự báo lợi nhuận năm 2021 tăng, nhưng trong năm 2022, có tới 56% doanh nghiệp dự báo lợi nhuận tăng, vượt qua mức trung bình của các nước Đông Nam Á. Với sự lạc quan này, Việt Nam đứng đầu trong các nước được khảo sát về kế hoạch mở rộng của doanh nghiệp Nhật Bản trong 1-2 năm tới.

    Do đó, đầu tư, phát triển các KCN, KKT đang là một trong những lĩnh vực thu hút sự quan tâm của doanh nghiệp trong và ngoài nước.

    Theo ông Lê Thành Quân, Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), hiện nay, cả nước có 395 KCN; 26 khu kinh tế cửa khẩu; 18 khu kinh tế ven biển.

    “Các KCN, KKT đã trở thành những khu vực trọng điểm thu hút dự án đầu tư, là điểm đến của nhiều tập đoàn hàng đầu trên thế giới”, ông Quân cho hay.

    Theo số liệu từ Vụ Quản lý các khu kinh tế, tính đến cuối tháng 10/2021, đã có 10.996 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 230,2 tỷ USD, vốn đầu tư thực hiện khoảng 69%. 10.211 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 2,54 triệu tỷ đồng, vốn thực hiện khoảng 46,5%.

    Giải pháp của doanh nghiệp song hành cùng chính sách

    Về định hướng phát triển KCN, KKT, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong thời gian tới, Chính phủ hướng tới phát triển phát triển các loại hình KCN sinh thái, KCN hỗ trợ, KCN chuyên ngành, KCN công nghệ cao, tiến tới cân bằng trong phát triển KCN, KKT để giảm áp lực về giao thông, đô thị, môi trường và hạ tầng xã hội.

    Để thực hiện định hướng này, Chính phủ đang có nhiều chính sách ưu đãi đầu tư vào KCN, KKT như ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi thuế nhập khẩu, ưu đãi đất đai, hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng KCN, KKT, chính sách nhà ở công nhân…

    Đề xuất giải pháp thu hút đầu tư vào KCN, KKT theo hướng phát triển mô hình KCN sinh thái gắn với phát triển bền vững, ông Phạm Hồng Điệp, Tổng giám đốc Công ty Phát triển hạ tầng KCN Nam Cầu Kiền (Hải Phòng) cho biết, sau một thời gian dài nỗ lực xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn trong KCN sinh thái, giúp doanh nghiệp giảm tác động môi trường, tăng hiệu quả sản xuất, đến nay, thương hiệu KCN Nam Cầu Kiền đã nhanh chóng lan tỏa đến các đơn vị đối tác, khách hàng.

    Bên cạnh đó, theo ông Phạm Như Ánh, thành viên Ban Điều hành Ngân hàng MB, các ngân hàng cũng đang có nhiều chính sách vay ưu đãi đối với lĩnh vực đầu tư vào KCN. Đơn cử, MB đang áp dụng lãi suất cho vay với bất động sản KCN thấp hơn 1% so với lãi suất cho vay bất động sản thông thường, dù hệ số rủi ro lĩnh vực này đang cao hơn.

    Ông Lê Thành Quân cho biết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình Chính phủ Dự thảo nghị định thay thế Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 14/3/2018 về quản lý KCN và KKT, trong đó bổ sung, hoàn thiện các quy định về việc phát triển mô hình KCN, KKT mới.

    Để tiếp tục nâng cao sức hấp dẫn của môi trường đầu tư kinh doanh của các KCN, KKT, với vai trò cơ quan đầu mối, tham mưu về quản lý nhà nước đối với KCN, KKT, ông Quân khẳng định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tiếp tục hoàn thiện mô hình quản lý và ưu đãi đầu tư của KCN, KKT; phát triển các mô hình KCN, KKT với chất lượng quy hoạch, trình độ quản lý và hạ tầng kỹ thuật cao hơn; nâng cao tính liên kết, hợp tác giữa các KCN, KKT.

                                                                                                                                                                    Theo baodautu.vn

  • Tình hình đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài năm 2021

    Tình hình đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài năm 2021

     
     
    Tình hình đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài năm 2021

     

    Trong tháng 12 năm 2021, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã giảm gần 1,2 tỷ USD vốn đầu tư của dự án thăm dò phát triển và khai thác dầu khí tại Nga. Lượng vốn giảm lớn đã vượt quá số vốn đầu tư mới và tăng thêm của Việt Nam ra nước ngoài trong năm. Vì vậy tính chung trong cả năm 2021, tổng vốn đầu tư Việt Nam ra nước ngoài cấp mới và điều chỉnh giảm trên 366,9 triệu USD (giảm 1,6 lần so với cùng kỳ). Nếu không tính dự án giảm vốn lớn này, tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong năm 2021 sẽ đạt trên 828,7 triệu USD.

    Trong năm 2021, có 61 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới, với tổng vốn đăng ký đạt trên 409 triệu USD (tăng 28,6% so với cùng kỳ) và 22 lượt dự án điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn điều chỉnh giảm trên 776 triệu USD (giảm gần 3,9 lần so với cùng kỳ).

    Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 15 ngành. Trong đó hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ dẫn đầu với 1 dự án mới và 3 lượt dự án điều chỉnh vốn, tổng vốn đầu tư đạt trên 420,8 triệu USD, tăng 6,7 lần so với năm 2020. Ngành bán buôn, bán lẻ đứng thứ 2, với tổng vốn đầu tư gần 160,9 triệu USD, tăng trên 2,5 lần so với năm 2020; tiếp theo là các ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp chế biến, chế tạo,…

    Có 26 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong năm 2021. Dẫn đầu là Hoa Kỳ với 4 dự án đầu tư mới và 3 dự án điều chỉnh vốn, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt gần 307,3 triệu USD, tăng 4,4 lần so với năm 2020. Đứng thứ hai là Singapore với tổng vốn đầu tư trên 141,7 triệu USD, tăng gần 3,6 lần so với năm 2020. Tiếp theo lần lượt là Campuchia, Israel… với vốn đầu tư đạt 89,4 triệu USD và gần 71,6 triệu USD.

              Lũy kế đến 20/12/2021, Việt Nam đã có 1.448 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư Việt Nam trên 20,9 tỷ USD. Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (32,3%); nông, lâm nghiệp, thủy sản (16%). Các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (24,8%); Campuchia (13,6 %); Venezuela (8,7%);…

                                                                                                                                                                             Theo Cục ĐTNN
  • Bắc Giang đẩy mạnh phát triển vùng sản xuất tập trung phục vụ chế biến xuất khẩu

    Thời gian qua, tỉnh Bắc Giang luôn chú trọng đẩy mạnh phát triển vùng sản xuất tập trung phục vụ chế biến xuất khẩu vụ Đông Xuân.

    Ảnh minh họa.

    Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã triển khai và nghiệm thu 77 mô hình sản xuất rau, củ quả tập trung với tổng diện tích gần 550 ha. Trong đó, có 70 mô hình khoai tây với diện tích 497 ha, 03 mô hình ngô ngọt với diện tích 16 ha, 03 mô hình dưa bắp cải với diện tích 22 ha, 01 mô hình bí với diện tích 12 ha.

    Trong thời gian qua, việc liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm giữa doanh nghiệp, Hợp tác xã với nông dân trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thực hiện có hiệu quả. Tổng liên kết sản xuất đạt trên 3.000 ha.

    Các sản phẩm được liên kết sản xuất và bao tiêu chủ yếu gồm: Khoai tây chế biến, khoai tây thương phẩm, dưa bao tử, dưa ngọt, dưa chuột, cà chua bi, ớt và rau các loại… Do có liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm nên việc tiêu thụ tương đối thuận lợi, giá các mặt hàng nông sản vụ Đông luôn ở mức cao hơn so với cùng kỳ./.

                                                                                                                                                                     Theo Bacgiang.gov.vn

  • Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Giang năm 2022

    Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Giang năm 2022

    UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2022 của Chính phủ và các Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2022.

    Ảnh minh họa

    Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2022 của Chính phủ và các Nghị quyết Tỉnh ủy, HĐND tỉnh về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 nhằm xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp cụ thể của các cấp, các ngành và địa phương trong thực hiện phương châm hành động và mục tiêu phát triển KT-XH. UBND tỉnh quán triệt, nhất quán trong chỉ đạo điều hành đó là “Ổn định, kỷ cương, an toàn, linh hoạt, hiệu quả”, trọng tâm chỉ đạo điều hành, cụ thể hóa trong 6 quan điểm đó là:

    Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết, nỗ lực phấn đấu với quyết tâm cao nhất, biến thách thức thành cơ hội, thực hiện thành công toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2022, tạo nền tảng vững chắc để tỉnh phát triển nhanh, bền vững.

    Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19; thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp, hiệu quả, bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của nhân dân cùng với tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ hiệu quả người dân, doanh nghiệp.

    Bám sát tình hình, tận dụng mọi cơ hội để thúc đẩy quá trình phục hồi, phát triển KT-XH. Tập trung thực hiện 03 trọng tâm: khôi phục, thúc đẩy sản xuất kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và huy động nguồn lực để phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, công nghiệp, đô thị; đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng thực chất, hiệu quả.

    Chú trọng phát triển văn hóa xã hội. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, tạo đồng thuận xã hội. Bảo đảm an sinh xã hội. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; khôi phục và ổn định thị trường lao động, tạo việc làm, cơ cấu lại lực lượng lao động, nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân.

    Đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số theo tinh thần kiến tạo, phát triển, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi. Tăng cường phân cấp, phân quyền, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

    Bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; tiếp tục củng cố, giữ vững quốc phòng, an ninh. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

    UBND tỉnh yêu cầu các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh phát huy tinh thần đoàn kết, quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ, nỗ lực phấn đấu, đổi mới, sáng tạo, điều hành linh hoạt, tổ chức thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp để hoàn thành vượt mức các nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu Kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022; tạo đà vững chắc cho thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm giai đoạn 2021-2025 của tỉnh.

    Để thực hiện được mục tiêu đề ra, UBND tỉnh Bắc Giang tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đó là: Thực hiện hiệu quả mục tiêu vừa phòng, chống dịch COVID-19, vừa phục hồi, phát triển KT-XH; Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số; Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên; tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu; Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đẩy mạnh xây dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên; tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu; Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo; Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát huy giá trị văn hoá, con người Việt Nam; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; Củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; Tăng cường hợp tác, liên kết, thực hiện có hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh thông tin truyền thông, tạo đồng thuận xã hội.

                                                                                                                                                                            Theo Bacgiang.gov.vn

  • Bắc Giang: Đẩy mạnh xúc tiến thương mại tiêu thụ nông sản

    Để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nông sản cho nông dân, thời gian qua, tỉnh Bắc Giang quan tâm chỉ đạo các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại tiêu thụ nông sản, nhất là các sản phẩm OCOP.

    Bắc Giang đẩy mạnh xúc tiến thương mại tiêu thụ nông sản.

    Đến nay, tỉnh đã hình thành 5 điểm giới thiệu sản phẩm OCOP; thường xuyên hỗ trợ cho các Hợp tác xã, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có sản phẩm tiêu biểu đặc trưng và sản phẩm OCOP tham gia Hội chợ triển lãm xúc tiến thương mại, tiêu thụ sản phẩm tại các tỉnh Quảng Ninh, Lào Cai, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh,… Xây dựng, duy trì vận hành trang web sản phẩm OCOP tỉnh Bắc Giang, qua đó đã tạo ra chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ.

    Bên cạnh đó, tỉnh tăng cường tuyên truyền, giới thiệu các sản phẩm dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng nhằm cung cấp thông tin cần thiết và quảng bá sâu rộng sản phẩm nông sản nói chung và sản phẩm Ocop nói riêng của tỉnh đến người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh nhằm nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm./.

                                                                                                                                                                     Theo Bacgiang.gov.vn

  • Kế hoạch cải cách hành chính năm 2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Kế hoạch cải cách hành chính năm 2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

     


    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    (MPI) – Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ký ban hành Quyết định số 1701/QĐ-BKHĐT về Kế hoạch Cải cách hành chính (CCHC) năm 2022 của Bộ. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2022.

    Thực hiện Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021-2030, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng Kế hoạch CCHC năm 2022 của Bộ với mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác CCHC nhằm xây dựng nền hành chính vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế và hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

    Theo kế hoạch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra 06 nhiệm vụ CCHC trong năm 2022. Thứ nhất, cải cách thể chế. Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Bộ tiếp tục tập trung hoàn thiện các quy định của pháp luật trên các lĩnh vực quản lý nhà nước theo hướng rõ rành, minh bạch, đồng bộ. Cụ thể, lập đề nghị đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội Luật Hợp tác xã (sửa đổi), Luật Đấu thầu (sửa đổi) và các Nghị định, Thông tư theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Tổ chức công tác rà soát, hệ thống hóa VBQPPL. Tăng cường công tác kiểm tra VBQPPL do Bộ, ngành và địa phương ban hành có liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của Bộ.

    Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính (TTHC). Tiếp tục thực hiện tiếp nhận và giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo quy định tại Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTTHC và Quyết định số 985/QĐ-TTg ngày 08/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị định số 61/2018/NĐ-CP. Xây dựng và ban hành Kế hoạch thực hiện công tác kiểm soát TTHC, Kế hoạch rà soát TTHC năm 2022 của Bộ. Thứ ba, cải cách tổ chức bộ máy hành chính. Hoàn thiện tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ; thực hiện phân cấp; đổi mới phương thức hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông.

    Thứ tư, cải cách chế độ công vụ. Xây dựng và triển khai có hiệu quả kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức viên chức năm 2022; tiếp tục tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy chế, quy định liên quan tới công tác tổ chức cán bộ để thay thế các quy chế, quy định đã ban hành trước đây nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của Bộ theo quy định mới của Chính phủ. Thứ năm, cải cách tài chính công. Tiếp tục thực hiện công khai ngân sách nhà nước trong các đơn vị nhằm phát huy dân chủ và mở rộng công khai, minh bạch trong chỉ ngân sách và sử dụng tài sản công.

    Thứ sáu, xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Tiếp tục ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong nội bộ; ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp; ứng dụng CNTT phục vụ cơ quan nhà nước; phát triển hạ tầng kỹ thuật; bảo đảm an toàn thông tin.

    Để triển khai thực hiện Kế hoạch CCHC năm 2022, Ban chỉ đạo CCHC của Bộ sẽ sát sao chỉ đạo, xây dựng, hướng dẫn, đôn đốc việc triển khai thực hiện Kế hoạch tại đơn vị; làm đầu mối xây dựng kế hoạch huy động các nguồn lực phục vụ công tác CCHC của Bộ. Tổ giúp việc Ban chỉ đạo CCHC của Bộ có trách nhiệm theo dõi, nắm bắt tình hình, tiến độ, kết quả thực hiện Kế hoạch CCHC của các đơn vị được phân công thực hiện, báo cáo Ban chỉ đạo CCHC của Bộ.

    Theo Quyết định, Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện công tác cải cách thể chế trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Trung tâm Tin học chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện công tác xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số, cụ thể là việc ứng dụng CNTT – truyền thông trong quy trình điều hành, xử lý công việc của Bộ. Các đơn vị triển khai thực hiện nhiệm vụ theo đúng kế hoạch đề ra./.

                                                                                                                                                          Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư quy định Hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics

    Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư quy định Hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics

                Ngày 31/12/2021, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 12/2021/TT-BKHĐT quy định Hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Thông tư áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, thực hiện hoạt động thống kê và sử dụng thông tin thống kê logistics.

    Hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics là tập hợp các chỉ tiêu thống kê phản ánh các đặc điểm của hoạt động logistics, chi phí logistics trong nền kinh tế quốc gia và các dịch vụ logistics thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.

    Hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics gồm danh mục 63 chỉ tiêu thống kê logistics quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư gồm 13 chỉ tiêu thống kê logistics kết cấu hạ tầng; 6 chỉ tiêu thống kê logistics phương tiện vận tải; 6 chỉ tiêu thống kê logistics đào tạo nguồn nhân lực; 7 chỉ tiêu thống kê logistics doanh nghiệp, lao động; 13 chỉ tiêu thống kê logistics thương mại, dịch vụ; 3 chỉ tiêu thống kê logistics ứng dụng công nghệ thông tin trong thủ tục hành chính; 5 chỉ tiêu thống kê logistics thời gian, chi phí logistics; 10 chỉ tiêu thống kê logistics năng lực và chất lượng dịch vụ logistics và Nội dung chỉ tiêu thống kê logistics quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thu thập, tổng hợp thông tin thống kê đối với các chỉ tiêu thống kê logistics được phân công, bảo đảm cung cấp số liệu thống kê chính xác, đầy đủ, kịp thời và đáp ứng yêu cầu so sánh quốc tế; Xây dựng và hoàn thiện các hình thức thu thập thông tin về các chỉ tiêu thống kê logistics; Tổng hợp thông tin thống kê thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics; theo dõi, hướng dẫn, báo cáo tình hình thực hiện Thông tư này.

    Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Thủ trưởng các cơ quan có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình căn cứ vào Hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics thực hiện lồng ghép, thu thập, tổng hợp những chỉ tiêu được phân công, cung cấp cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) để tổng hợp, biên soạn./.

                                                                                                                                                          Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Triển khai có hiệu quả kế hoạch đầu tư công năm 2022 có vai trò quan trọng trong phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội

    Triển khai có hiệu quả kế hoạch đầu tư công năm 2022 có vai trò quan trọng trong phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa có Văn bản số 9481/BKHĐT-TH gửi các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Bí thư tỉnh ủy, thành ủy và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tăng cường công tác triển khai kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2022 và cập nhật kế hoạch đầu tư vốn năm 2021 trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư công.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Năm 2021 diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, là năm đầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội (KTXH) 10 năm 2021-2030 và các Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2021-2025 trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, thách thức. Nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực, phối hợp chặt chẽ của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công (ĐTC) đã có chuyển biến tích cực nhất là sau Hội nghị trực tuyến toàn quốc với các bộ ngành, địa phương về công tác giải ngân vốn ĐTC năm 2021.

    Năm 2022, là năm bản lề thực hiện các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2021-2025, Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021-2025 và Kế hoạch ĐTC trung hạn giai đoạn 2021-2025. Để thực hiện thành công mục tiêu phát triển KTXH năm 2022 việc triển khai có hiệu quả kế hoạch ĐTC năm 2022 có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng, góp phần tạo năng lực sản xuất mới, thu hút đầu tư, phục hồi và phát triển KTXH.

    Căn cứ Luật ĐTC và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, các Nghị quyết của Quốc hội, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Văn bản 8691/BKHĐT-TH ngày 09/12/2021 về đôn đốc giải ngân năm 2021 và triển khai kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2022, trong đó đã đề nghị một số giải pháp, tiến độ liên quan đến công tác phân bổ, giải ngân kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2022 theo quy định tại Luật ĐTC, các Nghị quyết của Quốc hội và các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    Tại văn bản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Bí thư tỉnh ủy, thành ủy và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quan tâm, tăng cường hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc triển khai phân bổ hết kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2022 được giao trước ngày 31/12/2021 để có thể giải ngân kế hoạch đầu tư vốn năm 2022 ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm.

    Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị báo cáo kết quả phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2022, cập nhật kết quả phân bổ kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2021 (bao gồm số đã điều chỉnh) của từng dự án trên Hệ thống thông tin quốc gia về ĐTC trước ngày 10/01/2022 để làm cơ sở rà soát báo cáo phân bổ kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2022 theo quy định./.

                                                                                                                                                             Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Triển khai có hiệu quả kế hoạch đầu tư công năm 2022 có vai trò quan trọng trong phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội

    Triển khai có hiệu quả kế hoạch đầu tư công năm 2022 có vai trò quan trọng trong phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội

     

                         Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa có Văn bản số 9481/BKHĐT-TH gửi các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Bí thư tỉnh ủy, thành ủy và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tăng cường công tác triển khai kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2022 và cập nhật kế hoạch đầu tư vốn năm 2021 trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư công.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Năm 2021 diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, là năm đầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội (KTXH) 10 năm 2021-2030 và các Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2021-2025 trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, thách thức. Nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực, phối hợp chặt chẽ của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công (ĐTC) đã có chuyển biến tích cực nhất là sau Hội nghị trực tuyến toàn quốc với các bộ ngành, địa phương về công tác giải ngân vốn ĐTC năm 2021.

    Năm 2022, là năm bản lề thực hiện các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2021-2025, Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021-2025 và Kế hoạch ĐTC trung hạn giai đoạn 2021-2025. Để thực hiện thành công mục tiêu phát triển KTXH năm 2022 việc triển khai có hiệu quả kế hoạch ĐTC năm 2022 có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng, góp phần tạo năng lực sản xuất mới, thu hút đầu tư, phục hồi và phát triển KTXH.

    Căn cứ Luật ĐTC và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, các Nghị quyết của Quốc hội, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Văn bản 8691/BKHĐT-TH ngày 09/12/2021 về đôn đốc giải ngân năm 2021 và triển khai kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2022, trong đó đã đề nghị một số giải pháp, tiến độ liên quan đến công tác phân bổ, giải ngân kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2022 theo quy định tại Luật ĐTC, các Nghị quyết của Quốc hội và các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    Tại văn bản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Bí thư tỉnh ủy, thành ủy và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quan tâm, tăng cường hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc triển khai phân bổ hết kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2022 được giao trước ngày 31/12/2021 để có thể giải ngân kế hoạch đầu tư vốn năm 2022 ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm.

    Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị báo cáo kết quả phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2022, cập nhật kết quả phân bổ kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2021 (bao gồm số đã điều chỉnh) của từng dự án trên Hệ thống thông tin quốc gia về ĐTC trước ngày 10/01/2022 để làm cơ sở rà soát báo cáo phân bổ kế hoạch đầu tư vốn NSNN năm 2022 theo quy định./.

                                                                                                                                                            Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Công bố Báo cáo Chỉ số phát triển con người của Việt Nam giai đoạn 2016-2020

    Công bố Báo cáo Chỉ số phát triển con người của Việt Nam giai đoạn 2016-2020

     
    Ngày 06/01/2022, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã công bố Báo cáo Chỉ số phát triển con người của Việt Nam giai đoạn 2016-2020. Báo cáo là kết quả của sự phối hợp giữa Tổng cục Thống kê với các Bộ, ngành, địa phương và sự hỗ trợ kỹ thuật của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP).
    Phó Vụ trưởng Vụ Thống kê Dân số và Lao động Nguyễn Thị Thanh Mai trình bày báo cáo Chỉ số phát triển con người Việt Nam giai đoạn 2016-2020. Ảnh: MPI

    Phó Vụ trưởng Vụ Thống kê Dân số và Lao động, Tổng cục Thống kê Nguyễn Thị Thanh Mai cho biết, trên cơ sở phương pháp tính Chỉ số phát triển con người (HDI) đang được các quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế thống nhất áp dụng, Báo cáo đã thu thập thông tin đầu vào để biên soạn các chỉ tiêu tổng hợp HDI của cả nước và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương những năm 2016 – 2020.

    Báo cáo phân tích các chỉ tiêu HDI đã tính toán, tổng hợp, góp phần phản ánh động thái và thực trạng kinh tế – xã hội của đất nước những năm vừa qua trên 3 tiêu chí quan hệ trực tiếp đến mỗi người dân, gồm sức khỏe, giáo dục và thu nhập. Ngoài ra, Báo cáo còn tập trung làm rõ phương pháp tính, nguồn số liệu sử dụng cũng như cung cấp các biểu tổng hợp kết quả tính Chỉ số phát triển con người của Việt Nam và 63 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn 2016 – 2020.

    Báo cáo cho thấy, trong giai đoạn 2016-2020, HDI của cả nước và hầu hết 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều tăng qua các năm. HDI của cả nước tăng từ 0,682 năm 2016 lên 0,687 năm 2017; 0,693 năm 2018; 0,703 năm 2019 và 0,706 năm 2020. Theo đó, Việt Nam từ Nhóm các quốc gia, vùng lãnh thổ có HDI trung bình năm 2018 và những năm trước đó đã gia nhập Nhóm đạt mức cao trong năm 2019 và năm 2020. Thứ hạng HDI của Việt Nam trong các quốc gia, vùng lãnh thổ thế giới tăng từ vị trí 118 năm 2018 lên 117 năm 2019 và có thể tiếp tục được cải thiện trong năm 2020 khi UNDP cập nhật Bảng xếp hạng.

    Với mức độ đóng góp khác nhau, tăng trưởng HDI giai đoạn 2016-2020 của cả nước và 63 địa phương có sự đóng góp của cả 3 Chỉ số thành phần do các Chỉ số này cũng đạt được mức tăng và tốc độ tăng. Chỉ số sức khỏe của cả nước tăng từ 0,822 năm 2016 lên 0,823 năm 2017 và năm 2018; 0,825 năm 2019 và đạt 0,826 năm 2020. Chỉ số giáo dục 5 năm tương ứng đạt lần lượt là: 0,618; 0,621; 0,625; 0,641 và 0,640; Chỉ số thu nhập là: 0,624; 0,634; 0,648; 0,659 và 0,664.

    Nhìn chung các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đạt được HDI năm 2020 cao hơn năm 2016. Năm 2020, tuy không địa phương nào có HDI được xếp vào Nhóm 1, là nhóm đạt mức rất cao nhưng cũng không địa phương thuộc Nhóm 4, là Nhóm thấp nhất theo tiêu chuẩn phân chia nhóm của UNDP. Các địa phương đều thuộc Nhóm 3, là Nhóm có HDI ở mức trung bình và Nhóm 2, là Nhóm có HDI đạt mức cao. Đáng chú ý là, Nhóm đạt mức cao đã tăng từ 13 địa phương năm 2016 lên 14 địa phương năm 2017; 18 địa phương năm 2018; 21 địa phương năm 2019 và 24 địa phương năm 2020.

    Nhiều địa phương có HDI thấp nhưng đạt tốc độ tăng nhanh hơn địa phương có HDI cao, khoảng cách chênh lệch HDI giữa các địa phương thu hẹp dần. Năm 2020, HDI bình quân của 10 địa phương đạt mức cao nhất là 0,773, tăng 2,71% so với năm 2016. Trong khi đó, HDI của 10 địa phương có mức thấp nhất là 0,626, tăng 5,02%; gấp 1,85 lần tốc độ tăng bình quân của 10 địa phương đạt mức cao nhất. Do vậy, mức chênh lệch HDI bình quân của 10 địa phương đạt cao nhất so với 10 địa phương có mức thấp nhất đã giảm từ 26,38% năm 2016 xuống còn 23,61% năm 2020.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo cũng nêu một số vấn đề đáng quan ngại trong phát triển con người của Việt Nam. Cụ thể, HDI của cả nước và hầu hết các địa phương đều tăng, nhưng tốc độ tăng thấp. Năm 2020, HDI của cả nước đạt 0,706, chỉ tăng 0,024 so với năm 2016 với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 0,9%. HDI của cả nước tuy đã chuyển từ Nhóm 3 lên Nhóm 2 nhưng mới ở mức thấp của Nhóm 2. Trong Bảng xếp hạng HDI thế giới, thứ hạng của Việt Nam cải thiện không nhiều và trong khu vực Đông Nam Á vẫn xếp thứ 7/11 quốc gia.

    Sự đóng góp của các Chỉ số thành phần vào cấu thành HDI không lớn. Chỉ số sức khỏe của cả nước năm 2020 chỉ tăng 0,004 so với năm 2016 với tốc độ tằng bình quân mỗi năm là 0,12%; Chỉ số giáo dục tăng 0,022 với tốc độ tăng 0,88%/năm; Chỉ số thu nhập tăng 0,040 với tốc độ tăng 1,57%/năm.

    HDI và các Chỉ số thành phần của nhiều địa phương vùng núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn thấp. Mặc dù đạt được tốc độ tăng tương đối cao trong những năm 2016-2020 vừa qua, nhưng HDI của tỉnh Lai Châu năm 2020 mới đạt 0,582, bằng 82,44% HDI của cả nước; tỉnh Hà Giang đạt 0,591, bằng 83,71%; tỉnh Điện Biên đạt 0,602, bằng 85,27%; tỉnh Gia Lai đạt 0,624, bằng 88,39%.

    Toàn cảnh Họp báo. Ảnh: MPI

    Trước thực trạng đó, Tổng cục Thống kê cũng đưa ra một số đề xuất một số kiến nghị cụ thể. Một là, HDI là thước đo tổng hợp, đánh giá toàn diện kết quả phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Do vậy, HDI phải là một trong những chỉ tiêu chủ yếu trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của cả nước cũng như của từng địa phương. Đồng thời, dựa trên kết quả tính HDI, cần xây dựng một hệ thống các giải pháp đồng bộ và triển khai thực hiện quyết liệt và hiệu quả; đặc biệt là các giải pháp tăng cường dịch vụ y tế, giáo dục vì các lĩnh vực này liên quan trực tiếp đến phát triển con người.

    Hai là, trong thời gian tới, Tổng cục Thống kê sẽ tăng cường biên soạn và công bố HDI và Báo cáo phát triển con người (HDR) của cả nước và 63 địa phương. Ngoài nỗ lực của Tổng cục Thống kê rất cần sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành, địa phương trong việc thu thập, tổng hợp đầy đủ thông tin đầu vào biên soạn HDI và HDR.

    Ba là, Báo cáo HDR của Việt Nam giai đoạn 2016-2020 có một số khác biệt về số liệu HDI trong HDR hằng năm của UNDP; chủ yếu do các tổ chức quốc tế cung cấp số liệu đầu vào cho UNDP chưa cập nhật số liệu chính thức hoặc số liệu điều chỉnh của Tổng cục Thống kê. Tuy nhiên, khác biệt không lớn. Tổng cục Thống kê đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế thống nhất sử dụng những thông tin HDI đã thu thập, tổng hợp trong Báo cáo này và đóng góp ý kiến để việc biên soạn các Báo cáo phát triển con người của Việt Nam tiếp theo hoàn thiện hơn./.

                                                                                                                                                       Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư
  • Sửa đổi luật nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc về thể chế pháp luật để khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng ngay các nguồn lực cho đầu tư phát triển

    Sửa đổi luật nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc về thể chế pháp luật để khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng ngay các nguồn lực cho đầu tư phát triển

     Sáng 10/01/2022, tiếp tục Kỳ họp bất thường lần thứ Nhất, Quốc hội đã thảo luận trực tuyến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chủ trì, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải điều hành nội dung. Thay mặt cơ quan soạn thảo cũng như cơ quan đề xuất sửa đổi một số luật liên quan đến luật trình Quốc hội tại kỳ họp lần này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng đã giải trình một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm.

    Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng báo cáo giải trình một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm. Ảnh: quochoi.vn

    Tại phiên họp, các đại biểu Quốc hội đã tập trung thảo luận một số nội dung trọng tâm như sự cần thiết ban hành luật; quan điểm xây dựng dự án luật; phạm vi sửa đổi, bổ sung; tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự án luật với hệ thống pháp luật. Đối với từng điều, khoản cụ thể của các luật, các đại biểu cho ý kiến về sự cần thiết về sửa đổi, bổ sung; nội dung sửa đổi, bổ sung tính hợp lý, tính khả thi của nội dung sửa đổi, bổ sung khi áp dụng vào thực tiễn…

    Giải trình một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết, sửa luật nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc về thể chế pháp luật để khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng ngay các nguồn lực cho đầu tư phát triển; đẩy mạnh trong phân cấp, phân quyền; đơn giản hóa thủ tục; tạo thuận lợi cho nhà đầu tư vào doanh nghiệp. Với 3 nguyên tắc đó là lựa chọn một số quy định hiện nay đang có các mâu thuẫn, thiếu đồng bộ, đang gây vướng mắc, cản trở và yêu cầu cấp bách phải sửa đổi ngay. Thứ hai, đẩy mạnh phân cấp quản lý cho các địa phương. Thứ ba, những nội dung này phải rõ ràng, có tính độc lập nhất định và có thể kế thừa để sau này chúng ta hoàn chỉnh tiếp theo.

    Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng làm rõ thêm một số nội dung có ý kiến đề nghị hết sức thận trọng hoặc chưa phân cấp thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án thuộc phạm vi khu vực bảo vệ 2 của các di tích quốc gia đặc biệt thuộc danh mục di sản thế giới. Theo quy định tại Điều 32 của Luật Di sản văn hóa thì việc xây dựng các chương trình bảo vệ và phát huy giá trị di tích ở khu vực bảo vệ của di tích, trong đó đã bao gồm di tích thuộc Danh mục di sản thế giới thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Như vậy, quy định này không yêu cầu phải có chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ và việc phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với dự án này tại khu vực bảo vệ 2 của di tích là phù hợp và thống nhất với quy định của Luật Di sản văn hóa.

    Để tránh việc lợi dụng làm ảnh hưởng đến các di sản văn hóa thì Chính phủ đã quy định bổ sung về thẩm định sự phù hợp của dự án, với yêu cầu bảo vệ phải được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngay từ khâu chấp thuận chủ trương đầu tư để tránh tình trạng triển khai rồi mới xin ý kiến và Luật Đầu tư công năm 2020 thì cũng đã phân cấp như vậy, tương tự đối với các địa phương để quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư công. Quy định này cũng góp phần đẩy mạnh việc quản lý và tạo cơ chế để theo dõi, giám sát các dự án đầu tư tại khu vực di tích để có cơ sở tham vấn, trao đổi với các tổ chức quốc tế.

    Ở nội dung thứ hai, có nhiều đại biểu phát biểu và tranh luận, đó là nội dung sửa đổi quy định về hình thức sử dụng đất để thực hiện các dự án nhà ở thương mại tại Điều 75 của Luật Đầu tư công hay còn gọi là Điều 23 của Luật Nhà ở, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết, về sự cần thiết phải sửa đổi, theo quy định về hình thức sử dụng đất để thực hiện dự án nhà ở thương mại của Luật Nhà ở đã phát sinh những vướng mắc này trong một thời gian rất dài từ năm 2014 và cũng đã được sửa đổi tại Điều 75 của Luật Đầu tư năm 2020. Nhưng thực chất vẫn chưa giải quyết được những bất cập đang còn tạo ra những phân biệt đối xử với các trường hợp nhà đầu tư đã có quyền sử dụng đất nhưng không phải là đất ở hoặc là không có một phần đất ở, dù chỉ là 1m2 thì không được chấp thuận chủ trương đầu tư, gây lãng phí rất nhiều các nguồn lực hiện nay và thiếu hụt cung cầu về nhà ở làm cho giá của nhà ở có phần tăng lên.

    Thứ hai, các quy định nêu trên thì không thống nhất với quy định về chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư trong trường hợp nhà đầu tư đã có quyền sử dụng đất quy định tại khoản 4 Điều 29 của Luật Đầu tư và quy định về người sử dụng đất được quyền chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trong trường hợp nhà đầu tư đã có quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 52, 57, 58 của Luật Đất đai. Thứ ba, theo phản ánh của các địa phương, hiệp hội thì hiện nay đang còn rất nhiều các dự án thương mại kiểu như thế này đang bị ách tắc, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh 150 dự án, Hà Nội còn 102 dự án, Bình Dương có khoảng 40 dự án.

    Về phương án sửa đổi, Chính phủ đề xuất sửa đổi Điều 75 Luật Đầu tư để cho phép các nhà đầu tư đã có quyền sử dụng đất, gồm cả 3 loại đất, đó là đất ở; đất ở và các loại đất khác; các loại đất khác mà không phải là đất ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Thực hiện dự án nhà ở thương mại theo phương thức chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư và không phải qua đấu giá, đấu thầu. Đồng thời, để kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi, tránh lợi dụng chính sách để chuyển mục đích sử dụng đất tràn lan. Nội dung đề xuất sửa đổi của Chính phủ đã quy định loại trừ tất cả các trường hợp phải thu hồi đất theo quy định, bao gồm cả thu hồi đất để đấu giá, đấu thầu theo quy định của Luật Đất đai hay bán tài sản công theo Luật Tài sản công. Hai là, bổ sung quy định khi chuyển mục đích sử dụng đất thì phải theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Ba là, phải xác định nghĩa vụ tài chính khi chuyển mục đích sử dụng phải theo sát giá thị trường và theo đúng quy định của Luật Đất đai.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã gửi phương án sửa đổi của Chính phủ để lấy ý kiến của các địa phương. Tính đến ngày 31/12/2021 đã có 21/24 địa phương đồng ý với phương án sửa đổi của Chính phủ. Một số địa phương còn đề nghị sửa đổi mạnh mẽ hơn đối với những quy định tại khoản 4 Điều 23 Luật Nhà ở để tháo gỡ những vướng mắc đối với dự án nhận chuyển nhượng, sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng nhà ở thương mại.

    Về ý kiến của dự thảo luật, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho rằng, đây là một vấn đề rất lớn. Nếu không xử lý, giải quyết thì nó sẽ ách tắc và không khơi thông được các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Nếu làm không chặt chẽ, không thận trọng thì có thể sẽ gây hậu quả như các đại biểu đã nêu. Vấn đề này liên quan đến rất nhiều các luật, chính sách về đất đai, xây dựng, đầu tư cần được nghiên cứu và đánh giá thật cẩn thận trọng và đầy đủ hơn, đảm bảo chặt chẽ và hài hòa giữa lợi ích nhà nước, nhà đầu tư và người dân.

    Qua ý kiến của các đại biểu và ý kiến thẩm tra của Ủy ban Kinh tế, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư đề xuất 2 phương án với Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội để xem xét cho ý kiến chỉ đạo đó là phương án theo Chính phủ trình, với việc phải rà soát lại chặt chẽ quy định về việc chuyển mục đích sử dụng đất. Các việc định giá, đánh giá phải nộp cho ngân sách khi chuyển mục đích sử dụng đất. Phương án 2 là theo đề xuất của Ủy ban Pháp luật, đó là đề nghị xây dựng một đề án thí điểm riêng để áp dụng hình thức sử dụng đất khác mà không phải là đất ở để trình cho Quốc hội vào kỳ họp thứ ba, tháng 5/2022 đối với những người đang có quyền sử dụng đất và phù hợp với cả quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

    Phát biểu kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải cho biết, đa số ý kiến đại biểu đều nhất trí với sự cần thiết, quan điểm xây dựng, phạm vi sửa đổi, bổ sung dự án luật để tháo gỡ ngay một số khó khăn, vướng mắc có tính cấp bách hiện nay. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị cân nhắc việc ban hành luật, có ý kiến đề nghị làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý và cơ sở thực tiễn để ban hành luật theo trình tự, thủ tục rút gọn; đề nghị đánh giá kỹ tác động, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn; đề nghị không sửa đổi một số nội dung còn có nhiều ý kiến khác nhau.

    Đối với các nội dung sửa đổi của từng luật cụ thể, các đại biểu cũng tham gia nhiều ý kiến, như thống nhất, phân cấp, phân quyền cho các địa phương khi sửa đổi một số nội dung của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công, tư, Luật Đầu tư, nhưng cũng có ý kiến đề nghị cân nhắc việc phân cấp, phân quyền để quản lý chặt chẽ. Có ý kiến thống nhất sửa đổi Luật Nhà ở nhưng cũng có ý kiến đề nghị đánh giá tác động kỹ hơn, quy định chặt chẽ hơn để tránh trục lợi chính sách, hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và nhà đầu tư. Một số ý kiến đề nghị sửa đổi luật toàn diện hơn Luật Đấu thầu, cân nhắc việc cho thực hiện trước một số nội dung khi ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về vốn ODA; đề nghị cân nhắc việc sửa đổi Luật Điện lực; làm rõ tính cấp bách, sự cần thiết phải sửa đổi. Ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra và các cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ các ý kiến để xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình, ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, hoàn chỉnh dự án luật trình Quốc hội xem xét, thông qua./.

                                                                                                                                                          Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022

    Cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022

     

     Ngày 10/01/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Từ năm 2014, Chính phủ đã xác định cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hướng tới phát triển bền vững là một trọng tâm cải cách, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Qua 8 năm nỗ lực cải cách, vị trí của Việt Nam trên các bảng xếp hạng uy tín toàn cầu đã được nâng lên. Chất lượng môi trường kinh doanh cải thiện tích cực cũng được thể hiện rõ qua kết quả đánh giá Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Từ năm 2020, do tác động của đại dịch COVID-19 nên việc cải thiện vị trí trên các bảng xếp hạng ngày càng khó khăn và đòi hỏi nỗ lực cao hơn, cần sự vào cuộc mạnh mẽ, quyết liệt và tăng tốc hơn nữa của các Bộ, ngành, địa phương cũng như sự chia sẻ và hợp tác từ phía cộng đồng doanh nghiệp, người dân.

    Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra tại Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021-2025, Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2022 theo các nghị quyết của Quốc hội, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, thích ứng linh hoạt, hiệu quả với bối cảnh dịch COVID-19, Chính phủ ban hành Nghị quyết tiếp nối các Nghị quyết số 02/NQ-CP, Nghị quyết số 19/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức liên quan tập trung triển khai thực hiện.

    Mục tiêu tổng quát là cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, nâng cao vị trí của nước ta trên các bảng xếp hạng quốc tế về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh nhằm thích ứng với xu thế phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tăng sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh dịch COVID-19; tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp mới thành lập; giảm tỉ lệ doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động; giảm chi phí đầu vào, chi phí không chính thức cho doanh nghiệp và người dân. Đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19; kịp thời hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, thích ứng linh hoạt, hiệu quả với dịch bệnh.

    Đến năm 2025, phấn đấu thứ hạng năng lực cạnh tranh như sau: Năng lực cạnh tranh 4.0 (của WEF) thuộc Nhóm 50 nước đứng đầu; Phát triển bền vững (của UN) thuộc Nhóm 40 nước đứng đầu; Năng lực đổi mới sáng tạo (của WIPO) thuộc Nhóm 40 nước đứng đầu; Chính phủ điện tử (của UN) thuộc Nhóm 60 nước đứng đầu; Quyền tài sản (của Liên minh quyền tài sản) thuộc Nhóm 60 nước đứng đầu; Hiệu quả logistics (của WB) tăng ít nhất 4 bậc; Năng lực cạnh tranh du lịch (của WEF) thuộc Nhóm 50 nước đứng đầu; An toàn an ninh mạng (của ITU) tăng ít nhất 3 bậc.

    Mục tiêu cụ thể năm 2022 cải thiện chất lượng, nâng cao thứ hạng các chỉ số môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh đồng bộ với cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Moody’s, S&P và Fitch; về cải thiện Năng lực cạnh tranh 4.0 (GCI 4.0) theo xếp hạng của WEF: Nâng cao điểm số và duy trì thứ hạng chỉ số Chi phí tuân thủ pháp luật (gọi tắt là B1); nâng xếp hạng chỉ số Kiểm soát tham nhũng (B2) lên 10 bậc; nâng xếp hạng chỉ số Chất lượng quản lý hành chính đất đai (B3) lên ít nhất 1 bậc; nâng xếp hạng chỉ số Vốn hóa thị trường chứng khoán (B7) lên 2-3 bậc; nâng xếp hạng chỉ số Tăng trưởng về doanh nghiệp đổi mới sáng tạo (B9) lên 2-3 bậc;…

    Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Nghị quyết đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu: Tiếp tục tăng cường trách nhiệm, tính chủ động của các bộ được phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện các bộ chỉ số và các bộ, cơ quan được phân công chủ trì, chịu trách nhiệm đối với các nhóm chỉ số, chỉ số thành phần.

    Các bộ được phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện các bộ chỉ số và các bộ, cơ quan được phân công chủ trì, chịu trách nhiệm đối với các nhóm chỉ số, chỉ số thành phần có trách nhiệm: Cập nhật, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp liên quan tại các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; kịp thời đề xuất, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, giải pháp, nhiệm vụ phát sinh để cải thiện các chỉ số được phân công. Chủ động kết nối với các tổ chức quốc tế; tạo lập kênh phối hợp để cung cấp, cập nhật đầy đủ, kịp thời thông tin nhằm đánh giá, xếp hạng khách quan, chính xác. Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ và các bộ, cơ quan liên quan xây dựng chế độ báo cáo, theo dõi tình hình, kết quả cải thiện đối với các bộ chỉ số, chỉ số được phân công; cập nhật trên hệ thống thông tin báo cáo của bộ, ngành, kết nối với Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ phục vụ chỉ đạo, điều hành.

    Các bộ, cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm cải thiện các yếu tố môi trường kinh doanh tiếp tục thực hiện các giải pháp theo hướng giảm số lượng thủ tục, thời gian, chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp, bao gồm: Khởi sự kinh doanh; nộp thuế và bảo hiểm xã hội; cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan; tiếp cận tín dụng; bảo vệ nhà đầu tư; tiếp cận điện năng; đăng ký tài sản; giao dịch thương mại qua biên giới; giải quyết tranh chấp hợp đồng; và giải quyết phá sản doanh nghiệp.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và các bộ, ngành, địa phương liên quan nghiên cứu điều chỉnh chỉ tiêu thống kê công bố trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo để bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế.

    Chú trọng thực hiện 10 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Một là, cắt giảm danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và cải cách điều kiện kinh doanh. Hai là, tập trung dỡ bỏ rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh do chồng chéo, mâu thuẫn, không hợp lý, khác biệt của các quy định pháp luật. Ba là, tiếp tục thúc đẩy cải cách quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Bốn là, đẩy mạnh cải cách về đăng ký đất đai và đổi mới quản lý hành chính đất đai. Năm là, thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chuyển đổi số theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đồng bộ với thực hiện cải cách hành chính.

    Sáu là, tăng cường cải cách, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định kinh doanh gắn với đẩy mạnh phân cấp, trao quyền cho địa phương và kiểm tra, giám sát. Bảy là, đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nhằm tạo chuyển biến vững chắc đối với các chỉ tiêu phát triển bền vững. Tám là, tiếp tục chú trọng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, khắc phục các tác động tiêu cực của dịch bệnh COVID-19. Chín là, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Mười là, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế gắn với thực hiện cải cách trong nước về môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

    Về tổ chức thực hiện, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh là nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên; trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện Nghị quyết này và các Nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trước ngày 20/01/2022, xây dựng, ban hành Chương trình, Kế hoạch hành động, văn bản cụ thể triển khai thực hiện Nghị quyết này, trong đó xác định cụ thể mục tiêu, nhiệm vụ, tiến độ thực hiện, dự kiến kết quả đối với từng nhiệm vụ và phân công đơn vị chủ trì thực hiện, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Văn phòng Chính phủ.

    Thường xuyên kiểm tra, giám sát tiến độ và kết quả thực hiện Chương trình, Kế hoạch thực hiện các Nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; đồng thời công khai các kết quả kiểm tra, giám sát. Phân công đơn vị làm đầu mối thực hiện tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp tình hình cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của bộ, ngành và địa phương.

    Thường xuyên tổ chức đối thoại, trao đổi với người dân và doanh nghiệp để kịp thời nắm bắt các phản hồi chính sách và giải quyết các khó khăn, vướng mắc. Đảm bảo kỷ luật, kỷ cương đối với cán bộ, công chức trong thực thi công vụ; xử lý nghiêm cán bộ nhũng nhiễu, gây phiền hà cho doanh nghiệp. Tổ chức công tác truyền thông về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh thuộc phạm vi trách nhiệm của mình.

    Trước ngày 10/6 và ngày 10/12/2022, báo cáo tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết 06 tháng và 01 năm gửi Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Văn phòng Chính phủ để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và cuối năm.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững và Nâng cao năng lực cạnh tranh theo dõi, đánh giá về tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết, kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các khó khăn, vướng mắc để được giải quyết. Định kỳ hằng năm công khai kết quả theo dõi, đánh giá./.

                                                                                                                                                          Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Bắc Giang triển khai nhiệm vụ năm 2022

     

    Chiều ngày 13/01, Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Bắc Giang tổ chức hội nghị tổng kết công tác năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022. Dự và chỉ đạo hội nghị có đồng chí Phan Thế Tuấn – Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Cùng dự có đại diện lãnh đạo một số sở, ngành là thành viên Hội đồng quản lý Quỹ Phát triển đất, Hội đồng quản lý Quỹ Đầu tư phát triển.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn phát biểu chỉ đạo hội nghị.

    Theo báo cáo tại hội nghị, Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh đang quản lý tổng nguồn vốn 2 quỹ (Quỹ Đầu tư phát triển và Quỹ Phát triển đất) với hơn 1 nghìn tỷ đồng. Doanh thu năm 2021 là hơn 72,5 tỷ đồng, đạt 105% kế hoạch năm.

    Trong năm, Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện 4 dự án đầu tư trực tiếp gồm: Khu đô thị mới, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên; Khu dịch vụ Song Khê – Nội Hoàng; Khu 2 thuộc Khu dân cư số 3 trên đường 295B, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang; Khu dân cư tổ dân phố Trung, thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên.

    Về hoạt động cho vay đầu tư, đến nay dư nợ cho vay đạt 64,2 tỷ đồng. Quỹ đã thực hiện cho vay 24 tỷ đồng, đạt 80% kế hoạch. Việc đôn đốc thu hồi nợ gốc, lãi vay đạt kết quả tích cực, số nợ gốc thu hồi là 3,7 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch năm; thu lãi vay trên 4,6 tỷ đồng, đạt 102,6 kế hoạch; không để phát sinh nợ gốc quá hạn, nợ lãi quá hạn.

    Đối với hoạt động về ứng vốn, Quỹ đã thực hiện ứng vốn cho các huyện, thành phố và các đơn vị đạt 531 tỷ đồng, đạt 71,1% kế hoạch năm; hoàn thành công tác kiểm tra giám sát việc quản lý, sử dụng vốn ứng theo kế hoạch năm 2021 của Hội đồng quản lý Quỹ phát triển đất tại 02 huyện Lục Nam và Yên Dũng. 

    Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn ghi nhận, biểu dương những kết quả mà Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh đã đạt được trong năm 2021. Đồng chí cũng thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, hạn chế mà Quỹ cần khắc phục như: Công tác cho vay đầu tư năm 2021 chưa hoàn thành kế hoạch giao; một số dự án đề xuất kinh phí ứng vốn vượt với tỷ lệ tương đối cao so với kinh phí bồi thường, GPMB…

    Đồng chí đề nghị năm 2022, Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh cần triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm. Thực hiện rà soát các quy định pháp luật, đối chiếu với thực tiễn tại địa phương để chủ động phát hiện những vấn đề bất cập, gây khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của 02 Quỹ để kịp thời tham mưu ban hành tạo ra cơ chế chủ động, linh hoạt hơn trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, phát huy hiệu quả sử dụng nguồn vốn 02 Quỹ.

    Đổi mới, năng động, sáng tạo, sử dụng linh hoạt nguồn vốn 02 Quỹ để phát huy hiệu quả; hạn chế nguồn vốn tồn đọng, gửi ngân hàng. Nghiên cứu thêm các hình thức hợp tác đầu tư để có điều kiện mở rộng hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và quy định pháp luật cho phép. Tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp. Đổi mới hoạt động cho vay đầu tư theo hướng hợp tác với Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh và các ngân hàng thương mại uy tín.

    Đồng chí đề nghị Hội đồng quản lý Quỹ tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan điều hành nghiệp vụ Quỹ, Ban kiểm soát Quỹ, các đơn vị, UBND các huyện, thành phố trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và theo Quy chế hoạt động của Quỹ.

    Thành viên Ban kiểm soát Quỹ bố trí và dành thời gian phù hợp cho công tác giám sát, kiểm tra việc hoạt động của Cơ quan điều hành Quỹ phát triển đất và Quỹ Đầu tư phát triển. Tích cực trao đổi kinh nghiệm theo chuyên đề về tăng cường học tập, trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh, thành phố trong thực hiện công tác kiểm tra, giám sát./.

                                                                                                                                                                   Theo Bacgiang.gov.vn

  • Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương thăm, chúc tết Đại sứ quán Singapore, Trung Quốc tại Việt Nam

     

    Nhân dịp năm mới 2022, chiều 11/01, đồng chí Lê Ánh Dương – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã thăm, chúc Tết Đại sứ quán Singapore, Trung Quốc tại Việt Nam. Cùng đi có lãnh đạo Sở Ngoại vụ, đại diện Văn phòng UBND tỉnh.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương tặng ngài Jaya Ratnam – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Singapore tại Việt Nam
    một số sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu của tỉnh Bắc Giang.

    Thăm, chúc Tết Đại sứ quán Singapore, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương gửi lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất đến ngài Jaya Ratnam – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Đại sứ quán Singapore tại Việt Nam và cho biết, trong những năm gần đây, có rất nhiều doanh nghiệp của Singapore đến tìm hiểu và đầu tư vào tỉnh Bắc Giang. Hiện Singapore có 14 dự án đầu tư vào tỉnh và là quốc gia đứng thứ 5 về tổng vốn đăng ký, đứng thứ 6 về số dự án đầu tư vào tỉnh. Chỉ tính riêng năm 2021, Singapore là quốc gia dẫn đầu về vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Bắc Giang. 

    Về sản phẩm nông nghiệp, vải thiều Bắc Giang đã xuất khẩu sang Singapore rất nhiều năm nay. Vụ thu hoạch vải thiều vừa qua đúng là lúc Bắc Giang bùng phát dịch bệnh Covid-19, Singapore là một trong những thị trường tiêu thụ vải thiều cho Bắc Giang. Điều đó cho thấy, mối quan hệ giữa Việt Nam và Singapore nói chung và với tỉnh Bắc Giang nói riêng ngày càng tốt đẹp. Đồng chí tin tưởng trong năm 2022 sẽ có thêm nhiều động lực mới cho mối quan hệ giữa Bắc Giang và Singapore, đặc biệt là trong hợp tác đầu tư.

    Đồng chí cũng cho biết tỉnh Bắc Giang những năm gần đây đang đẩy mạnh cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh phát triển mạnh. Thế mạnh của tỉnh hiện nay là công nghiệp và nông nghiệp, trong công nghiệp tỉnh chú trọng phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, …; trong nông nghiệp chủ yếu là cây ăn quả. Tuy nhiên, Bắc Giang có hạn chế, đó là dịch vụ chưa phát triển, logistics, tỷ lệ đô thị hóa còn thấp so với trung bình cả nước. Do đó, đồng chí mong muốn các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có Singapore đến đầu tư tại tỉnh Bắc Giang theo hai hướng, đó là khai thác tiềm năng, thế mạnh của Bắc Giang về nông nghiệp và đầu tư vào các lĩnh vực của Bắc Giang còn yếu như là dịch vụ, logistics và đô thị.

    Đồng chí Lê Ánh Dương đề nghị Đại sứ quán, Tham tán thương mại Singapore tại Việt Nam giới thiệu Bắc Giang với các doanh nghiệp Singapore để các doanh nghiệp đầu tư vào tỉnh. Tiếp tục quan tâm thúc đẩy cơ hội hợp tác về lĩnh vực nông nghiệp giữa các doanh nghiệp Việt Nam và Singapore, giúp nông sản của tỉnh Bắc Giang ngày càng mở rộng, xuất khẩu sang thị trường Singapore. Giới thiệu các doanh nghiệp đào tạo nguồn nhân lực phục vụ kinh tế số; doanh nghiệp đầu tư vào các khu công nghiệp của tỉnh.

    Thay mặt Đại sứ quán, ngài Đại sứ cảm ơn tình cảm tỉnh Bắc Giang dành cho đất nước Singapore, đồng thời bày tỏ mong muốn sẽ có dịp về thăm Bắc Giang để tìm hiểu về truyền thống, văn hóa và tiềm năng của địa phương. Ngài Đại sứ cũng khẳng định những kết quả tốt đẹp thời gian qua và cuộc gặp gỡ này sẽ là nền tảng quan trọng để tỉnh Bắc Giang và Đại sứ quán tiếp tục trao đổi thông tin, thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương trao đổi thông tin với ngài Hùng Ba – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Đại sứ quán Trung Quốc
    tại Việt Nam.

    Thăm, chúc Tết ngài Hùng Ba – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương cảm ơn ngài Đại sứ, các doanh nghiệp luôn quan tâm tới Bắc Giang, hỗ trợ tiêu thụ nông sản, cấp học bổng cho học sinh, cung cấp vắc xin trong phòng, chống dịch. Đồng chí chia sẻ, tỉnh Bắc Giang có nhiều hoạt động thúc đẩy quan hệ hai nước như duy trì lớp học tiếng Trung trong trường Chuyên của tỉnh; Báo Bắc Giang đang xây dựng kế hoạch, chuẩn bị các điều kiện xuất bản báo điện tử tiếng Trung…

    Về thu hút đầu tư, đồng chí cho biết, hiện Trung Quốc là quốc gia đứng thứ nhất về tổng vốn đăng ký, đứng thứ hai về số dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh. Toàn tỉnh có 162 dự án của các doanh nghiệp Trung Quốc với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 3.300 triệu USD (tương đương 50% tổng vốn đăng ký FDI vào Bắc Giang). Các doanh nghiệp luôn có mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với lãnh đạo, chính quyền tỉnh; tham gia tích cực vào công tác an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.

    Chủ tịch UBND tỉnh mong muốn thời gian tới, ngài Đại sứ tiếp tục quan tâm, ủng hộ giới thiệu về điều kiện địa lý, môi trường đầu tư của tỉnh Bắc Giang đến các doanh nghiệp, nhà đầu tư Trung Quốc. Hiện Bắc Giang đang tìm hướng khai thác tuyến đường sắt quốc tế từ Hà Nội đến Bắc Giang sang Trung Quốc, với ý tưởng xây dựng khu kho vận tại địa bàn để làm nơi tập kết hàng hóa vận chuyển sang Trung Quốc. Từ những điều kiện thực tiễn của địa phương, tỉnh mong ngài Đại sứ ủng hộ cho ý tưởng này. 

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương tặng hoa ngài Hùng Ba – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam.

    Nhân dịp năm mới 2022 và chuẩn bị đón Tết cổ truyền, thay mặt lãnh đạo tỉnh Bắc Giang, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới ngài Đại sứ và cán bộ, nhân viên Đại sứ quán. Đồng thời trân trọng mời ngài Đại sứ đến thăm Bắc Giang vào thời gian thích hợp.

    Ngài Hùng Ba – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam chúc mừng thành tích mà tỉnh Bắc Giang đạt được, nhất là trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 và kết quả phát triển kinh tế trong năm qua, ngài Đại sứ cho biết rất ủng hộ các ý tưởng của tỉnh Bắc Giang, nhất là liên quan đến việc khai thác tuyến đường sắt quốc tế. Ngài cho biết sẽ tiếp tục quan tâm thúc đẩy, thắt chặt mối quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực; giới thiệu đến các nhà đầu tư Trung Quốc tìm hiểu cơ hội đầu tư vào tỉnh Bắc Giang thời gian tới./.

                                                                                                                                                                     Theo Bacgiang.gov.vn

     

  • Thành lập khu công nghiệp Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

    UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định thành lập khu công nghiệp Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

    Địa điểm Khu công nghiệp Yên Lư tại xã Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

    Theo đó, khu công nghiệp Yên Lư có diện tích 377 ha. Địa điểm khu công nghiệp tại xã Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

    Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần bất động sản Capella. Tổng vốn đầu tư gần 2.692 tỷ đồng. Thời hạn hoạt động của dự án phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp là 50 năm kể từ ngày được cấp quyết định chủ trương đầu tư (ngày 31/12/2021).

    Khu công nghiệp Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang được thành lập và hoạt động theo quy định pháp luật hiện hành; chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang.

    Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp có trách nhiệm tổ chức quản lý, đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang theo quy hoạch đã được phê duyệt và các quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước.

                                                                                                                                                         Theo Bacgiang.gov.vn

  • Linh hoạt, sáng tạo, kịp thời giải quyết và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp

     

    Ngày 11/01, Ban quản lý các khu công nghiệp (KCN) tỉnh Bắc Giang tổ chức hội nghị tổng kết công tác năm 2021, triển khai nhiệm vụ và phát động thi đua năm 2022. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn dự và chỉ đạo hội nghị; cùng dự có đại diện lãnh đạo sở, cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp trong tỉnh.

    Quang cảnh hội nghị. 

    Năm 2021, mặc dù bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, song Ban Quản lý các KCN tỉnh đã thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị được giao; chủ động, sáng tạo trong công tác quảng bá, vận động, thu hút đầu tư vào các KCN, với nhiều hình thức đa dạng, phong phú.

    Trong năm, đã cấp mới giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 27 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư hơn 611 triệu USD và 2.430 tỷ đồng, trong đó có 17 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), 10 dự án đầu tư trực tiếp trong nước (DDI); cấp điều chỉnh cho 127 lượt dự án, trong đó có 42 dự án điều chỉnh tăng vốn, nâng tổng số vốn cấp mới và điều chỉnh tăng thêm quy đổi đạt hơn 1.349,3 triệu USD, vượt 35% chỉ tiêu, kế hoạch giao.

    Trong năm, Ban cũng làm tốt công tác hỗ trợ doanh nghiệp tuyển dụng lao động; tham mưu UBND tỉnh hoàn thành trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương thực hiện dự án đầu tư KCN Việt Hàn. Thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong các KCN, kịp thời phát hiện khó khăn của doanh nghiệp để phối hợp tháo gỡ, ổn định sản xuất.

    Cùng đó, công tác bảo vệ môi trường tại các KCN được Ban tăng cường kiểm tra, đôn đốc các doanh nghiệp thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời đưa Trung tâm Hỗ trợ đầu tư KCN tỉnh vào hoạt động nhằm tiếp tục phát huy hiệu quả trong việc đồng hành, hỗ trợ cùng doanh nghiệp trong phát triển sản xuất kinh doanh.

    Tham luận tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung đánh giá kết quả đạt được và giải pháp triển khai thực hiện nhiệm vụ trong năm 2022. Trong đó tiếp tục tập trung cải cách hành chính, cắt giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính cho doanh nghiệp; phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp; quảng bá, xúc tiến kêu gọi đầu tư… Phấn đấu năm 2022 tổng vốn đầu tư cấp mới và bổ sung quy đổi đạt 850 triệu USD; doanh thu giá trị sản xuất doanh nghiệp đạt 250 nghìn tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 9 tỷ USD; giải quyết việc làm thêm cho khoảng 25 nghìn lao động.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.

    Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn đã biểu dương những kết quả Ban quản lý các KCN và các doanh nghiệp trong các KCN đã đạt được trong năm 2021.

    Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong năm 2022, Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của Ban Quản lý các KCN tỉnh tiếp tục đổi mới tư duy, chủ động, sáng tạo triển khai thực hiện nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Đẩy mạnh cải cách hành chính, quan tâm hỗ trợ các doanh nghiệp, nhà đầu tư thực hiện các thủ tục hành chính. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực và chất lượng thẩm định các dự án đầu tư, đặc biệt là công tác quy hoạch, đầu tư, xây dựng, lao động, môi trường.

    Tăng cường tổ chức kiểm tra, đôn đốc các chủ đầu tư hạ tầng, nhà đầu tư thứ cấp trong quá trình triển khai thực hiện dự án đảm bảo đúng tiến độ, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; kịp thời giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp theo tinh thần linh hoạt, sáng tạo, thông thoáng, không máy móc, cứng nhắc.

    Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy định về quản lý, sử dụng lao động tại các doanh nghiệp trong KCN; phối hợp nắm bắt, quản lý người lao động và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong việc quản lý thông tin người lao động và phòng, chống dịch trong doanh nghiệp.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho các cá nhân tiêu biểu.

    Đối với công tác phòng, chống dịch Covid-19, Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Ban Quản lý các KCN tỉnh cần chủ động nắm bắt tình hình, kịp thời tham mưu các giải pháp phòng, chống dịch, bảo đảm an toàn sản xuất cho các doanh nghiệp trong KCN; làm tốt công tác tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra và giám sát doanh nghiệp trong thực hiện công tác phòng, chống dịch tại các KCN.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng đề nghị các doanh nghiệp trong KCN cần tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ban chỉ đạo, Trung tâm Chỉ huy phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh về các biện pháp phòng, chống dịch trong các KCN. Đồng thời, làm tốt công tác chăm lo đời sống, vật chất cho người lao động; tuyên truyền, nhắc nhở người lao động dịp nghỉ Tết cổ truyền dân tộc cần chấp hành nghiêm các quy định về công tác phòng, chống dịch của địa phương để sau kỳ nghỉ Tết lao động trở lại làm việc không phát sinh dịch trong các khu, cụm công nghiệp.

    Nhân dịp năm mới 2022, thay mặt lãnh đạo tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn gửi lời chúc mừng năm mới tới cộng đồng doanh nghiệp và khẳng định tỉnh Bắc Giang luôn đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua khó khăn của đại dịch Covid-19, từng bước phục hồi phát triển sản xuất kinh doanh.

    Lãnh đạo Ban Quản lý các KCN tỉnh khen thưởng các tập thể, cá nhân xuất sắc.

    Tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn đã trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 9 cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước tỉnh Bắc Giang năm 2021; 28 cá nhân được tặng Giấy khen của Trưởng Ban Quản lý các KCN tỉnh.

                                                                                                                                                                      Theo Bacgiang.gov.vn

  • Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương: Tập trung đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng các dự án, công trình giao thông trọng điểm

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương: Tập trung đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng các dự án, công trình giao thông trọng điểm

    Sáng ngày 11/01, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương đã đi kiểm tra tiến độ thực hiện một số dự án, công trình trọng điểm: Cải tạo, nâng cấp tuyến đường từ thị trấn Nhã Nam (huyện Tân Yên) đến thị trấn Phồn Xương (huyện Yên Thế), tỉnh Bắc Giang; đường nối QL37 – QL17 – Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên), tỉnh Bắc Giang. Cùng đi có đại diện lãnh đạo một số sở, ban, ngành, huyện liên quan.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương kiểm tra thực tế tiến độ giải phóng mặt bằng tuyến nhánh đường tỉnh 294.

    Dự án cải tạo, nâng cấp tuyến đường từ thị trấn Nhã Nam đến thị trấn Phồn Xương, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tuyến đường hiện trạng tiến hành nâng cấp, cải tạo mở rộng theo quy mô đường cấp III, tổng chiều dài các đoạn thực hiện đầu tư 5,03 km. Tổng mức đầu tư là 65 tỷ đồng, từ nguồn vốn ngân sách tỉnh. Thời gian thực hiện dự án 2020-2022. Dự án khởi công từ ngày 25/7/2021, thời gian hoàn thành theo hợp đồng là tháng 5/2022. Đến nay, dự án cơ bản bàn giao mặt bằng; nhà thầu đã thi công được 3,3/3,8 km, hoàn thành thi công 13/18 cống ngang, thảm bê tông nhựa theo chiều dài đạt 50%…

    Dự án đường nối QL37 – QL17 – Võ Nhai (Thái Nguyên), tỉnh Bắc Giang là dự án công trình giao thông cấp II, được xây dựng qua 3 huyện: Việt Yên, Tân Yên và Yên Thế, có tổng chiều dài hơn 42 km. Tổng mức đầu tư là hơn 1.400 tỷ đồng từ nguồn vốn đầu tư ngân sách tỉnh và ngân sách Trung ương. Thời gian thực hiện dự án từ 2021-2024. Đến nay, huyện Việt Yên đã cơ bản bàn giao mặt bằng tuyến chính cho nhà thầu thi công. Các huyện Tân Yên, Yên Thế bàn giao lần lượt 6,8/15,35 km và 3/23,7 km, tuy nhiên còn đứt đoạn, “xôi đỗ” nên ảnh hưởng đến tiến độ thi công. Đối với tuyến nhánh cải tạo, nâng cấp đường tỉnh 294 thuộc dự án này, huyện Tân Yên đã bàn giao mặt bằng được 7,87/11,52 km; huyện Yên Thế mới thực hiện kiểm đếm, quy chủ, chưa thực hiện ra thông báo thu hồi đất, chưa thực hiện dịch chuyển công trình công.

    Tuyến đường từ thị trấn Nhã Nam (huyện Tân Yên) đi thị trấn Phồn Xương (huyện Yên Thế)
    được chủ đầu tư cam kết hoàn thành trong tháng 3/2022.

    Được biết, hiện nhà thầu đang tập trung phương tiện, nhân lực thi công đường từ thị trấn Nhã Nam đi thị trấn Phồn Xương, tuy nhiên do các địa phương chưa duyệt phương án bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) đối với diện tích đất ở, công trình, cây xanh; hệ thống cột điện, đèn chiếu sáng, viễn thông… chưa di dời ra khỏi phạm vi mặt bằng thi công nên ảnh hưởng đến việc thi công.

    Để bảo đảm tiến độ, một số ý kiến đề nghị UBND huyện Tân Yên đẩy nhanh công tác lập, thẩm định và phê duyệt phương án đối với các hộ đất ở thuộc tuyến nhánh đường tỉnh 294, nhất là địa bàn các xã Quang Tiến, Đại Hóa và Phúc Sơn; tiếp tục bàn giao mặt bằng tuyến chính; dịch chuyển các công trình công. Đối với UBND huyện Yên Thế cần chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn đẩy nhanh công tác thẩm định, phê duyệt phương án GPMB, chỉ đạo tư vấn khẩn trương hoàn thiện, trình phê duyệt bản đồ của 2 xã An Thượng, Tiến Thắng; sớm hoàn thành GPMB tuyến nhánh đường tỉnh 294 qua xã Tân Sỏi…

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương chỉ đạo GPMB tuyến nhánh đường tỉnh 294 đoạn qua xã Tân Trung (huyện Tân Yên).

    Qua kiểm tra thực tế, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương nhấn mạnh hai dự án trên được xác định là động lực để phát triển KT-XH đối với huyện Tân Yên, Yên Thế, góp phần thu hút đầu tư, thúc đẩy thông thương hàng hóa trên địa bàn các địa phương. Hiện dự án còn một số đoạn chưa GPMB, đồng chí yêu cầu các địa phương mở chiến dịch GPMB, phấn đấu bàn giao toàn bộ mặt bằng thi công tuyến nhánh đường tỉnh 294 trong tháng 2/2022. Đồng thời yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện chủ trì đối thoại với người dân tại khu vực chưa GPMB, để tạo đồng thuận; gắn trách nhiệm đối với Chủ tịch UBND các xã, thị trấn trong công tác này. Với những thửa đất liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp tại hai thời kỳ khác nhau song giá trị pháp lý như nhau, các địa phương tiến hành lập hồ sơ, thực hiện hỗ trợ, đền bù GPMB theo hướng có lợi cho người dân.

    Để đẩy nhanh tiến độ dự án sớm đưa vào sử dụng, đồng chí đề nghị tại những vị trí đã có mặt bằng, chủ đầu tư đôn đốc nhà thầu tập trung máy móc, phương tiện, nhân lực thi công, nhất là thời điểm thời tiết thuận lợi và trước Tết Nguyên đán. Đối với tuyến nhánh đường tỉnh 294 đoạn từ thị trấn Nhã Nam đi xã Phúc Sơn cố gắng trải thảm nhựa trước Tết Nguyên đán, tạo điều kiện cho người dân đi lại thuận lợi, đảm bảo an toàn giao thông trong và sau Tết; đoạn từ thị trấn Nhã Nam đi xã Tân Trung (cùng huyện Tân Yên) phấn đấu hoàn thành trong 6 tháng.

    Đối với Dự án cải tạo, nâng cấp đường từ thị trấn Nhã Nam (huyện Tân Yên) đi thị trấn Phồn Xương (huyện Yên Thế), đồng chí yêu cầu nhà thầu đẩy nhanh tiến độ, quyết tâm hoàn thành trong tháng 3/2022, trước tiến độ 2 tháng./.

                                                                                                                                                                Theo Bacgiang.gov.vn

  • Ngành Công Thương cần tiếp tục đột phá về thể chế chính sách, khơi thông nguồn lực để phát triển

    Ngành Công Thương cần tiếp tục đột phá về thể chế chính sách, khơi thông nguồn lực để phát triển

    Ngày 09/01, Bộ Công Thương tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022. Chủ trì hội nghị tại điểm cầu Trung ương có: Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành; Bộ Trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên. Cùng dự có đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị Trung ương.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn chủ trì hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang; cùng dự có đại diện lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị của tỉnh.

    Quang cảnh hội nghị.

    Báo cáo tại hội nghị, lãnh đạo Bộ Công Thương cho biết, năm 2021 là năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2021-2030 và Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2021-2025 trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức; đặc biệt là tác động nghiêm trọng, chưa từng có do đại dịch Covid-19 gây ra. Cùng với cả nước, ngành Công Thương đã tích cực, chủ động và sáng tạo trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, bảo đảm lưu thông, cung ứng kịp thời hàng hóa thiết yếu, đẩy mạnh xuất nhập khẩu và đã đạt được những kết quả quan trọng, tích cực.

    Năm 2021, mặc dù dịch bệnh khiến chuỗi cung ứng hàng hóa có thời điểm bị đứt gãy, song sản xuất công nghiệp tiếp tục được mở rộng và duy trì mức tăng trưởng gần 5%, cao hơn cùng kỳ năm trước; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,37%, tiếp tục khẳng định vai trò động lực cho tăng trưởng của toàn ngành, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội.

    Trong năm với sự nỗ lực của Bộ Công Thương cùng sự phối hợp của các Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương, doanh nghiệp… cung cầu hàng hóa đã được bảo đảm, chuỗi cung ứng trong và ngoài nước cơ bản được giữ vững, cung ứng đầy đủ, kịp thời các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống Nhân dân với giá cả tương đối ổn định.

    Ngoài ra, công tác quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực được tổ chức triển khai đồng bộ, kịp thời, đóng góp tích cực vào thành tích chung của toàn ngành. Trong năm 2021, lực lượng Quản lý thị trường phát hiện xử lý 41.375 vụ vi phạm; ước thu nộp ngân sách gần 430 tỷ đồng; tăng cường kiểm soát các hoạt động kinh doanh hàng hóa nhập lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ; các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; chất lượng và giá sản phẩm, an toàn thực phẩm…

    Cùng đó, hoạt động thương mại điện tử được phát triển; hoạt động phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, kết nối giao thương tại các địa phương được duy trì tốt, góp phần phát triển công nghiệp và thương mại tại các địa phương.

    Tại hội nghị, đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành, đơn vị Trung ương và lãnh đạo các địa phương đã thảo luận làm rõ những khó khăn, thách thức của ngành Công Thương trong năm qua. Đồng thời, thống nhất mục tiêu triển khai năm 2022 ngành Công Thương quyết tâm phấn đấu đạt các chỉ tiêu như: Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng khoảng 7 – 8%; kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 6 – 8%; cán cân thương mại duy trì trạng thái thặng dư; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khoảng 7 – 8%; tổng điện năng sản xuất và nhập khẩu tăng 7,88%; điện thương phẩm tăng 7,1 – 9,1%.

    Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành biểu dương, ghi nhận các kết quả đạt được của ngành Công Thương trong năm 2021, cùng với cả nước, ngành Công Thương đã nỗ lực, tích cực, chủ động và sáng tạo “vượt bão” đại dịch, “về đích” vượt mức nhiều chỉ tiêu.

    Năm 2022, tiếp tục dự báo là năm kinh tế gặp nhiều khó khăn, thách thức, Để thực hiện thắng lợi, toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2022 được Quốc hội và Chính phủ giao, Bộ Công Thương cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng thể chế.

    Tập trung thực hiện tốt công tác quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia, quy hoạch điện lực; rà soát lại cơ cấu ngành điện, có cơ chế điều phối điện, đầu tư cơ sở vật chất, sẵn sàng đi trước đón đầu đối với các dự án năng lượng tái tạo mặt trời; không để thiếu điện làm ảnh hưởng tới đời sống sản xuất của Nhân dân, đáp ứng đủ điện sản xuất kinh doanh của các địa phương, hạn chế ô nhiễm môi trường, bảo vệ tài nguyên quốc gia.

    Với tinh thần “tiến công”, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành đề nghị ngành Công Thương cần tiếp tục có những đột phá về thể chế chính sách, nhằm khơi thông mọi nguồn lực để phát triển KT-XH. Khẩn trương xây dựng Kế hoạch hành động và tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ được giao trong Chương trình tổng thể phòng, chống đại dịch Covid-19; Chương trình phục hồi, phát triển KT-XH và Nghị quyết 01, 02 của Chính phủ, góp phần cùng cả nước thực hiện thành công các Chương trình, nhiệm vụ đã đề ra.

    Đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm cơ cấu lại ngành Công Thương dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tiếp tục bám sát thị trường, hoạt động xuất nhập khẩu phải được đánh giá toàn diện nhằm đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc; giải quyết hiệu quả giao thương hàng hóa, không để ùn ứ hàng hóa tại cửa khẩu như thời gian qua.

    Phát triển mạnh thương mại nội địa để khai thác có hiệu quả thị trường gần 100 triệu dân với sự gia tăng cao của tầng lớp trung lưu. Chú trọng phát triển thương mại điện tử để khai thác có hiệu quả hơn sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng số hóa nền kinh tế; tăng cường hơn nữa chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường; đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận xuất xứ, cạnh tranh không bình đẳng, phòng vệ thương mại… bảo đảm môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, bình đẳng cho doanh nghiệp./.

                                                                                                                                                                      Theo Bacgiang.gov.vn