Danh mục: Tin tức sự kiện

  • Ngành Thuế tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu ngân sách

    Ngành Thuế tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu ngân sách

     

    Ngày 07/01, Cục Thuế tỉnh Bắc Giang tổ chức Hội nghị trực tuyến với Chi cục Thuế các huyện, thành phố tổng kết công tác thuế năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022.

    Chủ trì hội nghị tại điểm cầu Cục Thuế tỉnh có các đồng chí: Đặng Ngọc Minh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế; Phan Thế Tuấn – Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Lê Bá Ngọc – Cục trưởng Cục Thuế tỉnh. Tham dự hội nghị có đại diện các cơ quan, đơn vị của tỉnh.

    Quang cảnh hội nghị.

    Năm 2021, nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn tỉnh được triển khai trong bối cảnh nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và Tổng cục Thuế trong việc thực hiện đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả các giải pháp vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa phục hồi và phát triển KT-XH, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH. Tổng thu nội địa trong năm 2021 đạt 20.214,4 tỷ đồng, bằng 267,9% so với dự toán Trung ương, bằng 226,2% dự toán UBND tỉnh và tăng 66,8% so với cùng kỳ năm 2020.

    Trong đó có một số lĩnh vực vượt cao so dự toán như: Thu tiền sử dụng đất được 13.057,6 tỷ đồng, đạt 435,3% dự toán Trung ương, bằng 297,4% dự toán UBND tỉnh và tăng 105,1% so với cùng kỳ năm 2020; thu thuế, phí được 7.156,8 tỷ đồng, đạt 157,4% dự toán Trung ương và UBND tỉnh giao, tăng 24,4% so với cùng kỳ năm 2020; 10/10 huyện, thành phố thực hiện hoàn thành vượt mức dự toán được giao năm 2021.

    Bên cạnh đó, các chính sách thuế mới, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân bị ảnh hưởng dịch Covid-19 được triển khai, phổ biến kịp thời; công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách, xử lý nợ thuế được tăng cường, đã có trọng tâm trọng điểm; kỷ luật, kỷ cương hành chính tiếp tục được giữ vững; các chương trình cải cách, hiện đại hóa ngành thuế được triển khai đạt hiệu quả tích cực… Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh, của ngành góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH của tỉnh.

    Thảo luận tại hội nghị, đại diện lãnh đạo các đơn vị trong ngành Thuế đã thảo luận làm rõ những tồn tại, hạn chế trong công tác thu ngân sách năm 2021. Phát huy những kết quả đạt được trong năm 2021, lãnh đạo Cục thuế tỉnh Bắc Giang đã phát động phong trào thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2022 tới toàn thể cán bộ ngành Thuế tỉnh.

    Theo đó, năm 2022, ngành Thuế Bắc Giang sẽ tập trung triển khai các giải pháp hỗ trợ người nộp thuế, góp phần giúp người nộp thuế duy trì, phục hồi sản xuất kinh doanh, đồng thời tăng cường quản lý thu ngân sách ngay từ đầu năm, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước năm 2022 đã được Trung ương và UBND tỉnh giao là 12.550 tỷ đồng.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. 

    Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Đặng Ngọc Minh và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn ghi nhận, đánh giá cao những nỗ lực, cố gắng của tập thể lãnh đạo, công chức, người lao động ngành Thuế tỉnh. Ngay từ đầu năm các cơ quan thuế tỉnh Bắc Giang đã triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp nghiệp vụ của ngành, nhất là công tác thanh tra, kiểm tra, chống chuyển giá. Trong năm, ngành Thuế cũng đã tham mưu, đề xuất với Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành nhiệm vụ thu ngân sách đạt hiệu quả thiết thực.

    Năm 2022, tình hình kinh tế thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; rủi ro và bất ổn gia tăng, đặc biệt dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tiếp tục đặt ra những thách thức lớn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Đặng Ngọc Minh và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn đề nghị ngay từ đầu năm, ngành Thuế tỉnh cần triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao trong năm 2022, nhất là các nhiệm vụ trọng tâm được Tổng cục Thuế và Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh giao; tập trung cao chỉ đạo, tổ chức thực hiện đạt và vượt kế hoạch đề ra.

    Tăng cường công tác phối kết hợp giữa các cơ quan, đơn vị để thực hiện nhiệm vụ. Chủ động đề xuất cơ chế, chính sách, ý tưởng trong chỉ đạo, điều hành; tích cực tham gia cho ý kiến các dự án đầu tư vào tỉnh, đảm bảo tiêu chí phát sinh thu ngân sách là tiêu chí quan trọng trong lựa chọn dự án đầu tư. Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, chính trị và đạo đức công vụ cho mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động; giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong nội bộ và duy trì kỷ luật, kỷ cương.

    Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu ngân sách tỉnh; nghiên cứu tham mưu và tổ chức thực hiện để cơ cấu lại các khoản thu theo hướng tăng số thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Quyết liệt chống thất thu, chuyển giá, trốn lậu thuế, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào ngân sách nhà nước. Triển khai thực hiện tốt biện pháp nghiệp vụ đối với những trường hợp người nộp thuế thuộc đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi. Làm tốt công tác quản lý rủi ro đối với người nộp thuế, quan tâm đặc biệt đối với những đơn vị đã đi vào hoạt động nhiều năm nhưng không có số nộp hoặc số nộp thấp.

    Tăng cường đôn đốc, yêu cầu các doanh nghiệp chủ đầu tư dự án khu đô thị, khu dân cư thực hiện nghiêm túc, đầy đủ việc kê khai, nộp thuế theo quy định. Phối hợp làm tốt kế hoạch triển khai hóa đơn điện tử trên địa bàn tỉnh; tăng cường khai thác dữ liệu cơ quan thuế, giảm thời gian thanh tra, kiểm tra tại các doanh nghiệp.

    Tập trung biện pháp xử lý nợ đọng thuế, tìm nguyên nhân dẫn đến nợ đọng để xử lý từ gốc, phải giao chỉ tiêu xử lý thu hồi nợ đọng thuế cùng với giao chỉ tiêu thu ngân sách. Cùng với đó, xử lý tốt nợ thuế tồn đọng, quan tâm đôn đốc thu kịp thời số thuế phát sinh, hạn chế thấp nhất việc chuyển sang nợ đọng.

    Cục Thuế tỉnh tuyệt đối không được chủ quan, lơ là trong công tác phòng, chống dịch Covid-19, coi đây là nhiệm vụ quan trọng để bảo đảm sức khỏe, an toàn đời sống Nhân dân và cán bộ, người lao động ngành Thuế./.

                                                                                                                                                               Theo Bacgiang.gov.vn

  • Thu hút FDI – Một năm đặc biệt

    Thu hút FDI – Một năm đặc biệt

    Năm 2021 là một năm đặc biệt trong thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam, khi mà bất chấp đại dịch Covid-19, vẫn có những dự án tỷ USD được cam kết…

    “Bản giao hưởng” cuối năm

    Buổi chiều ngày làm việc áp chót của năm 2021, trụ sở UBND tỉnh Nghệ An dường như đông vui hơn thường lệ. Hôm ấy, lãnh đạo UBND tỉnh này đã trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho Excel Smart Global Limited (Samoa) để triển khai xây dựng Nhà máy Sản xuất linh kiện điện tử và phụ tùng ô tô Ju Teng tại Khu công nghiệp Hoàng Mai 1, với vốn đầu tư lên tới 200 triệu USD.

    “Đây là một trong những dự án trọng điểm ở phía Bắc Nghệ An”, ông Nguyễn Đức Trung, Chủ tịch UBND tỉnh này hồ hởi nói và cho biết, thời gian qua, tỉnh không ngừng đổi mới môi trường đầu tư, cải cách mạnh mẽ thủ tục để thu hút các dự án lớn, tạo sức lan tỏa, thu hút các dự án vệ tinh, từ đó hình thành môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư hợp tác cùng phát triển.

    Dự án Ju Teng có thể nói là một trong những dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cuối cùng được cấp chứng nhận đầu tư trong năm 2021 và được trao khi số liệu thống kê về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài cả năm đã được công bố. Bởi thế, Dự án chẳng khác nào một nốt “thăng” vừa được thêm vào bản giao hưởng với nhiều nét nhạc vui mà Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) vừa xướng lên.

    Một sự tình cờ thú vị, Nghệ An gần như là tỉnh “mở hàng” cho một năm 2021 thu hút đầu tư nước ngoài thành công của Việt Nam. Ngày 7/1/2021, UBND tỉnh Nghệ An đã trao chứng nhận đăng ký đầu tư cho Dự án cấu kiện điện tử của Công ty TNHH Công nghệ Everwin Precision Việt Nam, với vốn đầu tư cũng là 200 triệu USD.

    Có lẽ, nhờ sự “xuôi chèo mát mái” ngay từ đầu năm, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam trong năm 2021 đã giành được những thành tựu đáng ghi nhận. Tính đến ngày 20/12, theo Cục Đầu tư nước ngoài, đã có 31,15 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam, tăng 9,2% so với năm 2020. Khi con số này được công bố, niềm vui như vỡ òa, bởi sau những buồn lo, dòng chảy vốn đầu tư nước ngoài vẫn đổ vào Việt Nam.

    Ngày 20/12, Cục Đầu tư nước ngoài “chốt sổ” số liệu thu hút đầu tư nước ngoài cả năm, thì ngày 21/12, MoMo chính thức công bố đã gọi vốn thành công ở vòng thứ 5 (Series E). Lần này, MoMo nhận số tiền đầu tư khoảng 200 triệu USD từ các nhà đầu tư toàn cầu, gồm Mizuho – ngân hàng toàn cầu Nhật Bản, đơn vị đóng vai trò dẫn dắt và Ward Ferry, Goodwater Capital, Kora Management.

    Và sau đó là dự án ở Nghệ An. Những nốt thăng đó khiến “bản giao hưởng” thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam năm 2021 thêm sôi động.

    Bộn bề những âu lo

    Trước khi có những nốt “thăng”, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam năm 2021 cũng đã có những giai đoạn bộn bề âu lo. Liên tục những tháng đầu năm, dù đã mở màn bằng dự án 200 triệu USD ở Nghệ An, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn liên tục giảm so với cùng kỳ, bất chấp việc năm 2020, luồng vốn vào Việt Nam đã suy giảm khá mạnh so với kỷ lục của năm 2019.

    Niềm vui lớn nhất khi đó có lẽ là trung tuần tháng 1/2021, Bắc Giang đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho Foxconn Singapore Pte Ltd để đầu tư Nhà máy Fukang Technology ở Khu công nghiệp Quang Châu (Việt Yên, Bắc Giang). Dự án không quá lớn, chỉ 270 triệu USD, nhưng quan trọng, đây là dự án sản xuất iPad và Macbook cho Apple.

    Apple là cái tên mà Việt Nam mong đợi, dù “ông lớn” này không trực tiếp đầu tư sản xuất, mà đều thông qua nhà các đối tác gia công, như Foxconn, Luxshare… Tất cả các nhà sản xuất này, gồm cả Pegatron, Winston, Goertek… đều đã có nhà máy ở Việt Nam, song phần nhiều chỉ sản xuất linh kiện, chứ thành phẩm, cũng mới chỉ có iPods. Nhiều người nói, chuyện Apple cho sản xuất iPhone, hay iPad, Macbook ở Việt Nam chỉ là một giấc mơ, nhưng cuối cùng, Việt Nam đã bắt đầu chạm tay được vào giấc mơ đó.

    Còn gì tốt hơn thế!

    Nhưng Apple chỉ là một chuyện, chuyện vui khác là sau đó, các “cuộc chơi” tỷ USD đã tiếp tục ở Việt Nam. Lần lượt 3 dự án tỷ USD được cấp chứng nhận đầu tư. Chưa hết, liên tiếp các thương vụ “khủng” được thực hiện. Tập đoàn SK (Hàn Quốc) đã chi 410 triệu USD mua lại 16,26% cổ phần của VinCommerce. Cuối năm, thêm một lần nữa, SK đã chi 340 triệu USD để mua cổ phần công ty con của Tập đoàn Masan… Nhưng “khủng” nhất phải kể đến thương vụ Tập đoàn Tài chính Sumitomo Mitsui đã chi 1,37 tỷ USD mua 49% vốn của FE Credit qua Công ty Tài chính Tiêu dùng SMBC…

    Thương vụ khủng, dự án tỷ USD đã khiến dòng vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam có bước xoay chuyển ngoạn mục, ban đầu là giảm, sau đó qua từng tháng, tăng dần, bước qua đà giảm để thực sự có bước tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2020. Nhưng niềm vui chưa trọn, bởi vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần vẫn giảm mạnh. Và bởi, khi đợt dịch Covid-19 thứ tư bùng phát dữ dội ở Việt Nam, các biện pháp phong tỏa, giãn cách được áp dụng trên diện rộng, đã có nỗi lo rằng, Việt Nam sẽ mất đơn hàng, mất cả nhà đầu tư.

    Nỗi lo đó là có thật, đến nỗi, suốt từ thời điểm tháng 8, trong báo cáo về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài, Cục Đầu tư nước ngoài luôn nhấn mạnh, do đóng cửa nhà máy, thiếu hụt lao động để sản xuất, nên nhiều đơn hàng phải chuyển sang các địa bàn khác trong chuỗi cung ứng. Và rằng, tuy đây chỉ là giải pháp tạm thời, nhưng nếu tình trạng này kéo dài, thì có khả năng nhà đầu tư sẽ chuyển sản xuất sang nước khác.

    May thay, nỗi lo đó đã không xảy ra. Bởi đầu tháng 10/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP về thích ứng linh hoạt, an toàn với dịch Covid-19. Không còn chuyện ngăn sông, cấm chợ. Không có chuyện mỗi nơi áp dụng biện pháp chống dịch một kiểu…

    Khi chuỗi cung ứng được “hàn gắn”, hoạt động sản xuất quay lại trạng thái bình thường mới, nhà đầu tư đã ở lại. Nike, nhà đầu tư được cho là đã chuyển một phần đơn hàng sang nước khác, đã rất nhanh chóng khôi phục hoàn toàn các hoạt động sản xuất tại Việt Nam. Các hiệp hội đầu tư nước ngoài khẳng định, chưa có dự án nào chuyển đi, họ đã và sẽ tiếp tục ở lại, vì niềm tin với Việt Nam.

    Niềm tin đó dường như đang từng bước được nhân lên, bởi ngay sau khi ký ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã lên đường sang châu Âu, sau đó là sang Nhật Bản và sau mỗi chuyến đi, rất nhiều cam kết tỷ USD được ký kết. Tất cả hứa hẹn nhiều dự án ngàn tỷ sẽ đổ vào Việt Nam trong nay mai.

    Không phải chờ quá lâu, “đại bàng” thực sự đã đến. Không chỉ là những tên tuổi cũ, mà nay có Amkor, có LEGO…, với những dự án tỷ USD đang chờ được cấp phép. Giữa lúc dịch bệnh căng thẳng, nhà đầu tư vẫn tới tận Việt Nam để tìm hiểu và đưa ra cam kết lớn, thì hẳn quyết tâm đó là lớn lắm. Dự án sẽ sớm thành hình, sớm triển khai và đóng góp cho kinh tế – xã hội Việt Nam, như 35 năm Đổi mới vừa qua, khu vực đầu tư nước ngoài đã từng…

    Năm mới, kỳ vọng mới

    Thêm một năm Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài thành công. Không chỉ về lượng, mà cả về chất. Trong rủi có may, Covid-19 là cuộc sàng lọc các dự án quy mô nhỏ và cả các dự án chỉ đến để “giữ chỗ”. Năm 2021, số lượng dự án quy mô nhỏ dưới 5 triệu USD giảm 33,9%, các dự án có quy mô nhỏ dưới 1 triệu USD giảm 33,2% so với năm 2020.

    Cũng không quá khó để nhận ra, các dự án trong các lĩnh vực công nghệ, chế biến, chế tạo chiếm ưu thế khá lớn. Thế nên, trong một báo cáo gần đây, Savills Việt Nam đã khẳng định, bất chấp một năm 2021 đầy thách thức, Việt Nam vẫn tiếp tục chuyển đổi từ các ngành công nghiệp thâm dụng lao động sang các ngành công nghiệp có giá trị cao.

    “Các ngành công nghiệp giá trị thấp dần dần hình thành ở những khu vực khác tại Đông Nam Á. Nguyên nhân là Việt Nam không còn áp dụng các chính sách ưu đãi như trước, nên việc tìm kiếm nguồn lao động cũng như đất đai giá rẻ tại Việt Nam trở nên khá khó khăn. Tuy nhiên, nhà đầu tư của những ngành công nghiệp có giá trị cao tại nước ngoài vẫn lạc quan về sự tăng trưởng dài hạn của Việt Nam”, ông John Campbell, Quản lý Bộ phận Bất động sản công nghiệp (Savills Việt Nam) nói.

    Cứ nhìn các dự án mà Nghệ An, Bắc Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trong năm nay, hay các cam kết đầu tư mới của LG Display, rồi Intel… là đủ thấy điều này. Hơn thế, dự án tỷ USD mà Lego vừa cam kết đầu tư, có thể nói, đã tạo ra bước ngoặt quan trọng về xu hướng đầu tư thế hệ mới, thời của kinh tế xanh, tăng trưởng xanh.

    Hôm thỏa thuận hợp tác đầu tư dự án này được ký kết, ông Carsten Rasmussen, Giám đốc vận hành của Lego đã cho biết, đây sẽ là nhà máy trung hòa carbon đầu tiên của Tập đoàn. Sẽ là những tấm pin năng lượng mặt trời được đặt trên mái nhà máy và tiếp theo, một nhà máy năng lượng mặt trời sẽ được xây dựng kế bên, đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng hàng năm của Dự án… Đây chính là dòng đầu tư thế hệ mới mà Việt Nam đang hướng tới.

    Dự án này dường như đang mở ra những kỳ vọng mới về thu hút FDI của Việt Nam trong tương lai, không chỉ tăng về chất, mà cả về lượng. Càng tin chắc vào điều đó khi nghe ông Nguyễn Quang Thành, Phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh chia sẻ, thời gian qua, Bắc Ninh kiên định thực hiện tiêu chí “2 ít và 3 cao” (ít sử dụng lao động, ít sử dụng đất; suất vốn đầu tư cao, hiệu quả kinh tế cao và công nghệ cao) để thu hút đầu tư. Đồng thời, thực hiện “5 sẵn sàng”, gồm sẵn sàng mặt bằng, nhân lực, cải cách, hỗ trợ và chống dịch. Ngoài ra, Bắc Ninh còn có cơ chế, chính sách nhằm giữ chân và tạo niềm tin với nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh. Nếu địa phương nào cũng làm được thế, vốn đầu tư sẽ tiếp tục chảy vào…

    Những ngày cuối năm 2021, nghe tin các đường bay quốc tế sắp được mở, lại kỳ vọng và tin tưởng, sẽ có những chuyên cơ chở tỷ phú tiếp tục đến Việt Nam. Và nghe đâu, cả giấc mơ iPhone sẽ được sản xuất tại Việt Nam cũng không còn xa…

    Các dấu ấn thu hút đầu tư nước ngoài năm 2021

    Tính đến ngày 20/12/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt trên 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2020.
    Năm 2021, có 3 dự án tỷ USD được cấp chứng nhận đầu tư, gồm Nhà máy điện LNG Long An I và II (Singapore), tổng vốn đăng ký trên 3,1 tỷ USD tại Long An; Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn II (Nhật Bản), tổng vốn đăng ký trên 1,31 tỷ USD, tại Cần Thơ; Dự án tăng vốn của LG Display Hải Phòng, với 2 lần điều chỉnh, tổng vốn tăng thêm là 2,15 tỷ USD.
    Để thu hút đầu tư, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách quan trọng. Một trong số đó là cơ chế ưu đãi đầu tư đặc biệt cho các dự án công nghệ cao, quy mô lớn. Bên cạnh đó, Danh mục quốc gia các dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn đến năm 2030 cũng đã được ban hành.

                                                                                                                                                                         Theo baodautu.vn

  • Bổ sung kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ một lần sau đầu tư theo quy định tại Nghị định số 17/2018/NĐ-CP

    Bổ sung kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ một lần sau đầu tư theo quy định tại Nghị định số 17/2018/NĐ-CP

     

     Ngày 29/12/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2221/QĐ-TTg về việc bổ sung kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ một lần sau đầu tư theo quy định tại Nghị định số 17/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Cụ thể, hỗ trợ 90.859,030 tỷ đồng từ nguồn kinh phí ngân sách trung ương thực hiện chính sách phát triển thủy sản đã được Quốc hội cho phép sử dụng tại Nghị quyết số 128/2020/QH14 ngày 12/11/2020 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2021 để thực hiện chính sách hỗ trợ một lần sau đầu tư theo quy định tại Nghị định số 17/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ cho 6 địa phương đó là tỉnh Nam Định: 9.189,6 triệu đồng; tỉnh Nghệ An: 24.000 triệu đồng; tỉnh Ninh Thuận: 44.406,827 triệu đồng; tỉnh Bình Thuận: 3.183,569 triệu đồng; tỉnh Quảng Ngãi 3.824,266 triệu đồng; Khánh Hòa: 6.254,768 triệu đồng.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ, cơ quan thanh tra, kiểm tra và các cơ quan liên quan về các nội dung thông tin, số liệu báo cáo và mức vốn đề xuất hỗ trợ của từng địa phương, bảo đảm theo đúng quy định. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm về cơ sở pháp lý của nguồn vốn hỗ trợ cho các địa phương trên, bảo đảm theo đúng quy định.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo chức năng nhiệm vụ được giao kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện tại các địa phương trên, bảo đảm việc sử dụng vốn hỗ trợ đúng quy định.

    Ủy ban nhân dân các tỉnh Nam Định, Nghệ An, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận chịu trách nhiệm chỉ đạo rà soát giá trị đầu tư đóng mới của từng con tàu, đối tượng và điều kiện nhận hỗ trợ theo đúng quy định tại Nghị định số 17/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ để quyết định giải ngân số kinh phí được hỗ trợ, kiểm soát chặt chẽ để sử dụng vốn đúng mục tiêu, đúng đối tượng, đúng quy định pháp luật và không trùng lắp về đối tượng hỗ trợ; phân bổ, quản lý, sử dụng và thực hiện thanh quyết toán kinh phí được hỗ trợ theo đúng quy định, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, công khai minh bạch, không được để xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực đối với số vốn được hỗ trợ.

    Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký 29/12/2021./

                                                                                                                                                               Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư

    Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư

     

    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 122/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Theo đó, việc xây dựng Nghị định nhằm kịp thời sửa đổi, bổ sung những quy định đã được quy định tại các luật, nghị định mới được ban hành, đảm bảo các văn bản quy phạm pháp luật về kế hoạch và đầu tư được tổ chức thi hành đồng bộ, hiệu quả trên thực tế. Đồng thời, bãi bỏ một số quy định không còn phù hợp, không có căn cứ để xử phạt. Đồng thời, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư, tạo cơ sở pháp lý, áp dụng thống nhất trong công tác xử phạt vi phạm hành chính của toàn ngành.

    Nghị định quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

    Vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư là hành vi vi phạm pháp luật có lỗi do tổ chức, cá nhân thực hiện mà không phải là tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự và được quy định tại Nghị định này, bao gồm: Vi phạm quy định trong lĩnh vực đầu tư (bao gồm: đầu tư công, đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài, đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP)); Vi phạm quy định trong lĩnh vực đấu thầu; Vi phạm quy định trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp; Vi phạm quy định trong lĩnh vực quy hoạch. Các hành vi vi phạm hành chính có liên quan đến lĩnh vực kế hoạch và đầu tư không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan.

    Nghị định được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư; Người có thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này; Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này.

    Nghị định quy định rõ mức phạt tiền tối đa đối với từng lĩnh vực, theo đó: lĩnh vực đầu tư là 300.000.000 đồng; lĩnh vực đấu thầu là 300.000.000 đồng; lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp là 100.000.000 đồng; lĩnh vực quy hoạch là 500.000.000 đồng.

    Nghị định cũng quy định cụ thể về thời hiệu và thời điểm xác định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với lĩnh vực đầu tư, đấu thầu, đăng ký doanh nghiệp là 01 năm; đối với lĩnh vực quy hoạch là 02 năm…

    Sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền xử phạt của các chức danh đảm bảo phù hợp với mức xử phạt tối đa của từng lĩnh vực; phân định thẩm quyền xử phạt của các cơ quan đảm bảo khách quan, minh bạch.

    Nghị định gồm 07 Chương 82 Điều và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách và quy trình, thủ tục để thúc đẩy đầu tư, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền

    Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách và quy trình, thủ tục để thúc đẩy đầu tư, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền

    Đa số ý kiến các Ủy ban của Quốc hội được phân công thẩm tra tán thành về sự cần thiết sửa đổi, bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách và quy trình, thủ tục để thúc đẩy đầu tư, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thể chế hóa các văn kiện của Đảng và thực hiện các nghị quyết của Quốc hội.

    Đây là một trong những nội dung của Báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự được Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh trình bày tại phiên khai mạc Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội khóa XV diễn ra sáng ngày 04/01/2022.

    Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh trình bày báo cáo. Ảnh: Chinhphu.vn

    Những chính sách quy định tại dự thảo Luật có tác động lớn đến các lĩnh vực kinh tế và xã hội. Đối với Luật Đầu tư công, đa số ý kiến Ủy ban Tài chính, Ngân sách nhất trí việc sửa đổi, bổ sung. Cùng với đó, cần có quy định cụ thể về trách nhiệm các chủ thể được phân quyền trong việc bảo đảm tính hiệu quả sử dụng nguồn lực, tính tuân thủ, công khai, minh bạch khi tổ chức thực hiện.

    Có ý kiến đề nghị cân nhắc, vì quy định như hiện nay nhằm mục đích kiểm soát chặt chẽ việc vay vốn nước ngoài, bảo đảm an toàn nợ công, an ninh tài chính quốc gia; đồng thời, liên quan đến điều ước quốc tế giữa Nhà nước, Chính phủ Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, cần kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm uy tín của Việt Nam… Đề nghị Chính phủ đánh giá tác động cụ thể.

    Đối với dự án nhóm A của địa phương sử dụng nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, đa số ý kiến đề nghị chuyển thẩm quyền cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tương tự như các dự án nhóm B, C. Có ý kiến nhất trí với đề nghị của Chính phủ.

    Về thẩm quyền điều chỉnh chủ trương đầu tư, Ủy ban Kinh tế đề nghị quy định rõ việc phân cấp thẩm quyền điều chỉnh chỉ áp dụng trong trường hợp không làm thay đổi phân loại dự án; trường hợp làm thay đổi phân loại dự án, phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho ý kiến trước khi điều chỉnh.

    Đối với Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh cho biết, đa số ý kiến Ủy ban Kinh tế nhất trí nội dung sửa đổi, bổ sung tại điểm b khoản 2 Điều 12 Luật PPP. Đề nghị bổ sung, làm rõ việc thực hiện quy định tại Điều 62 Luật Đất đai về thẩm quyền thu hồi đất đối với dự án PPP có tổng mức đầu tư tương đương nhóm B, C sử dụng vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài nay được phân cấp, phân quyền quyết định chủ trương đầu tư cho Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bảo đảm tính khả thi, tránh trường hợp phát sinh vướng mắc, có cách hiểu khác nhau sau khi thực hiện phân cấp, phân quyền chấp thuận chủ trương đầu tư.

    Đối với Luật Đầu tư, về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư, Chủ nhiệm Vũ Hồng Thanh cho biết, đa số ý kiến Ủy ban Kinh tế cơ bản nhất trí việc sửa đổi, bổ sung tại dự thảo Luật nhằm đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho các địa phương. Đồng thời nhấn mạnh đến các nội dung liên quan đến dự án đầu tư thuộc phạm vi bảo vệ của di tích được cấp có thẩm quyền công nhận là di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt; hình thức sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại.

    Về các nội dung cụ thể của dự thảo Luật, Ủy ban Kinh tế đề nghị làm rõ việc áp dụng quy định của dự thảo Luật đối với trường hợp nhà đầu tư có quyền sử dụng đối với các loại đất khác không phải là đất ở nhưng đã gần hết thời hạn sử dụng đất. Đối với việc thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng các loại đất thuộc dự án đầu tư mà không phải là đất ở, để bảo đảm sự kết nối với quy định của Luật Đầu tư, quy định khác của Luật Nhà ở và pháp luật về đất đai, bảo đảm sự minh bạch về thủ tục đầu tư, đề nghị làm rõ các điều kiện mà nhà đầu tư phải đáp ứng để được cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai trong quá trình nhà đầu tư thực hiện thủ tục để được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư; giá trị của văn bản thẩm định về đáp ứng điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong giai đoạn chấp thuận chủ trương đầu tư khi nhà đầu tư thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

    Về kỹ thuật lập pháp, đề nghị thể hiện trong một điều riêng của dự thảo Luật nội dung sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 23 Luật Nhà ở mà không ghép trong Điều 3 về sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư. Về bổ sung ngành, nghề kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng vào Phụ lục IV Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện: Ủy ban Kinh tế đề nghị Chính phủ xem xét, sửa đổi, bổ sung quy định về khái niệm, điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng tại Luật An ninh mạng trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 3 để bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc đề xuất bổ sung ngành, nghề kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng vào Danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; đồng thời, chỉ đạo rà soát Danh mục theo quy định tại Điều 8 Luật Đầu tư, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 3.

    Đối với Luật Đấu thầu, đa số ý kiến Ủy ban Kinh tế cơ bản tán thành quy định tại dự thảo Luật. Để bảo đảm chặt chẽ, đề nghị bổ sung quy định tại Điều 34a về việc thực hiện trước các hoạt động phải tuân thủ các quy định khác có liên quan của Luật Đấu thầu. Đồng thời, Ủy ban Kinh tế đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện dự thảo Nghị định, quy định đầy đủ, chặt chẽ, khả thi những vấn đề mang tính nguyên tắc; báo cáo tiến độ ban hành Nghị định, đáp ứng tính cấp thiết, cấp bách của chính sách. Có ý kiến đề nghị bổ sung báo cáo ý kiến của đối tượng chịu sự tác động là các nhà thầu thực hiện hoạt động mua sắm cho dự án đầu tư sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi.

    Đối với Luật Doanh nghiệp, Ủy ban Kinh tế tán thành việc sửa đổi, bổ sung quy định tại các điều 49, 50, điểm d khoản 1 Điều 109, khoản 1 và khoản 2 Điều 148 như dự thảo Luật. Đồng thời nhấn mạnh đến các vấn đề về việc ký biên bản họp Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị, đề nghị tiếp tục xem xét, chỉnh lý về mặt kỹ thuật để bảo đảm chặt chẽ; Về đối tượng xác định là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh (khoản 5 Điều 217), về quy định doanh nghiệp quốc phòng, an ninh là doanh nghiệp nhà nước; mở rộng đối tượng xác định là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn có 100% vốn điều lệ được nắm giữ bởi doanh nghiệp quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

    Về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp, Ủy ban kinh tế nhận thấy, tác động của các luật có quy định sửa đổi, bổ sung thuộc dự án Luật có phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh độc lập và điều kiện bảo đảm thi hành khác nhau. Vì vậy, cần quy định về áp dụng pháp luật, hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp của từng quy định sửa đổi, bổ sung phù hợp với quy định về hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính khả thi trong thực hiện./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư có công điện về phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2022

    Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư có công điện về phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2022

    Ngày 24/12/2021, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư có Công điện số 08/CĐ-BKHĐT điện Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc phân bổ chi tiết kế hoạch đầu tư nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2022.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Căn cứ Luật Đầu tư công và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật; Căn cứ quy định tại khoản 5, Điều 3, Quyết định số 2048/QĐ-TTg ngày 06/12/2021 về việc giao kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2021, ngày 09/12/2021, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Văn bản số 8691/BKHĐT-TH gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn việc phân bổ chi tiết kế hoạch vốn NSNN năm 2022.

    Đến nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nhận được Quyết định phân bổ kế hoạch vốn NSNN năm 2022 của 15/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó có 07 tỉnh, thành phố chưa phân bổ 100% kế hoạch vốn ngân sách trung ương được Thủ tướng Chính phủ giao theo Quyết định số 2048/QĐ-TTg ngày 06/12/2021.

    Nội dung về phân bổ chi tiết vốn đầu tư nguồn NSNN năm 2022 sẽ là mội trong các nội dung được báo cáo trong phiên họp của Chính phủ với các địa phương (dự kiến đầu tháng 01/2022) và phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 01/2022.

    Để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2022 góp phần thúc đẩy phục hồi tăng trưởng kinh tế, đề nghị đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tham mưu giao chi tiết kế hoạch vốn NSNN năm 2022 trước ngày 31/12/2021; gửi báo cáo kết quả về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trước ngày 10/01/2022 và cập nhật toàn bộ phương án lên Hệ thống thông tin về đầu tư sử dụng vốn NSNN theo quy định.

    Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện các nội dung tại Công điện này và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ việc chậm triển khai các nhiệm vụ về giao chi tiết kế hoạch đầu tư công năm 2022 theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Lễ ra mắt Cổng thông tin doanh nghiệp

    Lễ ra mắt Cổng thông tin doanh nghiệp

     

    Ngày 23/12/2021, Cổng thông tin doanh nghiệp chính thức ra mắt tại địa chỉ https://business.gov.vn. Tham dự buổi Lễ có Tham tán thứ nhất Đại sứ quán Đức tại Việt Nam Debastian Paust, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Nguyễn Văn Thân. Về phía Bộ Kế hoạch và Đầu tư có Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp Lê Mạnh Hùng, Giám đốc Trung tâm Tin học Nguyễn Như Sơn cùng đại diện lãnh đạo một số đơn vị liên quan.

    Buổi Lễ còn có sự tham dự của đại diện các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các nước trong khu vực ASEAN qua hình thức trực tuyến.

    Cục trưởng Lê Mạnh Hùng phát biểu tại buổi Lễ. Ảnh: MPI

    Phát biểu tại buổi Lễ, Cục trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, Cổng thông tin doanh nghiệp là nền tảng hiện đại, miễn phí cung cấp thông tin, dịch vụ nhằm hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp tiếp cận thông tin một cách chính thống và minh bạch phục vụ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Lễ ra mắt Cổng thông tin doanh nghiệp có ý nghĩa, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc đổi mới phương thức cung cấp thông tin, dịch vụ cũng như giao tiếp với cộng đồng doanh nghiệp trên một nền tảng công nghệ hiện đại.

    Nhu cầu tra cứu, tìm kiếm thông tin về cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kết nối kinh doanh luôn là mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế số, công nghệ số đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Sự bùng nổ về thông tin luôn mang lại cả cơ hội và thách thức, do đó, việc hình thành, phát triển một kênh thông tin đa chiều, phong phú, kịp thời, có tính chính xác cao giữa Nhà nước và doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp đầu chuỗi hay với doanh nghiệp FDI cũng như doanh nghiệp nhà nước là một yêu cầu cấp thiết. Đây là một vấn đề đặt ra nhằm thực hiện mục tiêu hỗ trợ về thông tin cho cộng đồng doanh nghiệp theo quy định tại Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; tạo một nền tảng công nghệ hiện đại để doanh nghiệp nhà nước công bố thông tin rộng rãi và có giá trị khai thác cao theo quy định tại Luật doanh nghiệp và Nghị định số 47/2021/NĐ-CP của Chính phủ.

    Bên cạnh đó, Cổng thông tin doanh nghiệp còn là một kênh thông tin để kịp thời ghi nhận các khó khăn, giải pháp, sáng kiến của doanh nghiệp với Chính phủ, nhất là trong giai đoạn bị tác động nặng nề bởi đại dịch Covid-19. Đồng thời, trong quá trình hội nhập, nhất là việc hợp tác chặt chẽ với các nước ASEAN. Cổng thông tin doanh sẽ làm cầu nối giữa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam với cộng đồng doanh nghiệp các nước bạn, thể hiện vai trò thành viên tích cực của Việt Nam trong việc vận hành Cổng kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa ASEAN, góp phần đưa doanh nghiệp Việt Nam kết nối và phát triển thị trường tới các khu vực khác trên toàn cầu.

    Cục trưởng Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, cùng với việc quyết tâm thúc đẩy công tác hỗ trợ doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng thông qua các hoạt động triển khai Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị thì việc đầu tư xây dựng, phát triển Cổng thông tin doanh nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thể hiện sự quyết tâm của Bộ trong việc đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, phát triển bền vững.

    Cổng thông tin doanh nghiệp được xây dựng trên nền tảng mở, kêu gọi tất cả các bên liên quan tham gia trực tiếp, từ các bộ ngành, địa phương, cơ quan hỗ trợ đến các tổ chức phát triển, mạng lưới tư vấn viên, các đơn vị nghiên cứu ngành thị trường chuyên nghiệp sẽ tạo ra một hệ thống thông tin thông suốt, đa chiều và huy động được tất cả mọi nguồn lực từ Nhà nước đến tư nhân tham gia vào công tác hỗ trợ doanh nghiệp. Trong thời gian tới, Cổng sẽ cần tiếp tục được đầu tư nâng cấp, phát triển trên cơ sở huy động nguồn vốn đầu tư công cũng như sự hỗ trợ của các tổ chức phát triển quốc tế. Qua đó, giúp cộng đồng doanh nghiệp sẽ được tham gia trải nghiệm Cổng thông tin hiện đại và tiện lợi để góp phần vào sự phát triển vững mạnh của cộng đồng doanh nghiệp.

    Tham tán thứ nhất Đại sứ quán Đức tại Việt Nam Debastian Paust phát biểu tại buổi Lễ. Ảnh: MPI

    Phát biểu tại buổi Lễ, Tham tán thứ nhất Đại sứ quán Đức tại Việt Nam Debastian Paust chúc mừng Chính phủ Việt Nam vì những kết quả đạt được trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam đã đưa ra những mục tiêu vô cùng mạnh mẽ nhưng hoàn toàn khả thi. Điều này càng có ý nghĩa khi trong quá trình thực hiện các mục tiêu có sự tham gia của doanh nghiệp nhỏ và vừa, là nền tảng, xương sống của nền kinh tế.

    Việc ra mắt Cổng thông tin doanh nghiệp là đánh dấu quan trọng, đảm bảo nhu cầu cấp thiết về thông tin, dịch, xử những vấn đề doanh đang gặp phải trong quá trình hội nhập, tận dụng, khai thác thị trường trong khu vực và thế giới. Điều này cũng là biện pháp ứng phó vô cùng thực tiễn, thể hiện cam kết của Chính phủ trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cổng là nền tảng toàn diện, thân thiện với người sử dụng, là chính sách một cửa để doanh nghiệp tìm kiếm thông tin quan trọng và có giá trị cao; cung cấp điểm tiếp cận như mạng lưới tư vấn, tìm kiếm đối tác, nghiên cứu thị trường, tận dụng tốt nhất cơ sở dữ liệu từ cấp độ quốc gia và khu vực ASEAN.

    Ông Debastian Paust cho biết, Cổng thông tin doanh nghiệp sẽ được kết nối với Cổng kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa ASEAN (ASEAN Access) là cổng thông tin trực tuyến miễn phí kết nối doanh nghiệp trong và ngoài ASEAN, cung cấp cho các doanh nghiệp những thông tin liên quan đến thương mại, thị trường và cơ hội tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ cần thiết để thâm nhập các thị trường mới và tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu. Đồng thời khẳng định, Đức mong muốn tăng hơn nhiều cơ hội hợp tác với Việt Nam, đặc biệt là tận dụng Hiệp định EVFTA để thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới.

    Ảnh: MPI

    Cổng thông tin doanh nghiệp do Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) triển khai xây dựng, là nền tảng dịch vụ công hiện đại, miễn phí của Nhà nước, áp dụng các công nghệ tiên tiến nhất hiện nay nhằm cung cấp thông tin nhanh chóng, có tính xác thực, độ tin cậy cao./.

     

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Diễn đàn Xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp và khu kinh tế của Việt Nam 

    Diễn đàn Xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp và khu kinh tế của Việt Nam 

     

    Ngày 21/12/2021, trong khuôn khổ Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia năm 2021, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức Diễn đàn Xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp và khu kinh tế của Việt Nam nhằm chia sẻ, lắng nghe các ý kiến, đóng góp từ các tổ chức quốc tế, các cơ quan nhà nước, các nhà đầu tư trong và ngoài nước để xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh của các khu công nghiệp, khu kinh tế (KCN, KKT) Việt Nam thuận lợi hơn và là điểm đến tin cậy của các nhà đầu tư.

    Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế Lê Thành Quân phát biểu khai mạc Diễn đàn.
    Ảnh: MPI

    Phát biểu tại Diễn đàn, Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lê Thành Quân cho biết, Việt Nam đã và đang tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh để kêu gọi và thu hút các nhà đầu tư, trong đó trọng tâm là hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhất là hệ thống giao thông kết nối thị trường trong nước và quốc tế; xây dựng cơ chế, chính sách về đầu tư, sản xuất kinh doanh thông thoáng, hấp dẫn và phù hợp với thông lệ quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng nền hành chính minh bạch, thân thiện và đồng hành với doanh nghiệp, nhà đầu tư.

    Việc phát triển các KCN, KKT là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược, định hướng thu hút đầu tư của Việt Nam. Qua gần 30 năm xây dựng và phát triển, hiện nay trên cả nước có 395 KCN được thành lập tại 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với tổng diện tích gần 123 nghìn ha; 26 KKT cửa khẩu được thành lập tại 21 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biên giới đất liền với tổng diện tích khoảng 766 nghìn ha và 18 KKT ven biển được thành lập tại 17 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khu vực ven biển, với tổng diện tích mặt đất và mặt nước khoảng 871,5 ngàn ha. Các KCN, KKT đã trở thành những khu vực trọng điểm thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước, hiện là điểm đến của nhiều tập đoàn hàng đầu trên thế giới như Samsung, Sumitomo, Foxcon, LG, Hyosung, Canon, Robert Bosch, … với nhiều sản phẩm được xuất khẩu sang thị trường toàn cầu, góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế của khu vực và thế giới. Nhiều doanh nghiệp trong nước với khởi đầu là nhà đầu tư phát triển và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN đã phát triển thành những tập đoàn đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực, dần vươn tới các thị trường ngoài nước, khẳng định vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế. Hệ thống các KKT ven biển đã tận dụng và phát huy được lợi thế về địa chính trị kinh tế. Các KKT như Chu Lai, Dung Quất, Vũng Áng, Nghi Sơn …. đã thu hút được các dự án công nghiệp nặng quy mô lớn trong lĩnh vực cơ khí, hóa dầu, nhiệt điện, sản xuất thép, lắp ráp ô tô …

    Các KCN, KKT đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam; chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng gia tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, giá trị công nghệ; thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; giải quyết việc làm; phát triển đô thị; thúc đẩy liên kết ngành và liên kết vùng; bảo vệ môi trường sinh thái; mở rộng quan hệ đối ngoại ….

    Trình bày tổng quan về phát triển và định hướng thu hút đầu tư vào KCN, KKT, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế Trần Quốc Trung cho biết, tính đến cuối tháng 10/2021, đã có 10.996 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 230,2 tỷ USD, vốn đầu tư thực hiện khoảng 69%. 10.211 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 2,54 triệu tỷ đồng, vốn thực hiện khoảng 46,5%. Năm 2020, các doanh nghiệp trong KCN, KKT đóng góp giá trị kim ngạch xuất khẩu 138 tỷ USD, tương đương tỷ trọng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đóng góp vào ngân sách 137 nghìn tỷ đồng, tạo việc làm cho 4 triệu lao động.

    Về một số định hướng phát triển KCN, KKT trong thời gian tới, phát triển về số lượng và quy mô KCN, KKT phải đảm bảo bền vững, tuân thủ nguyên tắc phát huy thế mạnh địa phương, tạo điều kiện liên kết phát triển kinh tế vùng, cụm liên kết ngành. Hình thành hệ thống KCN nòng cốt, các KKT trọng điểm với vai trò dẫn dắt sự phát triển các ngành công nghiệp quốc gia. Phát triển các loại hình KCN sinh thái, KCN hỗ trợ, KCN chuyên ngành, KCN công nghệ cao tại khu vực đồng bằng để phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, công nghệ cao, liên kết chuỗi giá trị. Phát triển các KCN có quy mô vừa và nhỏ tại khu vực nông thôn, miền núi để phát triển các ngành công nghiệp chế biến (lương thực, thực phẩm, nông, lâm, thủy, hải sản), các ngành sử dụng nhiều lao động (dệt may, da giày). Tiến tới cân bằng trong phát triển KCN, KKT để giảm áp lực về giao thông, đô thị, môi trường và hạ tầng xã hội. Hạn chế phát triển KCN trên đất nông nghiệp có năng suất ổn định. Thúc đẩy phát triển KCN, KKT theo chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Chuyển dịch cơ cấu dự án trong KCN, KKT thông qua đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng và thân thiện với môi trường; sử dụng ít tài nguyên (đất đai, nước, …), năng lượng, lao động. Đa dạng hóa các phương thức hợp tác đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN, KKT. Khuyến khích huy động nguồn lực tư nhân trong xây dựng, phát triển KCN, KKT.

    Các ngành, lĩnh vực thu hút đầu tư vào KCN, KKT đó là thiết bị, linh kiện điện tử; năng lượng; công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp ô tô, cơ khí chế tạo; logistics (cảng biển, hàng không, kho bãi); thiết bị y tế, chế biến lương thực, thực phẩm; Dệt may, da giầy; hàng tiêu dùng và bán lẻ; công nghệ cao; khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo; Chuyển giao công nghệ; Nhà ở, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng; công nghệ thông tin; Bất động sản nghỉ dưỡng; nghiên cứu và phát triển; Cơ sở hạ tầng.

    Để thực hiện định hướng này, Chính phủ đang có nhiều chính sách ưu đãi đầu tư vào KCN, KKT như ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi thuế nhập khẩu, ưu đãi đất đai, hỗ trợ của nhà nước đối với đầu tư xây dựng hạ tầng KCN, KKT, chính sách nhà ở công nhân…

    Hình ảnh Diễn đàn tại điểm cầu Hà Nội. Ảnh: MPI

    Tại Diễn đàn, các đại biểu đến từ Công ty phát triển hạ tầng KCN Nam Cầu Kiền, Hải Phòng; Công ty cổ phần KCN An Phát; Công ty TNHH VSIP Bắc Ninh; Tập đoàn Tân Hoàng Minh; … đã chia sẻ về mô hình KCN sinh thái gắn với phát triển bền vững; phát triển KCN kỹ thuật cao; KCN, KKT gắn với phát triển quy hoạch đô thị và dịch vụ tiện ích cho người lao động; mô hình KCN chuyên sâu; …

    Kết luận Diễn đàn, Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế Lê Thành Quân nhấn mạnh, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới toàn diện và mạnh mẽ để trở thành một đất nước phát triển và hiện đại, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, tránh tụt hậu so với các quốc gia trong khu vực. Điều đó đặt ra yêu cầu đối với sự phát triển KCN, KKT cần có thay đổi để đảm bảo hiệu quả và bền vững hơn nữa. Định hướng, chủ trương của Đảng, Chính phủ Việt Nam gần đây yêu cầu về nâng cao hiệu quả hoạt động của KCN, KKT, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, trong đó lấy tăng trưởng theo chiều sâu là hướng chủ đạo, xác định rõ trọng tâm phát triển và cơ chế, chính sách vượt trội phù hợp với đặc thù của từng mô hình và phát triển KCN, KKT sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh.

    Để tiếp tục nâng cao sức hấp dẫn của môi trường đầu tư kinh doanh của KCN, KKT, với vai trò cơ quan đầu mối, tham mưu về quản lý nhà nước đối với KCN, KKT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã và đang tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển KCN, KKT, trong đó xác định một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới đó là hoàn thiện mô hình quản lý và ưu đãi đầu tư của KCN, KKT; phát triển các mô hình KCN, KKT với chất lượng quy hoạch, trình độ quản lý và cơ sở hạ tầng kỹ thuật cao hơn; nâng cao tính liên kết, hợp tác giữa các KCN, KKT.

    Vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 14/3/2018 về quản lý KCN và KKT, trong đó đã bổ sung, hoàn thiện các quy định về việc phát triển mô hình KCN, KKT mới. Thời gian tới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cam kết sẽ cùng các Bộ, ngành và các địa phương tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế chính sách và đồng hành cùng nhà đầu tư để xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh của KCN, KKT ngày càng thông thoáng, minh bạch, hiệu quả xây dựng các KCN, KKT của Việt Nam tiếp tục trở thành điểm đến tin cậy của các nhà đầu tư trong và ngoài nước./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Hội thảo công bố Báo cáo thường niên chuyển đổi số doanh nghiệp 2021: Rào cản và nhu cầu chuyển đổi số

    Hội thảo công bố Báo cáo thường niên chuyển đổi số doanh nghiệp 2021: Rào cản và nhu cầu chuyển đổi số

    Ngày 22/12/2021, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức Hội thảo công bố Báo cáo thường niên chuyển đổi số doanh nghiệp 2021: Rào cản và nhu cầu chuyển đổi số.

    Hình ảnh Hội thảo tại điểm cầu Hà Nội. Ảnh: MPI

    Ngày 07/01/2021, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Quyết định số 12/QĐ-BKHĐT phê duyệt Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ thông qua Dự án Thúc đẩy cải cách và Nâng cao năng lực kết nối cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (LinkSME).

    Phát biểu khai mạc, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lê Mạnh Hùng cho biết, trong quá trình triển khai Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025, Cục Phát triển doanh nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiến hành khảo sát 1.300 doanh nghiệp để phân tích các rào cản, khó khăn, cũng như nhu cầu giải pháp trong quá trình triển khai chuyển đổi số trong doanh nghiệp. Căn cứ trên kết quả khảo sát và các hoạt động của Chương trình trong thời gian qua, Cục Phát triển doanh nghiệp đã xây dựng, hoàn thiện Báo cáo thường niên Chuyển đổi số doanh nghiệp 2021: Rào cản và nhu cầu chuyển đổi số nhằm cung cấp thông tin của Báo cáo tới cộng đồng. Báo cáo thường niên công bố là một hoạt động của Chương trình nhằm cung cấp những thông tin tổng quát về những khó khăn, thách thức, nhu cầu chuyển đổi số cùng các hoạt động thực tiễn của chương trình như hỗ trợ xây dựng lộ trình chuyển đổi số đào tạo, tư vấn doanh nghiệp.

    Giám đốc dự án USAID LinkSME Daniel Fitzpatrick cho biết, dự án USAID LinksSME đã và đang phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư từ năm 2020 để hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số. Báo cáo tập trung vào nhu cầu của doanh nghiệp thông qua tiếng nói của chính bản thân doanh nghiệp. Hơn 1,000 doanh nghiệp đã trả lời khảo sát về động lực và khó khăn họ gặp phải trong quá trình chuyển đổi số. Báo cáo thường niên này tổng hợp kết quả khảo sát và đưa ra nhiều thông tin chuyên sâu về chủ đề mà cách đây vài năm chúng ta còn ít biết đến.

    Tại Hội thảo, các chuyên gia đến từ Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và Tổng công ty Becamex IDC đã trình bày những kinh nghiệm triển khai chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp sản xuất. Chuyên gia đến từ Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam Đặng Duy Khánh nhận định, các khó khăn, thách thức chuyển đổi số đó là thiết lập mục tiêu, xây dựng chiến lược lộ trình chuyển đổi số; Kinh phí thực hiện các hoạt động chuyển đổi số; Phương thức lựa chọn các giải pháp công nghệ; Tích hợp và đồng bộ dữ liệu theo mục tiêu kinh doanh. Ông Đặng Duy Khánh cũng đưa ra khuyến nghị doanh nghiệp nên lựa chọn nền tảng đa dạng các sản phẩm dịch vụ và giải pháp chuyển đổi số tổng thể, có tính tích hợp và kế thừa trong suốt hành trình chuyển đổi số trong các doanh nghiệp.

    Chuyên gia đến từ Tổng công ty Becamex IDC Phạm Tuấn Anh cho biết, hướng tiếp cận đề xuất cho doanh nghiệp sản xuất đó là đánh giá hiện trạng của công tác sản xuất, xác định vấn đề tồn tại; xác định mục tiêu cụ thể dựa trên công tác quản lý sản xuất; xây dựng các giải pháp để hoàn thành những mục tiêu cụ thể, … Tồn tại của các doanh nghiệp đó là thiếu vai trò của lãnh đạo số; xác định mục tiêu chưa phù hợp; chiến thuật triển khai không hợp lý. Theo ông Phạm Tuấn Anh, muốn chuyển đổi số thì cần phải nâng công nghệ trở thành chiến lược, không chỉ là công cụ hỗ trợ; cần có lãnh đạo số; uyển chuyển lựa chọn cách tiếp cận, chuyển đổi số./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp về tình hình kinh tế – xã hội năm 2021

    Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp về tình hình kinh tế – xã hội năm 2021

    Ngày 28/12/2021, Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 352/TB-VPCP về Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về tình hình kinh tế – xã hội năm 2021; dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022; dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Thông báo nêu rõ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá cao Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tích cực phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương để chuẩn bị các dự thảo Báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội năm 2021; dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022 (dự thảo Nghị quyết 01); dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022 (dự thảo Nghị quyết 02).

    Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có ý kiến góp ý trực tiếp vào các dự thảo Báo cáo, dự thảo Nghị quyết 01; dự thảo Nghị quyết 02; chuẩn bị nội dung thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý, nhất là về đánh giá các kết quả đạt được năm 2021, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan, dự báo tình hình, xác định nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần tập trung triển khai thực hiện trong năm 2022 và phụ lục các nhiệm vụ cụ thể gắn với thời hạn hoàn thành và gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ các ý kiến phát biểu tại cuộc họp và ý kiến bằng văn bản của các cơ quan. Chủ động trao đổi thống nhất với các Bộ, cơ quan liên quan để hoàn thiện các báo cáo, các dự thảo Nghị quyết phục vụ Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương vào ngày 05/01/2022.

    Trong đó, về báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2021, bảo đảm kế thừa và bám sát kết cấu, nội dung các Báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội đã trình Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, đã được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ báo cáo tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khóa XIV; Kết luận số 20-KL/TW ngày 16/10/2021 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về kinh tế – xã hội năm 2021-2022; Nghị quyết số 32/2021/QH15 của Quốc hội; cập nhật tình hình, các số liệu, diễn biến mới, nhất là về công tác chỉ đạo, điều hành, kết quả đạt được trong phòng, chống dịch, tiêm vắc-xin, xử lý các vấn đề tồn đọng kéo dài,…

    Đồng thời, bổ sung các số liệu so sánh với kết quả của năm 2020 để làm sâu sắc hơn các đánh giá, nhận định về kết quả đạt được trong năm 2021, có tính đến các đặc thù của năm 2021 như tác động nặng nề, khó lường của dịch bệnh; việc tập trung triển khai, góp phần tổ chức thành công các sự kiện lớn của đất nước, kiện toàn nhân sự nhiệm kỳ mới…

    Về dự thảo Nghị quyết 01, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu chủ đề của năm 2022 theo hướng “ổn định, kỷ cương, an toàn, linh hoạt, hiệu quả” để phản ánh sát hơn các yêu cầu của năm 2022. Bổ sung vào các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2022 các nội dung như việc khắc phục hạn chế, yếu kém của năm 2021, nhất là các tồn tại, hạn chế kéo dài; thúc đẩy triển khai hiệu quả Chương trình tổng thể phòng, chống dịch Covid-19 và Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội để thúc đẩy tăng trưởng; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương.

    Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao năng suất lao động; tập trung đầu tư, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng xã hội (y tế, văn hóa, giáo dục); thích ứng với biến đổi khí hậu, thúc đẩy tăng trưởng xanh; cải cách thủ tục hành chính; đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công; tiếp tục khắc phục các tổ chức tín dụng yếu kém, các dự án thua lỗ, dự án chậm tiến độ…

    Về dự thảo Nghị quyết 02, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần bám sát chủ đề để cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của năm 2022, bảo đảm tránh trùng lặp các nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định tại các Nghị quyết khác của Chính phủ, nhất là tháo gỡ khó khăn về thể chế, cơ chế, chính sách, tăng cường phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, khắc phục triệt để tình trạng gây phiền hà trong giải quyết thủ tục hành chính; đẩy mạnh chuyển đổi số, hỗ trợ phục hồi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân…, đặc biệt là các giải pháp khắc phục yếu kém về môi trường kinh doanh.

    Thủ tướng Chính phủ phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái trực tiếp chỉ đạo việc hoàn thiện Báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội năm 2021 và dự thảo Nghị quyết 01 và phải xong trước ngày 31/12/2021.

    Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam trực tiếp chỉ đạo việc tổng kết đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2021 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2021 và dự thảo Nghị quyết 02 năm 2022 và phải xong trước ngày 31/12/2021./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài năm 2021

    Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài năm 2021

    Tính đến ngày 20/12/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2020.

    Theo báo cáo, cả vốn đăng ký mới và vốn điều chỉnh đều tăng so với cùng kỳ. GVMCP tuy vẫn giảm song mức giảm đã cải thiện rất nhiều so với các tháng trước.

    Cụ thể, có 1.738 dự án mới được cấp GCNĐKĐT (giảm 31,1%), tổng vốn đăng ký đạt trên 15,2 tỷ USD (tăng 4,1% so với cùng kỳ); có 985 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 13,6%), tổng vốn đăng ký tăng thêm đạt trên 9 tỷ USD (tăng 40,5% so với cùng kỳ); có 3.797 lượt GVMCP của nhà ĐTNN (giảm 38,2%), tổng giá trị vốn góp đạt gần 6,9 tỷ USD (giảm 7,7% so với cùng kỳ).

    Cơ cấu ĐTNN năm 2021 theo ngành

    Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 18,1 tỷ USD, chiếm 58,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành sản xuất, phân phối điện mặc dù thu hút được số lượng dự án mới, điều chỉnh cũng như GVMCP không nhiều, song có dự án có quy mô vốn lớn nên đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 5,7 tỷ USD, chiếm 18,3% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các ngành kinh doanh bất động sản; bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt là trên 2,6 tỷ USD và trên 1,4 tỷ USD.

    Nếu xét về số lượng dự án mới thì công nghiệp chế biến chế tạo, bán buôn bán lẻ và hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ là các ngành thu hút được nhiều dự án nhất, chiếm lần lượt 30,7%, 28,1% và 16,7% tổng số dự án.

    Cơ cấu ĐTNN năm 2021 theo đối tác

    Đã có 106 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, Xinh-ga-po dẫn đầu với tổng vốn đầu tư trên 10,7 tỷ USD, chiếm 34,4% tổng vốn đầu tư, tăng 19,1% so với cùng kỳ 2020. Hàn Quốc đứng thứ hai với gần 5 tỷ USD, chiếm 15,9% tổng vốn đầu tư, tăng 25,4% so với cùng kỳ. Nhật Bản đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 3,9 tỷ USD, chiếm 12,5% tổng vốn đầu tư, tăng 64,6% so với cùng kỳ. Tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,…

    Vốn đầu tư của Xinh-ga-po gấp gần 2,2 lần vốn đầu tư của Hàn Quốc và gấp hơn 2,7 lần vốn đầu tư của Nhật Bản do Xinh-ga-po có 01 dự án đầu tư mới và 01 trường hợp GVMCP có vốn đầu tư lớn. Riêng hai dự án này đã chiếm trên 49% tổng vốn đầu tư của Xinh-ga-po.

    Hàn Quốc mặc dù chỉ xếp thứ hai về vốn đầu tư, song lại là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới, số lượt dự án điều chỉnh vốn cũng như số lượt GVMCP. Như vậy, nếu xét về số lượng dự án, Hàn Quốc là đối tác có nhiều nhà đầu tư quan tâm và đưa ra các quyết định đầu tư mới cũng như mở rộng dự án đầu tư nhất trong năm 2021.

    Cơ cấu ĐTNN năm 2021 theo địa phương

    Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 59 tỉnh, thành phố trên cả nước. Hải Phòng vượt qua Long An vươn lên dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 5,26 tỷ USD, chiếm 16,9% tổng vốn đầu tư đăng ký và gấp gần 3,5 lần so với cùng kỳ năm 2020. Long An xếp thứ hai với trên 3,84 tỷ USD, chiếm 12,3% tổng vốn đầu tư. Thành phố Hồ Chí Minh đứng vị trí thứ ba với gần 3,74 tỷ USD, chiếm gần 12% tổng vốn đầu tư, giảm 14,2% so với cùng kỳ. Tiếp theo lần lượt là Bình Dương, Bắc Ninh, Hà Nội,…

    Nếu xét về số dự án, các nhà ĐTNN vẫn tập trung đầu tư nhiều tại các thành phố lớn, có cơ sở hạ tầng thuận lợi như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bắc Ninh. Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả về số dự án mới (29,2%), số lượt dự án điều chỉnh (18,1%) và GVMCP (60,3%). Hà Nội tuy không thuộc top 5 địa phương thu hút ĐTNN trong năm, song xếp thứ hai về số dự án mới (16,7%) và số lượt GVMCP (12,2%).

    Ước tính các dự án ĐTNN đã giải ngân được 19,74 tỷ USD trong năm 2021, giảm nhẹ 1,2% so với cùng kỳ năm 2020, tăng 3 điểm phần trăm so với 11 tháng năm 2021.

    Tính lũy kế đến ngày 20/12/2021, cả nước có 34.527 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 408,1 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án ĐTNN ước đạt 251,6 tỷ USD, bằng 61,7% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng trong cả năm 2021 và tăng 1 điểm phần trăm so với 11 tháng năm 2021. Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 246,7 tỷ USD, tăng 20,7% so với cùng kỳ, chiếm 73,6% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt trên 245 tỷ USD, tăng 20,8% so với cùng kỳ, chiếm 73,1% kim ngạch xuất khẩu cả nước.

    Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt gần 218,3 tỷ USD, tăng 29,2% so cùng kỳ và chiếm 65,7% kim ngạch nhập khẩu cả nước.

    Tính chung trong cả năm 2021, khu vực ĐTNN xuất siêu gần 28,5 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu trên 26,7 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu 25,5 tỷ USD.

    Một số dự án ĐTNN lớn trong năm 2021

    Dự án Nhà máy điện LNG Long An I và II (Xinh-ga-po), tổng vốn đăng ký trên 3,1 tỷ USD với mục tiêu truyền tải và phân phối điện, sản xuất điện tại Long An (cấp GCNĐKĐT ngày 19/3/2021).

    Dự án LG Display Hải Phòng (Hàn Quốc), điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 2,15 tỷ USD (trong đó điều chỉnh tăng 1,4 tỷ USD ngày 30/8/2021 và tăng 750 triệu USD ngày 04/02/2021).

    Dự án Nhà máy nhiệt điện Ô Môn II (Nhật Bản), tổng vốn đăng ký trên 1,31 tỷ USD với mục tiêu xây dựng một nhà máy nhiệt điện nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp điện cho lưới điện khu vực và hệ thống điện quốc gia tại Cần Thơ (cấp GCNĐKĐT ngày 22/01/2021).

    Dự án nhà máy sản xuất giấy Kraft Vina công suất 800.000 tấn/năm (Nhật Bản), tổng vốn đầu tư 611,4 triệu USD với mục tiêu sản xuất giấy kraft, giấy lót và giấy bao bì tại Vĩnh Phúc (cấp GCNĐKĐT ngày 23/7/2021).

    Dự án Nhà máy Công ty TNHH Polytex Far Eastern Việt Nam (Đài Loan), điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 610 triệu USD (GCNĐT điều chỉnh cấp ngày 13/5/2021)./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp cả năm 2021 tăng 4,82% so với năm 2020

    Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp cả năm 2021 tăng 4,82% so với năm 2020

    Sản xuất công nghiệp trong quý IV/2021 khởi sắc ngay sau khi các địa phương trên cả nước thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 với tốc độ tăng giá trị tăng thêm đạt 6,52% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 4,82% so với năm 2020, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,37%.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Cụ thể, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp quý I tăng 6,44%; quý II tăng 11,18%; quý III giảm 4,4%; quý IV tăng 6,52%. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,37% (quý I tăng 8,9%; quý II tăng 13,35%; quý III giảm 4,09%; quý IV tăng 7,96%), đóng góp 1,61 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,24%, đóng góp 0,19 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 6,21% (do sản lượng khai thác dầu thô giảm 5,7% và khí đốt tự nhiên giảm 19,4%), làm giảm 0,23 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

    Chỉ số sản xuất năm 2021 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng cao so với năm trước: Sản xuất kim loại tăng 22,1%; sản xuất xe có động cơ tăng 10,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,6%; khai thác than cứng và than non tăng 9%; dệt tăng 8,3%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 8,1%; sản xuất trang phục tăng 7,6%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 16,9%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 13,2%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 11,5%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 5,5%; khai thác quặng kim loại giảm 4,9%.

    Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2021 so với năm trước tăng ở 48 địa phương và giảm ở 15 địa phương trên cả nước.

    Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực năm 2021 tăng cao so với năm trước như thép cán tăng 33,5%; linh kiện điện thoại tăng 29,5%; xăng dầu tăng 14,4%; sữa bột tăng 13,1%; khí hóa lỏng LPG tăng 10,9%; sắt, thép thô tăng 10,5%; thức ăn cho gia súc tăng 9,5%; ô tô tăng 9,1%; than sạch tăng 9%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với năm trước: Tivi giảm 38,6%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 19,4%; bia giảm 7,1%; dầu mỏ thô khai thác giảm 5,7%; đường kính giảm 3,3%; thức ăn cho thủy sản giảm 3,2%.

    Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2021 tăng 5,9% so với tháng trước và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5% so với năm 2020 (năm trước tăng 3,3%).

    Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm ngày 31/12/2021 tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 21,9% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 25,3%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân năm 2021 là 79,1% (năm 2020 là 71,9%).

    Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm ngày 01/12/2021 tăng 1,7% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 1,9% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,2% và giảm 2,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,2% và giảm 3,9%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,1% và giảm 1%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,8% và giảm 2,1%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,4% và tăng 3,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2% và giảm 0,5%./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu 

  • Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất cây trồng và chăn nuôi đạt khá

    Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất cây trồng và chăn nuôi đạt khá

    Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất cây trồng và chăn nuôi đạt khá. Kết quả hoạt động năm 2021 của ngành nông nghiệp đã thể hiện rõ vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, là cơ sở quan trọng để thực hiện an sinh, an dân trong đại dịch.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Diện tích lúa cả năm ước đạt 7,24 triệu ha, giảm 38,3 nghìn ha so với năm trước do chuyển đổi cơ cấu sản xuất và mục đích sử dụng đất; năng suất lúa ước đạt 60,6 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha; sản lượng lúa đạt 43,88 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn.

    Kết quả sản xuất vụ đông xuân của cả nước năm nay đạt khá tuy diện tích gieo trồng đạt 3.006,8 nghìn ha, giảm 17,2 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2020 nhưng năng suất đạt ở mức cao với 68,6 tạ/ha, tăng 2,9 tạ/ha.Vụ lúa hè thu năm 2021 đạt năng suất và sản lượng khá. Diện tích gieo trồng lúa hè thu cả nước năm nay đạt 1.954,2 nghìn ha, tăng 9,1 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2020. Diện tích gieo trồng lúa thu đông năm 2021 ước tính đạt 719,7 nghìn ha, giảm 4,3 nghìn ha so với vụ thu đông năm trước. Vụ mùa năm nay cả nước gieo cấy được 1.559,7 nghìn ha, giảm 26,1 nghìn ha so với năm trước, chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng sang trồng cây hằng năm khác hoặc cây lâu năm có hiệu quả kinh tế cao hơn. Với điều kiện thời tiết thuận lợi, cây lúa đẻ nhánh nhanh và đồng đều, các loại sâu bệnh xuất hiện được phòng trừ kịp thời nên năng suất vụ mùa năm nay tăng so với năm trước, ước tính đạt 51,7 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha.

    Sản lượng lúa năm 2021 tăng 1,1 triệu tấn so với năm 2020, đánh dấu một năm sản xuất lúa thắng lợi với năng suất tăng ở tất cả các mùa vụ. Sản lượng lúa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ chế biến và xuất khẩu. Có được kết quả này là do điều kiện thời tiết thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển và do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi mùa vụ hiệu quả.

    Năm 2021, diện tích trồng cây lâu năm ước tính đạt 3.688,6 nghìn ha, tăng 2% so với năm 2020, bao gồm nhóm cây công nghiệp đạt 2.209,9 nghìn ha, tăng 1,1%; nhóm cây ăn quả đạt 1.173,4 nghìn ha, tăng 3,4%; nhóm cây lấy dầu đạt 189,1 nghìn ha, tăng 3,2%; nhóm cây gia vị, dược liệu đạt 55 nghìn ha, tăng 3,8%.

    Trong nhóm cây công nghiệp, diện tích cao su đạt 938,8 nghìn ha, tăng 0,7% so với năm trước, sản lượng năm đạt 1.260,1 nghìn tấn, tăng 2,8%; cà phê diện tích đạt 705 nghìn ha, tăng 1,4%, sản lượng đạt 1.816 nghìn tấn, tăng 3%…

    Chăn nuôi lợn và gia cầm năm 2021 chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhiều chợ đầu mối, chợ truyền thống tạm ngưng hoạt động làm gián đoạn chuỗi cung ứng; nhà hàng, quán ăn đóng cửa, du lịch đình trệ khiến nhu cầu thị trường giảm, lượng vật nuôi tồn đọng trong chuồng lớn, giá thịt lợn hơi những tháng cuối năm ở mức thấp trong khi đó chi phí đầu vào tăng khiến nhiều cơ sở chăn nuôi bị thua lỗ. Bên cạnh đó, chăn nuôi lợn gặp khó khăn do dịch tả lợn châu Phi tuy được kiểm soát nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát.

    Tính đến ngày 22/12/2021, cả nước không còn dịch lợn tai xanh và dịch lở mồm long móng; dịch tả lợn châu Phi còn ở 41 địa phương và dịch viêm da nổi cục còn ở 7 địa phương chưa qua 21 ngày.

    Theo báo cáo, sản xuất lâm nghiệp quý IV/2021 có nhiều thuận lợi trong những tháng cuối năm khi cả nước thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ. Trong quý IV/2021, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước tính đạt 101,9 nghìn ha, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 33,9 triệu cây, tăng 4,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 5.245,2 nghìn m3, tăng 8,1%; sản lượng củi khai thác đạt 4,5 triệu ste, giảm 3,8%.

    Tính chung năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước tính đạt 277,8 nghìn ha, tăng 2,8% so với năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 99 triệu cây, tăng 3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 18,1 triệu m3, tăng 5,4%; sản lượng củi khai thác đạt 18,8 triệu ste, giảm 1,6%. Diện tích rừng bị thiệt hại quý IV/2021 là 133 ha, giảm 52,1% so với cùng kỳ năm trước.

    Sản lượng thủy sản quý IV/2021 ước tính đạt 2.316,3 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 8.726,6 nghìn tấn, tăng 1% so với năm 2020; bao gồm: Cá đạt 6.295,2 nghìn tấn, tăng 0,1%; tôm đạt 1.136,4 nghìn tấn, tăng 4,3%; thủy sản khác đạt 1.295 nghìn tấn, tăng 2,6%.

    Trong quý IV/2021, các nhà máy chế biến thủy sản khôi phục hoạt động sản xuất và đẩy mạnh chế biến, xuất khẩu phục vụ nhu cầu tiêu thụ cuối năm sau thời gian dừng hoặc giảm công suất hoạt động do thực hiện giãn cách xã hội và sản xuất “3 tại chỗ” trong quý III/2021.

    Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý IV/2021 ước đạt 1.452,7 nghìn tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 1.006 nghìn tấn, tăng 1,7%; tôm đạt 283,7 nghìn tấn, tăng 4,2%. Tính chung năm 2021, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 4.805,8 nghìn tấn, tăng 1,0% so với năm trước.

    Sản lượng thủy sản khai thác quý IV/2021 ước đạt 863,6 nghìn tấn, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 3.920,8 nghìn tấn, tăng 0,9% so với năm trước; thủy sản khác đạt 735,8 nghìn tấn, tăng 0,6%. Sản lượng thủy sản khai thác biển năm 2021 ước đạt 3.726 nghìn tấn, tăng 0,9%./.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý I/2022

    Doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý I/2022

    Tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường trong năm 2021 đạt gần 160 nghìn doanh nghiệp, giảm 10,7% so với năm 2020; 119,8 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 17,8%, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp thành lập dưới 5 năm, quy mô vốn nhỏ.

    Ảnh minhhọa. Nguồn: MPI

    Việc ban hành và triển khai kịp thời Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 trên phạm vi toàn quốc đã góp phần quan trọng trong khôi phục sản xuất và thúc đẩy thị trường, từng bước tạo niềm tin cho các doanh nghiệp. Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý I/2022 với 81,7% doanh nghiệp đánh giá sẽ ổn định và tốt hơn so với quý IV/2021.

    Trong tháng 12/2021, cả nước có 11,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 156,9 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 69,7 nghìn lao động, giảm 5,7% về số doanh nghiệp, tăng 4,7% về vốn đăng ký và giảm 8,9% về số lao động so với tháng 11/2021. So với tháng 12/2020, tăng 5% về số doanh nghiệp, giảm 56% về số vốn đăng ký và giảm 4,5% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 14 tỷ đồng, tăng 11% so với tháng trước và giảm 58,1% so với cùng kỳ năm 2020.

    Cũng trong tháng, cả nước còn có 4.223 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 14,8% so với tháng trước và giảm 21,2% so với cùng kỳ năm 2020.

    Trong quý IV/2021, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 31,4 nghìn doanh nghiệp với số vốn đăng ký 415,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 205,1 nghìn lao động, tăng 70,4% về số doanh nghiệp, tăng 64,1% về số vốn đăng ký và tăng 24,7% về số lao động so với quý III/2021. Như vậy chỉ sau hơn hai tháng thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021, tình hình đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp trong những tháng cuối năm 2021 đã khởi sắc rõ nét.

    Tính chung năm 2021, cả nước có 116,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.611,1 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 854 nghìn lao động, giảm 13,4% về số doanh nghiệp, giảm 27,9% về vốn đăng ký và giảm 18,1% về số lao động so với năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2021 đạt 13,8 tỷ đồng, giảm 16,8% so với năm trước. Nếu tính cả 2.524,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 43,5 nghìn doanh nghiệp tăng vốn, tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm nay là 4.136 nghìn tỷ đồng, giảm 25,8% so với năm trước. Bên cạnh đó, còn có 43,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 2,2% so với năm 2020), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động năm 2021 lên gần 160 nghìn doanh nghiệp, giảm 10,7% so với năm trước. Bình quân một tháng có 13,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

    Theo khu vực kinh tế, năm nay có 1.999 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 24,3% so với năm trước; 31,2 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, giảm 22,4%; 83,6 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, giảm 9,2%.

    Cũng trong tháng 12/2021, có 3.011 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 14,5% so với tháng trước và tăng 33,8% so với cùng kỳ năm 2020; có 9.057 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 95,1% và tăng 67,1%; có 1.877 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 49,4% và giảm 7,1%.

    Tính chung năm 2021, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn gần 55 nghìn doanh nghiệp, tăng 18% so với năm trước; 48,1 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 27,8%; 16,7 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 4,1%, trong đó có 14,8 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, giảm 4%; 211 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, giảm 20,7%. Bình quân một tháng có gần 10 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

    Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2021 cho thấy: Có 44% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý III/2021; 31,1% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 24,9% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn

    Dự kiến quý I/2022, có 45,6% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý IV/2021; 36,1% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 18,3% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lạc quan nhất với 83,1% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2022 tốt hơn và giữ ổn định so với quý IV/2021; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài Nhà nước lần lượt là 82% và 81,2%.

    Về khối lượng sản xuất, có 45,7% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý IV/2021 tăng so với quý III/2021; 30,5% số doanh nghiệp cho rằng ổn định và 23,8% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm. Xu hướng quý I/2022 so với quý IV/2021, có 45,4% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 17,4% số doanh nghiệp dự báo giảm và 37,2% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

    Về đơn đặt hàng, có 39,3% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý IV/2021 cao hơn quý III/2021; 37,3% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định và 23,4% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm. Xu hướng quý I/2022 so với quý IV/2021, có 41,4% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng tăng lên; 16,8% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 41,8% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

    Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý IV/2021 so với quý III/2021, có 34% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu mới cao hơn; 43,4% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới ổn định và 22,6% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới giảm. Xu hướng quý I/2022 so với quý IV/2021, có 37,2% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu mới; 16,7% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 46,1% số doanh nghiệp dự kiến ổn định./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Năm 2021 tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước

    Năm 2021 tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước

    Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng 12/2021, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 66,5 tỷ USD, tăng 6,4% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19%; nhập khẩu tăng 26,5%.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Theo Báo cáo, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 11/2021 đạt 31,87 tỷ USD, cao hơn 1,97 tỷ USD so với số ước tính. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 12/2021 ước đạt 34,5 tỷ USD, tăng 8,3% so với tháng trước. Khu vực kinh tế trong nước đạt 9,2 tỷ USD, tăng 6,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 25,3 tỷ USD, tăng 8,9%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 12 tăng 24,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 29,6%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 23,2%.

    Trong quý IV/2021, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 95,6 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước và tăng 16,4% so với quý III/2021 (tăng 19,5% so với quý II/2021 và tăng 21,9% so với quý I/2021).

    Tính chung năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 336,25 tỷ USD, tăng 19% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 88,71 tỷ USD, tăng 13,4%, chiếm 26,4% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 247,54 tỷ USD, tăng 21,1%, chiếm 73,6%.

    Trong năm 2021 có 35 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93,8% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 69,7%). Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực năm 2021 thuộc về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: Điện thoại các loại và linh kiện chiếm 99,3%; điện tử, máy tính và linh kiện chiếm 98,1%…

    Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2021, nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 89,2%, tăng 0,6 điểm phần trăm so với năm trước; nhóm hàng nông sản, lâm sản chiếm 7,1%, giảm 0,2 điểm phần trăm; nhóm hàng thủy sản chiếm 2,6%, giảm 0,4 điểm phần trăm…

    Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 11/2021 đạt 30,61 tỷ USD, cao hơn 810 triệu USD so với số ước tính. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12/2021 ước đạt 32 tỷ USD, tăng 4,5% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 10,9 tỷ USD, tăng 7,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 21,1 tỷ USD, tăng 3,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12 tăng 14,6%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 10,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17%.

    Trong quý IV/2021, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 89,07 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước và tăng 6,2% so với quý III/2021 (tăng 6,5% so với quý II/2021 và tăng 17,6% so với quý I/2021).

    Tính chung năm 2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 332,25 tỷ USD, tăng 26,5% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 114,07 tỷ USD, tăng 21,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 218,18 tỷ USD, tăng 29,1%.

    Trong năm 2021 có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu năm 2021, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm 93,5%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với năm trước, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 46,6%, giảm 2,1 điểm phần trăm; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 46,9%, tăng 2,3 điểm phần trăm. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng chiếm 6,5%, giảm 0,2 điểm phần trăm.

    Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2021, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 95,6 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 109,9 tỷ USD. Năm 2021 xuất siêu sang EU ước đạt 23 tỷ USD, tăng 12,1% so với năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 54 tỷ USD, tăng 53%…

    Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 11 xuất siêu 1,26 tỷ USD; 11 tháng xuất siêu 1,46 tỷ USD; tháng 12 ước tính xuất siêu 2,54 tỷ USD. Tính chung năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 4 tỷ USD (năm trước xuất siêu 19,94 tỷ USD). Trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 25,36 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 29,36 tỷ USD.

    Trong quý IV/2021, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 985 triệu USD, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm 2020 và tăng 9,2% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 5,1 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước và tăng 5,5% so với quý trước.

    Trong năm 2021, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 3,67 tỷ USD, giảm 51,7% so với năm 2020, trong đó dịch vụ du lịch đạt 149 triệu USD (chiếm 4,1% tổng kim ngạch), giảm 95,4%; dịch vụ vận tải đạt 446 triệu USD (chiếm 12,1%), giảm 61,4%.

    Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm nay ước đạt 19,41 tỷ USD, tăng 8,5% so với năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 9,99 tỷ USD (chiếm 51,5% tổng kim ngạch), tăng 34,2%; dịch vụ du lịch đạt 3,63 tỷ USD (chiếm 18,7%), giảm 21,3%. Nhập siêu dịch vụ năm 2021 là 15,73 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu là 8,24 tỷ USD)./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành năm 2021 tăng 3,2% so với năm 2020

    Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành năm 2021 tăng 3,2% so với năm 2020

    Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành năm 2021 tăng 3,2% so với năm 2020, tuy đây là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua nhưng là kết quả khả quan trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trong nước và trên thế giới. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phục hồi, vốn đăng ký mới và vốn đăng ký tăng thêm tăng trở lại cho thấy nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư Việt Nam.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Cụ thể, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý IV/2021 theo giá hiện hành ước tính đạt 999,8 nghìn tỷ đồng tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó vốn khu vực Nhà nước giảm 2,5%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 10,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4%.

    Ước tính năm 2021, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành đạt 2.891,9 nghìn tỷ đồng tăng 3,2% so với năm 2020, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 713,6 nghìn tỷ đồng chiếm 24,7% tổng vốn và giảm 2,9% so với năm 2020; khu vực ngoài Nhà nước đạt 1.720,2 nghìn tỷ đồng bằng 59,5% và tăng 7,2%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 458,1 nghìn tỷ đồng bằng 15,8% và giảm 1,1%.

    Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước năm 2021 ước tính đạt 423,6 nghìn tỷ đồng bằng 84,3% kế hoạch năm 2021 và giảm 8,6% so với năm 2020, gồm có: Vốn Trung ương quản lý đạt 72,4 nghìn tỷ đồng bằng 81,2% kế hoạch năm 2021 và giảm 8,2% so với năm 2020; vốn địa phương quản lý đạt 351,2 nghìn tỷ đồng bằng 85% và giảm 8,7%, trong đó vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 234,3 nghìn tỷ đồng bằng 80,9% và giảm 9,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 98,5 nghìn tỷ đồng bằng 92,4% và giảm 7,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 18,4 nghìn tỷ đồng bằng 108,9% và giảm 8,7%.

    Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 20/12/2021 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 31,15 tỷ USD tăng 9,2% so với năm 2020. Trong đó, vốn đăng ký cấp mới có 1.738 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 15,25 tỷ USD giảm 31,1% về số dự án và tăng 4,1% về số vốn đăng ký so với năm 2020; Vốn đăng ký điều chỉnh có 985 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 9,01 tỷ USD tăng 40,5% so với năm 2020; Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 3.797 lượt với tổng giá trị góp vốn 6,89 tỷ USD giảm 7,7% so cùng kỳ năm 2020.

    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2021, ước đạt 19,74 tỷ USD giảm 1,2% so với năm 2020. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 14,30 tỷ USD chiếm 72,5% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 2,63 tỷ USD chiếm 13,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 1,54 tỷ USD chiếm 7,8%./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Xu hướng sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và xây dựng quý IV năm 2021, dự báo quý I năm 2022

    Xu hướng sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và xây dựng quý IV năm 2021, dự báo quý I năm 2022

    Theo báo cáo xu hướng sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và xây dựng quý IV, dự báo quý I năm 2022 được Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố ngày 29/12/2021, điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh hàng quý bao gồm 6.500 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và 6.975 doanh nghiệp ngành xây dựng được chọn mẫu điều tra, đại diện cho toàn ngành chế biến, chế tạo và xây dựng của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Tổng số doanh nghiệp trả lời trong kỳ điều tra quý IV/2021 là 5.707 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 87,8% số doanh nghiệp được chọn mẫu điều tra) và 6.209 doanh nghiệp ngành xây dựng (chiếm 88,5% số doanh nghiệp được chọn mẫu điều tra).

    Báo cáo kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh gồm hai phần. Phần I: Xu hướng sản xuất kinh doanh (SXKD) ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, phản ánh nhận định của doanh nghiệp về tổng quan chung hoạt động SXKD; Biến động của các yếu tố đầu vào (số lượng đơn đặt hàng, lao động, chi phí sản xuất, công suất sử dụng máy móc, thiết bị); Dự kiến kết quả đầu ra (khối lượng sản xuất, giá bán bình quân của một sản phẩm) và Biến động tồn kho (tồn kho thành phẩm, tồn kho nguyên vật liệu).

    Phần II: Xu hướng SXKD ngành xây dựng, phản ánh nhận định của doanh nghiệp về tổng quan chung hoạt động SXKD; Biến động của các yếu tố đầu vào (lao động, tổng chi phí sản xuất, chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công); Hỗ trợ chính sách và tiếp cận vốn vay và kiến nghị của doanh nghiệp.

    Việc chuyển hướng phòng, chống dịch sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19” theo Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ đã có tác động tích cực tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể, có tới 75,1% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD quý IV/2021 so với quý III/2021 tốt lên và giữ ổn định (44,0% tốt lên và 31,1% giữ ổn định), chỉ còn 24,9% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn. Dự báo quý I/2022, tình hình tiếp tục khả quan hơn so với quý IV/2021 khi có tới 81,7% doanh nghiệp nhận định tình hình SXKD của doanh nghiệp tốt hơn và giữ ổn định (45,6% tốt hơn, 36,1% giữ ổn định), tỷ lệ doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn giảm xuống chỉ còn 18,3%.

    Trong quý IV/2021, mặc dù dịch Covid-19 vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp ở nhiều địa phương trên cả nước, hoạt động SXKD của các doanh nghiệp đã bắt đầu khởi sắc trở lại.

    Hoạt động SXKD của các doanh nghiệp xây dựng quý IV/2021 khả quan hơn quý III/2021 nhưng vẫn còn nhiều khó khăn hơn so với các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo. Có 52,4% doanh nghiệp nhận định tình hình SXKD quý IV/2021 khó khăn hơn quý III/2021, 25,8% số doanh nghiệp nhận định tình hình SXKD vẫn ổn định, chỉ có 21,8% số doanh nghiệp nhận định tình hình SXKD thuận lợi hơn. Dự báo quý I/2022 so với quý IV/2021, hoạt động SXKD của các doanh nghiệp xây dựng khả quan hơn với 21,3% doanh nghiệp dự báo hoạt động SXKD thuận lợi hơn, 27,7% nhận định giữ ổn định và 51,0% dự báo khó khăn hơn.

    Dịch Covid-19 đang dần được kiểm soát, nhiều giải pháp, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp cũng như các quy định, hướng dẫn thích ứng với tình hình mới được ban hành. Các doanh nghiệp xây dựng cũng đang dần khôi phục hoạt động SXKD. Việc đánh giá hoạt động SXKD của doanh nghiệp xây dựng có thể dựa trên các chỉ số cân bằng. Chỉ số cân bằng chung đánh giá tổng quan xu hướng SXKD của doanh nghiệp, các chỉ số cân bằng thành phần (chi phí sản xuất, sử dụng lao động) đánh giá về từng hoạt động SXKD cụ thể của các doanh nghiệp ngành xây dựng.

    Theo Báo cáo, mặc dù các biện pháp giãn cách xã hội trên phạm vi rộng đã được dỡ bỏ, chiến lược phòng, chống dịch được chuyển từ trạng thái “Zero-Covid” sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19” đã có tác động tích cực đối với hoạt động SXKD của doanh nghiệp, nhưng hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng vẫn còn rất nhiều khó khăn: thiếu lao động có tay nghề, thiếu vốn, giá nguyên vật liệu tăng cao gây bất lợi lớn cho doanh nghiệp do đã ký hợp đồng xây dựng tại thời điểm giá nguyên vật liệu chưa cao.

    Để các doanh nghiệp xây dựng có thể phục hồi và tiếp tục hoạt động SXKD trong thời gian tới, các nhà thầu xây dựng kiến nghị có các biện pháp nhanh chóng bình ổn giá nguyên vật liệu đầu vào cho ngành xây dựng; tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn bằng cách tiếp tục kéo dài thời gian giảm lãi suất vay ngân hàng, hỗ trợ vay ngân hàng lãi suất thấp; thủ tục vay vốn ngân hàng thuận lợi, nhanh chóng hơn.

    Đồng thời, tạo điều kiện đấu thầu mở rộng; đẩy mạnh công tác giải ngân đầu tư công đối với các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước để các công trình không bị gián đoạn thi công; gia hạn kiểm tra thuế để giảm bớt áp lực cho doanh nghiệp; miễn giảm thuế, phí, kéo dài thời gian nộp thuế, lệ phí; gia hạn, lùi thời gian nộp thuế cho doanh nghiệp; giảm mức tính lãi chậm nộp thuế cho doanh nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính công, đơn giản hóa thủ tục trình tự cấp giấp phép xây dựng để các công trình, dự án được thi công đúng tiến độ, tạo lập nhiều kênh thông tin để lắng nghe và chia sẻ, phản hồi lại các ý kiến của doanh nghiệp, tạo điều kiện tối đa để doanh nghiệp phát triển bền vững./.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Bắc Giang: Tôn vinh 27 trí thức tiêu biểu lần thứ nhất và Tài năng sáng tạo năm 2021

    Sáng ngày 21/12, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh, UBND tỉnh tổ chức Lễ tôn vinh trí thức Bắc Giang tiêu biểu lần thứ nhất và Tổng kết trao giải Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ 17 và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Bắc Giang lần thứ 9 năm 2021.

    Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Thị Thu Hồng và GS.TS. Dương Xuân Ngọc trao Bằng khen cho các nhóm tác giả
    đoạt giải Nhất Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Dự Lễ tôn vinh, về phía Trung ương có các đồng chí: Tiến sĩ khoa học Phan Xuân Dũng – Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật (KH&KT) Việt Nam; GS.TS. Dương Xuân Ngọc – Nguyên Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Chủ tịch Hội đồng hương, Chủ tịch Hội các nhà Khoa học Bắc Giang tại Hà Nội; Giáo sư, Phó Giáo sư là lãnh đạo Hội các nhà Khoa học Bắc Giang tại Hà Nội; đại diện Quỹ Vifotec Việt Nam.

    Về phía tỉnh Bắc Giang có các đồng chí: Lê Thị Thu Hồng – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Lê Ánh Dương – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Lâm Thị Hương Thành – Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy; đại diện lãnh đạo các Sở, ban, ngành tỉnh, UBND các huyện, thành phố và 27 trí thức được trao tặng danh hiệu Trí thức Bắc Giang tiêu biểu, 171 tác giả và cộng sự của 81 mô hình, sản phẩm, giải pháp kỹ thuật đoạt giải các Cuộc thi cấp tỉnh lần thứ 17 năm 2021, Hội thi sáng tạo kỹ thuật lần thứ 9 năm 2020-2021.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương phát biểu khai mạc buổi lễ. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Phát biểu khai mạc, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương cho biết, những năm qua, tỉnh Bắc Giang đã phát huy tốt tiềm năng, thế mạnh của địa phương, đạt nhiều thành tựu quan trọng, nổi bật trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Tăng trưởng kinh tế của tỉnh luôn nằm trong nhóm tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước; cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân có nhiều cải thiện; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố; hình ảnh vị thế của tỉnh ngày càng được khẳng định trên một tầm cao mới.

    Cùng với quan tâm, phát triển toàn diện các lĩnh vực KT-XH, tỉnh Bắc Giang đặc biệt chú trọng bồi dưỡng đội ngũ trí thức và nhân lực khoa học, công nghệ, là tỉnh đầu tiên trong cả nước ban hành Chiến lược phát triển đội ngũ trí thức. Đến nay, đội ngũ trí thức của tỉnh có hơn 110 nghìn người, chiếm 5,6% dân số, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự phát triển của tỉnh, đặc biệt là đã tích cực truyền bá tri thức, nâng cao trình độ dân trí, bồi dưỡng nhân tài và chất lượng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào đời sống và sản xuất, góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao thu nhập cho người dân, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của tỉnh.

    Nhằm khẳng định và ghi nhận đóng góp của đội ngũ trí thức, năm 2021, UBND tỉnh quyết định tổ chức Lễ tôn vinh Trí thức Bắc Giang tiêu biểu lần thứ nhất. Qua đây lựa chọn 27 trí thức quê hương Bắc Giang đang sinh sống, học tập ở trong và ngoài tỉnh, là những tấm gương sáng trong nghiên cứu khoa học, lao động sáng tạo, có những đóng góp to lớn, ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của ngành, lĩnh vực trong đời sống xã hội.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương và Tiến sĩ khoa học Phan Xuân Dũng trao Bằng khen và biểu trưng Trí thức Bắc Giang tiêu biểu cho ông Lê Văn Tưởng – nguyên Phó Chủ tịch Hội Cựu giáo chức tỉnh Bắc Giang. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Tại hội nghị, Ban Tổ chức (BTC) trao Bằng khen của UBND tỉnh, tiền thưởng và biểu trưng danh hiệu Trí thức Bắc Giang tiêu biểu cho 27 trí thức.

    Nhiều tấm gương tiêu biểu có đóng góp cho sự nghiệp phát triển KT-XH của tỉnh như: Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Nhân dân Ngô Quý Châu, Giám đốc chuyên môn Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Hà Nội; Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Bá Thịnh, Trưởng Bộ môn Xã hội học Gia đình và Giới Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; ông Lê Văn Tưởng – nguyên Phó Chủ tịch Hội Cựu giáo chức tỉnh Bắc Giang; Bác sĩ, thầy thuốc Nhân dân Ong Thế Viên – Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Đào tạo liên tục Tổng Hội Y học Việt Nam; Tiến sĩ Trần Thị Hà Phương – Tổ phó chuyên môn Tổ Toán – Tin, Trường THPT Chuyên Bắc Giang; Kỹ sư Đỗ Trung Kiên – Phó Trưởng Khoa Điện – Điện tử Trường Cao đẳng nghề Công nghệ Việt – Hàn Bắc Giang; Thạc sĩ Nguyễn Văn Hoạt – Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Giám đốc Công ty Cổ phần Giống cây trồng Bắc Giang.

    Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Lâm Thị Hương Thành và Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Trương Quang Hải
    trao thưởng cho nhóm tác giả đoạt giải Nhất Cuộc thi Sáng tạo Thanh, thiếu niên nhi đồng lần thứ 17. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Tại hội nghị, Ban Tổ chức trao giải Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ 17 gồm: 2 giải nhất, 4 giải nhì, 6 giải ba và 21 giải khuyến khích cho các tác giả, nhóm tác giả có sản phẩm tiêu biểu. Cuộc thi do Liên hiệp các hội KH&KT tỉnh chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn Thanh niên, các ngành liên quan tổ chức, tạo sân chơi trí tuệ hấp dẫn, thu hút thanh thiếu niên, nhi đồng tham gia.

    Năm nay, nhiều sản phẩm, mô hình có tính ứng dụng cao, góp phần nâng cao hiệu quả học tập, tăng năng suất lao động, hiệu quả quản lý Nhà nước. Ban Tổ chức trao Huy chương Vàng, Bạc, Đồng tương ứng với giải Nhất, Nhì, Ba kèm theo tiền thưởng và Giấy chứng nhận cho các tác giả, nhóm tác giả có sản phẩm đoạt giải.

    2 nhóm tác giả đoạt giải Nhất là: Dương Đình Phúc, Nguyễn Ngọc Linh – Trường THCS Hoàng Vân (Hiệp Hòa) với mô hình “Hệ thống giám sát và cảnh báo nhắc nhở từ xa cho xe đạp điện học sinh”. Nhóm tác giả đã tạo ra hệ thống giám sát và cảnh báo nhắc nhở cho xe đạp điện với các tính năng có thể kiểm soát được tốc độ, xác định được vị trí, tọa độ hiện tại của xe; cha mẹ và nhà trường có thể nhắc nhở học sinh qua hệ thống bằng giọng nói; hệ thống có thể lưu lại hành trình di chuyển, đo thân nhiệt của người sử dụng xe. Tiếp theo là nhóm tác giả: Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Đức Đạt – Trường THPT Yên Dũng số 1 với mô hình “Hệ thống tự làm sạch nước ao hồ trong lòng đô thị”. Xuất phát từ ý tưởng bảo vệ môi trường, nhóm tác giả đã nghiên cứu thiết kế mô hình hoạt động tự động nhờ năng lượng mặt trời, sử dụng lõi lọc từ các nguyên liệu dễ kiếm, rẻ tiền như rơm, than hoạt tính, không sử dụng hóa chất nên an toàn, thân thiện với môi trường. Hệ thống có thể hoạt động, di chuyển liên tục trên mặt hồ giúp tăng hiệu quả hoạt động. Mỗi nhóm tác giả được nhận Giấy khen, Huy chương Vàng, Giấy chứng nhận và tiền thưởng (12 triệu đồng).

    Ngay sau khi hoàn thành việc đánh giá mô hình, giải pháp Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Bắc Giang, Ban Tổ chức Cuộc thi đã đề cử 7 mô hình tham gia Cuộc thi toàn quốc. Kết quả có 2 mô hình đoạt giải, trong đó 1 giải Nhì, 1 giải Ba. Đó là nhóm tác giả: Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Đức Đạt và giáo viên hướng dẫn Trần Thị Hồng Gấm – Trường THPT Yên Dũng số 1 đoạt giải Nhì với mô hình “Hệ thống tự làm sạch nước ao hồ trong lòng đô thị”; nhóm tác giả Lê Quang Minh, Nguyễn Khánh Ngân và thầy giáo hướng dẫn Phạm Văn Quang – Trường THCS Lam Cốt (Tân Yên) đoạt giải Ba với mô hình “Máy hỗ trợ luyện tập đá cầu” được nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh và tiền thưởng. Ngoài ra, Hội Khuyến học tỉnh trao thưởng số tiền 1 triệu đồng cho mỗi nhóm tác giả đoạt giải.

    Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Thị Thu Hồng và GS.TS. Dương Xuân Ngọc trao giải Nhất
    cho tác giả Lê Công Tước – Giám đốc Bệnh viện Sản – Nhi Bắc Giang. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Cũng tại đây, Ban Tổ chức trao 5 giải Nhất, 10 giải Nhì, 14 giải Ba, 19 giải Khuyến khích Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh lần thứ 9 năm 2020-2021. Hội thi năm nay tổ chức ở các lĩnh vực gồm: Công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông; cơ khí, tự động hóa, giao thông, vận tải; nông, lâm, ngư nghiệp; tài nguyên và môi trường; y dược, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe; giáo dục và đào tạo; vật liệu, hóa chất và năng lượng.

    Giải Nhất thuộc về các tác giả: Lê Công Tước – Bệnh viện Sản – Nhi Bắc Giang với giải pháp “Đánh giá kết quả của các phương pháp phẫu thuật rau cài răng lược tại Bệnh viện Sản – Nhi Bắc Giang”; nhóm tác giả Bạch Đăng Khoa, Ngô Quốc Đường, Dương Trọng Phong, Đào Thị Minh Hải, Ngụy Thị Bình, Sở Giáo dục và Đào tạo với giải pháp “Ứng dụng nền tảng Microsoft Teams (office 365) chỉ đạo và thực hiện hiệu quả nhiệm vụ dạy và học trong giai đoạn học sinh không đến trường do dịch Covid-19”; nhóm tác giả Trương Quang Vinh, Thân Văn Đức, Trịnh Văn Ngọc, Nguyễn Ngọc Ân đến từ Viễn thông Bắc Giang với giải pháp “Bệnh án điện tử EMR”; nhóm tác giả Đỗ Trọng Tâm, Trần Đình Thiện, Hoàng Xuân Nhất, Công ty Cổ phần Cơ khí và Thương mại Hợp Tiến với giải pháp “Nghiên cứu, chế tạo và lắp đặt lò đốt rác thải sinh hoạt, không sử dụng nguyên liệu trong quá trình vận hành, đáp ứng quy chuẩn Việt Nam 16 năm 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường”; tác giả Lê Bá Kim, xã Phượng Sơn (Lục Ngạn) với giải pháp “Nhà lưới không nóc cho vườn Vải và quy trình kiểm soát sâu bệnh”.

    Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Trương Quang Hải đại diện Ban Tổ chức tặng Giấy khen cho các tập thể, cá nhân
    có thành tích trong công tác tuyên truyền, tổ chức cuộc thi, hội thi sáng tạo năm 2021. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Ngoài phần thưởng của Ban Tổ chức, các tác giả có các giải pháp đoạt giải Nhất, Nhì, Ba của Hội thi hiện đang sinh hoạt trong tổ chức Công đoàn sẽ được nhận Bằng Lao động Sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. 6 tập thể, 6 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác tuyên truyền, triển khai cuộc thi, hội thi sáng tạo năm 2021 được BTC tặng Giấy khen.

    Tại Lễ tôn vinh, Ban Tổ chức phát động Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh lần thứ 10 năm 2022-2023 và Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ 18 năm 2022./.

    Theo Bacgiang.gov.vn

  • Tọa đàm “Trí thức Bắc Giang – Khát vọng xây dựng đất nước hùng cường”

    Trong khuôn khổ của Lễ tôn vinh trí thức Bắc Giang tiêu biểu lần thứ nhất và tổng kết, trao giải Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ 17, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Bắc Giang lần thứ 9 năm 2020 – 2021, UBND tỉnh Bắc Giang đã tổ chức tọa đàm “Trí thức Bắc Giang – Khát vọng xây dựng đất nước hùng cường”.

    Tham gia tọa đàm có các đồng chí: Lê Ánh Dương – Chủ tịch UBND tỉnh; GS.TS.Dương Xuân Ngọc – Nguyên Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Chủ tịch Hội đồng hương, Chủ tịch Hội các nhà khoa học Bắc Giang tại Hà Nội; Tiến sĩ, bác sĩ Dương Thị Hiển – Trưởng Khoa xét nghiệm (Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh) và em Phạm Hồ Tùng Linh, lớp 12A4, Trường THPT Ngô Sĩ Liên (thành phố Bắc Giang).

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương mong muốn đội ngũ trí thức, các nhà khoa học của tỉnh cùng với tỉnh tham gia phát hiện,
    chọn lọc, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Mở đầu cuộc tọa đàm, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương thông tin nhanh về kết quả tỉnh Bắc Giang đạt được trong năm vừa qua. Đồng thời chỉ ra những giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh trong thời gian tới nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020-2025 đặt ra. Trong đó, tập trung đưa Bắc Giang phát triển nằm trong nhóm 15 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước về quy mô GRDP. Để thực hiện được mục tiêu đó, Bắc Giang cần tập trung 3 khâu đột phá gồm: Hoàn thiện, xây dựng thể chế, cơ chế chính sách của tỉnh; xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng; phát triển hạ tầng. 

    Trao đổi về các giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Bắc Giang, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương khẳng định tỉnh đã xây dựng Chiến lược phát triển đội ngũ trí thức của tỉnh đến năm 2030. Trong đó có nhiều giải pháp, giải pháp quan trọng nhất là phải tập hợp được đội ngũ trí thức ở trong và ngoài tỉnh. Xây dựng cơ chế vận hành hiệu quả để đội ngũ trí thức tiếp nhận được thông tin về chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh. Qua đó tham gia vào các khâu, từ khâu hoạch định chính sách, đến hoàn thiện thể chế, triển khai thực hiện và đánh giá. Phát huy hiệu quả chất xám của các nhà khoa học, trí thức để nâng tầm chính sách, công tác tổ chức thực hiện của địa phương. Thường xuyên mở các diễn đàn, tạo cơ hội để trí thức chia sẻ kinh nghiệm, từ đó bám sát thực tiễn, đề xuất nhiều giải pháp, ý tưởng góp phần giải quyết các vấn đề nóng, trọng tâm thực tiễn của tỉnh. Tôn vinh, trọng dụng trí thức, tạo điều kiện để trí thức có vai trò, vị trí, chỗ đứng và ngày càng đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của quê hương Bắc Giang. 

    Khẳng định quá trình hiện thực hóa mục tiêu phấn đấu đưa Bắc Giang nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước cũng là cơ hội cho các nhà khoa học, trí thức đóng góp vào sự phát triển của tỉnh. Đồng chí nêu rõ: Bắc Giang đang bước vào giai đoạn mới phát triển nhanh, bền vững. Đó là phát triển nhanh với tốc độ cao, gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh, phát triển bao trùm, không để người dân nào, địa phương nào khó khăn. Đồng chí kêu gọi các nhà khoa học, trí thức bám sát định hướng, chủ trương của tỉnh, những vấn đề thực tiễn và có đóng góp tích cực vào xây dựng thể chế, hoàn thiện cơ chế, chính sách của địa phương; trực tiếp tham gia tư vấn, phản biện chính sách của tỉnh. Đồng chí mong muốn đội ngũ trí thức, các nhà khoa học của tỉnh tích cực hơn trong việc cùng với tỉnh tham gia phát hiện, chọn lọc, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh.

    Chủ tịch UBND tỉnh tiếp tục gợi mở nội dung về chuyển đổi số và tin tưởng với sự hiểu biết, kinh nghiệm của các trí thức sẽ giúp tỉnh thực hiện thành công chuyển đổi số. Từ đó nâng tầm công tác quản lý, quản trị xã hội, sao cho cập được với trình độ tiên tiến, tỉnh sẽ phát triển toàn diện vững chắc.

    GS.TS. Dương Xuân Ngọc mong muốn kết nối các nhà khoa học người Bắc Giang ở trong và ngoài tỉnh 
    cùng hướng về xây dựng quê hương. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Vui mừng khi tỉnh đã xây dựng được Chiến lược phát triển trí thức Bắc Giang, GS.TS. Dương Xuân Ngọc chia sẻ, Hội các nhà khoa học Bắc Giang tại Hà Nội hiện có hơn 200 thành viên và luôn mong muốn tập hợp, kết nối các nhà khoa học người Bắc Giang ở trong và ngoài nước để cùng hướng về xây dựng quê hương. Đồng thời nhấn mạnh, trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3, đặc biệt là lần thứ 4, vai trò của khoa học công nghệ càng quan trọng. Xu hướng tới đây của Hội là tiếp tục mở rộng, kết nối các nhà khoa học. Tuy nhiên để kết nối được thì phải có 3 yếu tố đó là: Nhận thức đúng về vai trò đội ngũ trí thức, nhà khoa học; xây dựng cơ chế, thể chế, chính sách và tổ chức quản lý. 

    GS.TS. Dương Xuân Ngọc mong muốn UBND tỉnh Bắc Giang chủ trì, tổ chức kết nối nhà khoa học ở các vùng, miền, tạo cơ hội để các nhà khoa học, trí thức liên kết, chia sẻ kinh nghiệm.

    Tiến sĩ, Bác sĩ Dương Thị Hiển mong muốn lãnh đạo tỉnh quan tâm tạo môi trường làm việc thuận lợi,
    khuyến khích cho sự sáng tạo. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Là tác giả có nhiều giải pháp, công trình tham dự các hội thi và đạt giải cao, Tiến sĩ, Bác sĩ Dương Thị Hiển cho rằng bản thân khá may mắn khi tìm thấy niềm vui, sự yêu thích, đam mê trong công việc. Các công trình, giải pháp Tiến sĩ, Bác sĩ đề xuất đều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của đơn vị, ngành, địa phương, trên nền tảng nguồn lực có khả năng đáp ứng, từ đó tìm các biện pháp để triển khai, ứng dụng vào thực tiễn. 

    Bác sĩ Dương Thị Hiển cùng các đồng nghiệp mong muốn tạo ra những giải pháp hữu ích, hữu dụng, có giá trị thực tiễn để chủ động trong công tác kiểm soát bệnh tật, nâng cao năng lực cho đơn vị song cũng thẳng thắn chỉ ra những rào cản trong quá trình sáng tạo khoa học. Đó là thời gian và cơ chế, chính sách đầu tư y tế cơ sở, điều kiện hạ tầng, thiết bị còn nhiều hạn chế. Cùng với đó, mong muốn lãnh đạo tỉnh quan tâm tạo môi trường làm việc thuận lợi, khuyến khích cho sự sáng tạo. Đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị để có thể tiếp cận khoa học kỹ thuật tiên tiến. Phát triển thị trường khoa học công nghệ để sản phẩm sáng tạo của trí thức, Nhân dân tạo ra có thể thương mại hóa, từ đó có nguồn lực tái đầu tư. Tổ chức thường xuyên và nâng cao chất lượng hội thi sáng tạo kỹ thuật, giải thưởng khoa học công nghệ tỉnh. 

    Em Phạm Hồ Tùng Linh mong muốn ngày càng có nhiều câu lạc bộ, nhóm STEM tạo môi trường sáng tạo cho thế hệ trẻ
    phát huy sáng tạo khoa học. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Quá trình nghiên cứu, em Phạm Hồ Tùng Linh là học sinh lớp 12A4, Trường THTH Ngô Sĩ Liên với mô hình bàn tay cơ điện tử mô phỏng sinh học 3D (đoạt giải Nhì Cuộc thi sáng tạo Thanh thiếu niên, Nhi đồng lần thứ 17 năm 2021) mô hình được đánh giá cao về ý tưởng, có khả năng ứng dụng phục vụ học tập và lao động. Em Phạm Hồ Tùng Linh chia sẻ, em và các bạn được thầy cô hướng dẫn, tiếp cận với các tài liệu nước ngoài, qua đó nâng cao vốn ngoại ngữ và hoàn thành mô hình. Em mong muốn ngày càng có nhiều câu lạc bộ, tổ, nhóm STEM trên địa bàn thành phố để tạo môi trường giao lưu, học hỏi; có cơ hội tiếp xúc với các thầy cô, chuyên gia ở các lĩnh vực và các nguồn tài liệu tin cậy để có thể khơi dậy sức sáng tạo và sự cống hiến của thế hệ trẻ để có thêm nhiều sản phẩm mô hình có giá trị để đóng góp cho học tập và xã hội…/.

    Theo Bacgiang.gov.vn

  • Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương kiểm tra công tác phòng, chống dịch tại một số xã trên địa bàn huyện Việt Yên

    Chiều ngày 27/12, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương – Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo (BCĐ) Phòng, chống dịch (PCD) Covid-19 tỉnh, Chỉ huy trưởng Trung tâm Chỉ huy PCD Covid-19 tỉnh kiểm tra công tác PCD Covid-19 tại các xã: Tiên Sơn, Quang Châu (huyện Việt Yên). Cùng đi có lãnh đạo: Sở Y tế, Văn phòng UBND tỉnh, Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh, huyện Việt Yên.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương kiểm tra công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại chốt kiểm soát dịch xã Tiên Sơn (Việt Yên).
    Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Tại buổi kiểm tra, Ban Chỉ đạo PCD Covid-19 các xã: Tiên Sơn, Quang Châu đã báo cáo về tình hình dịch bệnh trên địa bàn. Theo đó, từ ngày 24/12 đến nay, xã Tiên Sơn ghi nhận 21 F0, thuộc 10 gia đình ở 3 thôn (Phú Tài, Hạ Lát, Lương Viên). Qua truy vết, có 274 trường hợp F1; 945 trường hợp F2. Những người mắc Covid-19 chủ yếu liên quan đến xưởng làm tóc giả T-N ở thôn Lương Viên (chủ hộ thường xuyên đi lấy hàng tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh). Tại xã Quang Châu có 5 trường hợp dương tính ở thôn Quang Biểu, trong đó ca bệnh khởi phát là anh N.V.N lái xe đường dài. 

    Qua điều tra truy vết, BCĐ xã xác định đây là chùm ca bệnh có tính chất phức tạp và tiềm ẩn nguy cơ lây lan cộng đồng cao. Ngay sau khi có thông tin BCĐ PCD Covid-19 huyện và các xã khẩn trương tổ chức điều tra, truy vết, xét nghiệm, khoanh vùng trọng điểm có nguy cơ cao và tổ chức xét nghiệm. Đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ngăn chặn dịch xâm nhập từ bên ngoài, phòng ngừa dịch lây lan bên trong. Nhanh chóng phong tỏa và thiết lập vùng cách ly đối với toàn bộ xã Tiên Sơn và thôn Quang Biểu, xã Quang Châu. 

    Nhân viên y tế lấy mẫu xét nghiệm cho người dân thôn Quang Biểu, xã Quang Châu. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Đồng thời, triển khai đợt cao điểm tầm soát mở rộng trong cộng đồng đối với toàn bộ người dân xã Tiên Sơn và thôn Quang Biểu, xã Quang Châu. Thành lập các chốt kiểm soát tại các khu vực phong tỏa. Tiếp tục quản lý chặt chẽ người đến/về từ vùng dịch, nhất là những địa bàn giáp ranh đang có quyết định cách ly y tế. 

    BCĐ PCD Covid-19 huyện Việt Yên cho biết, số F1 tiếp xúc với các F0 chủ yếu là người trong gia đình; các biện pháp chỉ đạo truy vết, khoanh vùng, cách ly được thực hiện kịp thời, xác định được nguồn lây các ổ dịch. Dự báo tình hình dịch sẽ nhanh chóng được kiểm soát.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương kiểm tra thực tế công tác phòng, chống dịch tại thôn Quang Biểu, xã Quang Châu.
    Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Qua kiểm tra thực tế, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương đánh giá cao sự chủ động của Ban Chỉ đạo PCD xã Tiên Sơn, xã Quang Châu và huyện Việt Yên. Đồng chí đề nghị các xã cần làm nghiêm, quản lý chặt địa bàn, biến động dân cư, những trường hợp có yếu tố dịch tễ và khu vực phong tỏa. 

    Khi có kết quả xét nghiệm tầm soát lần tiếp theo, đánh giá nguy cơ để từng bước gỡ bỏ phong tỏa với các thôn không phát sinh ca bệnh cộng đồng. Xã Tiên Sơn cần xây dựng phương án hỗ trợ người dân thu hoạch nông sản song vẫn bảo đảm PCD. BCĐ PCD các xã và huyện Việt Yên cần tăng cường công tác quản lý đối tượng ho, sốt ở cộng đồng, người đi/về từ vùng dịch. Đồng thời yêu cầu Tổ Covid-19 cộng đồng lập danh sách các hộ gia đình có người thường xuyên ra ngoài tỉnh. Khi về yêu cầu người dân phải ra trung tâm y tế khai báo và test 3 ngày/1 lần, đồng thời quản lý chặt các đối tượng này.

    Cùng với đó, đẩy mạnh tuyên truyền để Nhân dân có thông tin về tình hình dịch bệnh, tuyệt đối không chủ quan, lơ là; nâng cao ý thức và cách thức PCD cho người dân, đặc biệt tập trung vào nhóm người thường xuyên phải đi ra ngoài tỉnh hoặc từ vùng dịch trở về. Đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định PCD./.

    Theo Bacgiang.gov.vn