Danh mục: Tin tức sự kiện

  • Đại hội Hội hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản tỉnh Bắc Giang lần thứ I, nhiệm kỳ 2021-2026

    Ngày 28/12, Hội hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản tỉnh Bắc Giang tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2021-2026.

    Đến dự và chúc mừng Đại hội có các đồng chí: Phan Thế Tuấn – Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Trần Công Thắng – Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh; Phạm Văn Thịnh – Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đơn vị; lãnh đạo các doanh nghiệp tiêu biểu trong tỉnh và 66 đại biểu đại diện cho gần 170 hội viên Hội hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản tỉnh Bắc Giang.

     Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn tặng hoa chúc mừng Đại hội. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có 27 doanh nghiệp Nhật Bản đang đầu tư với tổng vốn đăng ký trên 270 triệu USD. Nhật Bản hiện là nước thứ 4 về số dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh và đứng thứ 6 về tổng vốn đăng ký trong tổng số hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Bắc Giang. Tỉnh Bắc Giang hiện có khoảng 3.000 người đang làm việc tại Nhật Bản; số lượng du học sinh tỉnh Bắc Giang đang học tập tại Nhật Bản là hơn 135 học sinh. Đặc biệt, năm 2021, Trường THPT Chuyên Bắc Giang đã mở thêm lớp chuyên tiếng Nhật Bản.

    Điểm nổi bật trong quan hệ hợp tác Bắc Giang – Nhật Bản là năm 2020 Nhật Bản đã cấp Bảo hộ chỉ dẫn địa lý vải thiều Lục Ngạn tại Nhật Bản, lần đầu tiên trái vải thiều tươi của tỉnh Bắc Giang xuất khẩu sang Nhật Bản, đây là thị trường mới, là cơ hội để vải thiều Bắc Giang mở rộng xuất khẩu.

    Cùng đó, năm 2021, tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện dự án xây dựng cầu Bến Mộng tại xã Lục Sơn, huyện Lục Nam do Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam viện trợ và tiếp nhận một số dự án tài trợ khác trong khuôn khổ chương trình tín dụng chuyên ngành.

    Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy Phạm Văn Thịnh phát biểu tại Đại hội. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Để chủ động và nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại, giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về đất nước và con người Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng, ngày 26/02/2021, Ban Vận động Hội Hữu nghị được thành lập theo Quyết định số 20/QĐ-SNgV của Sở Ngoại vụ gồm 15 thành viên để tuyên truyền, vận động tập hợp, đoàn kết hội viên tham gia. Đến nay, đã vận động được 163 hội viên chính thức; 03 hội viên danh dự và 12 hội viên liên kết đang công tác học tập, lao động, làm việc trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và đủ điều kiện Đại hội.

    Với phương châm “Chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả”, Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2021 – 2026 của Hội Hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản tỉnh Bắc Giang đã thông qua Dự thảo Điều lệ Hội khóa I, nhiệm kỳ 2021 – 2026. Đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong nhiệm kỳ mới; từng bước đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động Hội trong lĩnh vực hòa bình, đoàn kết, hữu nghị; góp phần thực hiện có hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong giai đoạn mới.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn phát biểu chỉ đạo tại Đại hội. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn nhấn mạnh, việc thành lập Hội hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản tỉnh Bắc Giang là rất cần thiết nhằm phát huy quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước Bắc Giang – Nhật Bản, góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Đồng thời thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam với Nhật Bản nói chung và Bắc Giang với các đối tác Nhật Bản nói riêng vì mục tiêu phát triển KT-XH của tỉnh Bắc Giang.

    Nhằm từng bước đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động Hội trong lĩnh vực hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn đề nghị Hội hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại Nhân dân, chủ động phối hợp với chính quyền các cấp và các cơ quan truyền thông đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến hội viên và các tầng lớp Nhân dân về chủ trương đối ngoại của Đảng, chính sách ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân nói chung.  

    Tập trung tuyên truyền quê hương, con người Bắc Giang với bạn bè quốc tế nói chung và Nhân dân Nhật Bản nói riêng về tiềm năng, thế mạnh, cơ chế, chính sách, định hướng phát triển của tỉnh tới các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và địa phương Nhật Bản nhằm tăng cường hiểu biết của Nhật Bản về tỉnh, củng cố và phát triển quan hệ kinh tế, văn hóa giữa hai bên.

    Tập trung xây dựng tổ chức Hội và hoạt động của các chi hội, đảm bảo hoạt động có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, xây dựng và mở rộng các chi hội, hội viên. Qua đó, làm cầu nối hữu nghị liên kết giữa Nhân dân Bắc Giang với các địa phương, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp của Nhật Bản. Mở rộng quan hệ trong công tác đối ngoại Nhân dân, tăng cường hợp tác chặt chẽ với các đối tác, các tổ chức thành viên có quan hệ hợp tác với đối tác Nhật Bản để giao lưu về văn hóa, xã hội và hợp tác kinh tế.

    Ban Chấp hành Hội hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản tỉnh Bắc Giang lần thứ I, nhiệm kỳ 2021-2026 ra mắt Đại hội.
    Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Tích cực tham gia thực hiện các nhiệm vụ trong quan hệ hợp tác giữa tỉnh với Nhật Bản, trong đó tập trung vào các nội dung như giúp đỡ mở lớp đào tạo tiếng Nhật Bản cho học sinh Trường THPT Chuyên Bắc Giang, các trường dạy nghề của tỉnh; giới thiệu các nhà đầu tư Nhật Bản đến với Bắc Giang.

    Tiếp tục phát huy tinh thần đại đoàn kết, hăng hái thi đua, chung sức, đồng lòng cùng cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, tạo tiền đề cho những năm tiếp theo xây dựng Bắc Giang ngày càng giàu mạnh, văn minh.

    Đại hội đã bầu 17 hội viên vào Ban Chấp hành Hội hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản tỉnh Bắc Giang lần thứ I, nhiệm kỳ 2021-2026; đồng chí  Phạm Văn Thịnh – Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy được bầu Chủ tịch Hội khóa I, nhiệm kỳ 2021-2026./.

    Theo Bacgiang.gov.vn

  • Bắc Giang: Nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong phục vụ người dân, doanh nghiệp

    Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Công văn số 6896/UBND-NC về việc nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong phục vụ người dân, doanh nghiệp.

    Tập trung thực hiện đồng bộ các biện pháp nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, hướng đến xây dựng
    nền hành chính thân thiện, phục vụ, hiện đại và hiệu quả. Ảnh minh họa: BGP/Dương Thủy

    Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, UBND huyện, thành phố tổ chức tự kiểm điểm, đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành của cơ quan, đơn vị mình thời gian qua nhất là trong thực thi nhiệm vụ cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Tiếp tục tập trung thực hiện đồng bộ các biện pháp nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính (TTHC), hướng đến xây dựng nền hành chính thân thiện, phục vụ, hiện đại và hiệu quả. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin để giải quyết TTHC; thực hiện công khai, minh bạch quá trình giải quyết TTHC trên mạng Internet để Nhân dân giám sát.

    Sắp xếp, bố trí cán bộ trực đầy đủ tại Bộ phận Một cửa đảm bảo có người thay thế khi có công chức nghỉ hoặc đi học để tiếp nhận hồ sơ của tổ chức, cá nhân; không để tình trạng quá tải, thiếu nhân lực, gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân trong thực hiện TTHC tại Bộ phận Một cửa cấp huyện, cấp xã; không để xảy ra tình trạng người dân phản ánh việc không có công chức trực giải quyết TTHC tại Bộ phận Một cửa.

    Chỉ đạo công chức, viên chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định về tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả theo quy định tại Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018, Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06/12/2021 của Chính phủ và nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị; xây dựng tác phong lịch sự, thân thiện, gần gũi khi tiếp xúc, làm việc với người dân, doanh nghiệp; xử lý công việc thành thạo, chuyên nghiệp, hướng dẫn tận tình, chu đáo người dân, doanh nghiệp đến thực hiện các TTHC. Nghiêm cấm hành vi phiền hà, sách nhiễu, vòi vĩnh người dân và doanh nghiệp.

    Chủ tịch giao Sở Nội vụ tăng cường kiểm tra, thanh tra công vụ việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của công chức, viên chức bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Xử lý và kiến nghị thay thế, điều chuyển công tác những cán bộ không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, có biểu hiện gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong tiếp nhận, giải quyết TTHC cho người dân, doanh nghiệp.

    Giao Văn phòng UBND tỉnh chủ trì, phối hợp Sở Nội vụ và các cơ quan có liên quan rà soát, xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của công chức, viên chức làm việc tại Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh và Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các cơ quan nhà nước. Thời gian hoàn thành trong Quý I/2022.

    Báo Bắc Giang, Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền để người dân, doanh nghiệp tiếp cận thông tin, nâng cao nhận thức về quyền và trách nhiệm trong giám sát việc giải quyết TTHC. Đồng thời phản ánh hạn chế, yếu kém của công chức, viên chức trong thực thi công vụ. Công khai, minh bạch kết quả xử lý, giải quyết những phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp.

    Theo Bacgiang.gov.vn

  • Phê duyệt Đề án tuyên truyền, vận động, hướng dẫn hội viên phụ nữ thực hiện thu gom, phân loại thải sinh hoạt

    UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Quyết định phê duyệt Đề án tuyên truyền, vận động, hướng dẫn hội viên phụ nữ thực hiện thu gom, phân loại, đổ rác thải sinh hoạt đúng quy định trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2021-2025.

    Ảnh minh họa (nguồn Internet)

    Theo đó, mục tiêu của Đề án đến năm 2025 phấn đấu từ 90% hộ gia đình trở lên có hội viên Hội phụ nữ được tiếp cận những kiến thức cơ bản về bảo vệ môi trường và được ký cam kết vệ sinh môi trường; thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt, đổ rác đúng nơi quy định. Từ 80% trở lên cơ sở Hội xây dựng ít nhất 01 phong trào/mô hình về thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường; thu gom, phân loại, vứt đổ rác thải đúng quy định phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

    Đề án được triển khai đến các tổ chức Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp; cán bộ, hội viên phụ nữ tại các địa phương trong tỉnh với tổng kinh phí khoảng 16,940 tỷ đồng, trong đó ngân sách cấp tỉnh khoảng 6,390 tỷ đồng, ngân sách cấp huyện khoảng 10,550 tỷ đồng.

    UBND tỉnh giao cho Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh chủ trì phối hợp với các ngành liên quan và các huyện, thành phố tổ chức triển khai chỉ đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ các huyện, thành phố lựa chọn xây dựng xã điểm để thực hiện Đề án. Tuyên truyền, vận động các nguồn lực, phát huy nội lực của tổ chức Hội trong triển khai thực hiện Đề án lồng ghép với các hoạt động, chương trình, đề án khác do Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh quản lý, góp phần thực hiện mục tiêu Đề án gắn với thực hiện nhiệm vụ công tác Hội; hạn chế thải rác ra môi trường; khuyến khích sử dụng các sản phẩm, bao bì tự hủy, thân thiện với môi trường.

    Tổ chức phát động chiến dịch vệ sinh môi trường, thu gom, phân loại rác thải tại hộ gia đình; xây dựng sổ tay hướng dẫn hội viên phụ nữ thực hiện thu gom, phân loại, xử lý rác thải tại hộ gia đình, đổ rác thải sinh hoạt đúng quy định… Tổ chức tập huấn trang bị kiến thức bảo vệ môi trường, hướng dẫn, vận động gia đình hội viên phụ nữ thực hiện thu gom rác thải sinh hoạt hằng ngày, phân loại rác, tự xử lý rác hữu cơ (trong điều kiện cho phép), đổ rác thải đúng quy định.

    Đề nghị Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tỉnh tăng cường phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, chính quyền các cấp thực hiện công tác tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên và Nhân dân nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường; tác hại của ô nhiễm môi trường, việc sử dụng túi nilon và các sản phẩm nhựa dùng một lần; tham gia tích cực các phong trào vì môi trường và các đợt tổ chức ra quân vệ sinh môi trường, thu gom rác thải, phân loại rác thải nhựa và túi nilon, đổ rác đúng quy định tại các khu dân cư và các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn.

    UBND các huyện, thành phố chủ động xây dựng kế hoạch, bố trí ngân sách địa phương bảo đảm cho việc thực hiện các hoạt động của Đề án có hiệu quả. Chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương tích cực phối hợp với tổ chức Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh cùng cấp triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án.

    Theo Bacgiang.gov.vn

  • Tập trung cao bồi thường giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ dự án Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử

    Chiều ngày 29/12, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn – Trưởng Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án xây dựng Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử tổ chức họp kiểm điểm tiến độ thực hiện Dự án Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử. Cùng dự có đại diện lãnh đạo một số sở, ban, ngành, huyện Sơn Động, Công ty Cổ phần dịch vụ Tây Yên Tử.

    Các đại biểu nghe đại diện Công ty Cổ phần dịch vụ Tây Yên Tử đề xuất ý tưởng. Ảnh: BGP/Diệu Hoa

    Dự án Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử có tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng hơn 1.480 tỷ đồng chia làm 3 giai đoạn triển khai trên diện tích đất 136,36 ha thuộc thị trấn Tây Yên Tử, huyện Sơn Động. Dự án đã hoàn thành giai đoạn 1 đưa vào hoạt động, hiện đang tiến hành GPMB và thuê đất giai đoạn 2 và 3. Tính đến hết ngày 24/12/2021, UBND huyện Sơn Động đã phê duyệt 17 phương án bồi thường, GPMB với tổng diện tích 87,6/113,82 ha, bằng 76,9% diện tích phải thu hồi với tổng số tiền bồi thường là trên 180 tỷ đồng. Diện tích đất còn lại là 26,2 ha, trong đó có 9,48 ha phải lập phương án thu hồi, huyện đã thực hiện xong việc điều chỉnh các quyết định của phương án 8 với 6 hộ có diện tích 3,84 ha. Hiện nay, huyện tập trung cao để lập phương án 18 thu hồi 3,87 ha với 26 hộ xong trước ngày 31/12/2021, tiến hành niêm yết phương án và trả tiền cho 26 hộ này trong tháng 01/2021, đồng thời hoàn thiện hồ sơ một số hộ không chấp hành để cưỡng chễ và bàn giao toàn bộ mặt bằng còn lại cho Công ty cổ phần dịch vụ Tây Yên Tử.

    Về phía Công ty cũng đảm bảo tiến độ chi trả, tiền bồi thường GPMB, đồng thời đang tiến hành nghiên cứu lại về ý tưởng quy hoạch mới, các công trình trọng điểm của dự án đang được tập trung xây dựng, công trình nhà Tổ – Chùa Hạ sẽ tổ chức thượng lương vào dịp khai Hội Xuân và khánh thành vào lễ Phật Đản năm 2022; công trình Gác Chuông sẽ cố gắng hoàn thiện và khai trương vào dịp khai Hội Xuân 2023.

    Tại buổi làm việc, các đại biểu tập trung thảo luận, làm rõ một số vấn đề về diện tích đất chồng lấn, tái định cư cho người dân có diện tích đất bị thu hồi;…

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn phát biểu kết luận buổi làm việc. Ảnh: BGP/Diệu Hoa

    Phát biểu kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn đề nghị Ban Chỉ đạo nhanh chóng kiện toàn lại, đồng thời tập trung cao cho công tác bồi thường GPMB với phương án 18 phải phê duyệt xong trước ngày 31/12/2021 và trả tiền xong trước Tết Nguyên đán 2022. Đối với hộ còn xót lại của phương án 16 cũng tập trung giải quyết xong trước Tết.

    Đồng chí cơ bản nhất trí với hướng điều chỉnh quy hoạch mà chủ đầu tư đề xuất, đồng thời yêu cầu chủ đầu tư chuẩn bị đầy đủ văn bản, báo cáo giải trình điều chỉnh quy hoạch, đến tháng 5/2022 hoàn thành trình điều chỉnh quy hoạch.

    Đồng chí yêu cầu huyện Sơn Động nghiên cứu, điều chỉnh quy hoạch khu dân cư; Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với đơn vị tư vấn rà soát lại quá trình sử dụng đất; huyện Sơn Động làm đầu mối để tổng hợp các nhiệm vụ cho báo cáo triển khai dự án./.

    Theo Bacgiang.gov.vn

  • Bắc Giang: Thêm 10 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao

    Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành các Quyết định công nhận các xã đạt chuẩn nông thôn mới và nông thôn mới nâng cao năm 2021.

    Ảnh minh họa: BGP/Nguyễn Miền

    Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh công nhận thêm 05 xã đạt chuẩn nông thôn mới gồm: Long Sơn (huyện Sơn Động); Hồng Kỳ (huyện Yên Thế); Kiên Thành, Trù Hựu, Nam Dương (huyện Lục Ngạn) và 05 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao gồm: Quý Sơn (huyện Lục Ngạn); Đồng Tâm (huyện Yên Thế); Hợp Đức (huyện Tân Yên); Hồng Thái, Tăng Tiến (huyện Việt Yên).

    Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện có các xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao có trách nhiệm tiếp tục chỉ đạo, tổ chức thực hiện duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao; hướng tới các tiêu chí nông thôn mới nâng cao và nông thôn mới kiểu mẫu trong thời gian tới.

    Như vậy, đến hết năm 2021, toàn tỉnh có thêm 15 xã nông thôn mới (vượt 01 xã so với kế hoạch giao), 17 xã nông thôn mới nâng cao, 74 thôn nông thôn mới kiểu mẫu. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 138/184 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 23/184 xã nông thôn mới nâng cao, 146 thôn nông thôn mới kiểu mẫu và thêm 03 huyện đạt chuẩn nông thôn mới, vượt 02 huyện so với kế hoạch. Với kết quả đạt được, Bắc Giang là tỉnh đứng đầu khu vực miền núi phía Bắc về xây dựng nông thôn mới./.

    Theo Bacgiang.gov.vn

  • Năm 2021 chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,84% so với năm 2020, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016

    Năm 2021 chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,84% so với năm 2020, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016

    Theo Báo cáo số 282/BC-TCTK ngày 29/12/2021 của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2021 giảm 0,18% so với tháng 11/2021 và tăng 1,81% so với tháng 12/2020. Bình quân năm 2021, CPI tăng 1,84% so với năm 2020, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016. Lạm phát cơ bản 12 tháng tăng 0,81%.

    Ảnh minh họa. Nguồn: MPI

    Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có 7 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 4 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.

    Cụ thể, 7 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm: Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép có mức tăng cao nhất với 0,22% do trong tháng có nhiều cửa hàng, siêu thị đã kết thúc các chương trình khuyến mãi giảm giá, cùng với đó nhu cầu mua sắm quần áo mùa Giáng sinh, Tết Dương lịch nên các cửa hàng tăng giá bán. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,2%, do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng vào thời điểm cuối năm và giá đô la Mỹ tăng.

    Tiếp đến là các nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình; hàng ăn và dịch vụ ăn uống; văn hóa, giải trí và du lịch; thuốc và dịch vụ y tế; hàng hóa và dịch vụ khác lần lượt tăng là 0,17%; 0,17%; 0,05%; 0,02% và 0,14%.

    4 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: Nhóm giao thông có mức giảm nhiều nhất với 1,71% nguyên nhân là do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu vào ngày 25/11/2021, 10/12/2021 và 25/12/2021 nên chỉ số giá xăng tháng 12/2021 giảm 4,67%, giá dầu diezen giảm 5,05%. Bên cạnh đó, chỉ số giá nhóm phụ tùng tăng 0,17%; dịch vụ khác đối với phương tiện vận tải cá nhân tăng 0,12%; dịch vụ giao thông công cộng tăng 0,53%.

    Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,45% chủ yếu do giá gas giảm 4,94%; giá dầu hỏa giảm 5,2%; giá nước và điện sinh hoạt giảm lần lượt là 0,73% và 0,76% do một số địa phương hỗ trợ tiền sử dụng nước và nhu cầu tiêu dùng giảm khi thời tiết mát mẻ. Bên cạnh đó, giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,46%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,57% (làm CPI chung tăng 0,01 điểm phần trăm) do giá sắt thép, xi măng tăng và nhu cầu sửa chữa, bảo dưỡng nhà ở tăng vào dịp cuối năm. Tiếp đến là nhóm giáo dục giảm 0,43% và nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,01%.

    CPI quý IV/2021 giảm 0,38% so với quý III/2021 và tăng 1,89% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó: Giao thông tăng 17,66% so với cùng kỳ năm 2020; đồ uống và thuốc lá tăng 2,36%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,19%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,98%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,95%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,22%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,19%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,36%. Có 3 nhóm có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ năm 2020 là giáo dục giảm 2,91%; bưu chính viễn thông giảm 0,78%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,35%.

    CPI bình quân năm 2021 tăng 1,84% so với bình quân năm 2020, đây là mức tăng bình quân năm thấp nhất kể từ năm 2016. Nguyên nhân CPI bình quân năm 2021 tăng chủ yếu là do giá xăng dầu trong nước tăng 31,74% so với năm 2020 (làm CPI chung tăng 1,14 điểm phần trăm), giá gas tăng 25,89% (làm CPI chung tăng 0,38 điểm phần trăm). Giá gạo tăng 5,79% so với năm 2020 (làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm) do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu, nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon tăng trong dịp Lễ, Tết và nhu cầu tích lũy của người dân trong thời gian giãn cách xã hội. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 7,03% so với năm 2020 do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào (làm CPI chung tăng 0,14 điểm phần trăm). Giá dịch vụ giáo dục tăng 1,87% so với năm 2020 (làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm) do ảnh hưởng từ đợt tăng học phí năm học mới 2020-2021 theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ.

    Một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI năm 2021 là do giá các mặt hàng thực phẩm giảm 0,54% so với năm trước (làm CPI chung giảm 0,12 điểm phần trăm). Năm 2021, Chính phủ tiếp tục triển khai các gói hỗ trợ cho người dân và người sản xuất gặp khó khăn do dịch Covid-19 như gói hỗ trợ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã giảm giá điện, tiền điện cho khách hàng trong quý IV/2020 nhưng được thực hiện vào tháng 01/2021 và giảm giá điện, tiền điện cho người dân tại các địa phương thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 tại kỳ hóa đơn tháng 8, 9/2021 nên giá điện sinh hoạt bình quân năm 2021 giảm 0,89% so với năm 2020 (làm CPI chung giảm 0,03 điểm phần trăm). Nhu cầu đi lại, du lịch của người dân giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm giá vé máy bay giảm 21,15% so với năm trước; giá du lịch trọn gói giảm 2,32%. Các cấp, các ngành dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ đã tích cực triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để ngăn chặn diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 và ổn định giá cả thị trường.

    Lạm phát cơ bản tháng 12/2021 tăng 0,16% so với tháng 11/2021 tăng 0,67% so với cùng kỳ năm 2020. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2021 tăng 0,81% so với bình quân năm 2020.

    Giá vàng trong nước biến động trái chiều với giá vàng thế giới. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 25/12/2021 giảm 1,8% so với tháng 11/2021 do đồng đô la và lợi suất trái phiếu Mỹ tăng theo kỳ vọng lãi suất Mỹ năm sau tăng lên. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 12/2021 tăng 0,25% so với tháng 11/2021 tăng 1% so với tháng 12/2020 và bình quân năm 2021 tăng 8,67% so với năm 2020.

    Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tăng trong bối cảnh lạm phát Mỹ tăng cao, do các nhà đầu tư có động thái rút khỏi những loại tiền tệ rủi ro hơn sau khi các ngân hàng trung ương đưa ra quyết định về việc tăng lãi suất cũng như lo ngại khả năng lây lan của biến chủng Omicron. Trong nước, do nhu cầu mua ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu tăng làm chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2021 tăng 0,84% so với tháng 11/2021 giảm 0,58% so với tháng 12/2020 và bình quân năm 2021 giảm 0,97% so với năm 2020./.

                                                                                                                                                               Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2021

    Tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2021

     Sáng ngày 29/12/2021, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội quý IV và năm 2021.

     

    Toàn cảnh Họp báo. Ảnh: MPI

    Theobáo cáo, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2021 ước tính tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước do dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là trong quý III/2021 nhiều địa phương kinh tế trọng điểm phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài để phòng chống dịch bệnh, đây là một thành công lớn của nước ta trong việc phòng chống dịch bệnh, duy trì sản xuất kinh doanh.

    GDP quý IV/2021 ước tính tăng 5,22% so với cùng kỳ năm trước, tuy cao hơn tốc độ tăng 4,61% của năm 2020 nhưng thấp hơn tốc độ tăng của quý IV các năm 2011-2019. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,16%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,61%; khu vực dịch vụ tăng 5,42%. Về sử dụng GDP quý IV/2021, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,86% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 3,37%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,28%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 11,36%.

    Ước tính GDP năm 2021 tăng 2,58% (quý I tăng 4,72%; quý II tăng 6,73%; quý III giảm 6,02%; quý IV tăng 5,22%). Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,9%, đóng góp 13,97% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,05%, đóng góp 63,80%; khu vực dịch vụ tăng 1,22%, đóng góp 22,23%.

    Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất cây trồng và chăn nuôi đạt khá. Tuy nhiên, do đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội kéo dài làm ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng sản xuất – chế biến – tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản. Trước những thuận lợi và khó khăn đan xen, ngành Nông nghiệp có nhiều giải pháp ứng phó kịp thời cùng với việc thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ để ổn định và phát triển sản xuất, đạt mức tăng trưởng cao. Kết quả hoạt động năm 2021 của ngành Nông nghiệp đã thể hiện rõ vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, là cơ sở quan trọng để thực hiện an sinh, an dân trong đại dịch.

    Sản xuất công nghiệp trong quý IV/2021 khởi sắc ngay sau khi các địa phương trên cả nước thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ với tốc độ tăng giá trị tăng thêm đạt 6,52% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 4,82% so với năm 2020, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,37%.

    Tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường trong năm 2021 đạt gần 160 nghìn doanh nghiệp, giảm 10,7% so với năm 2020; 119,8 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 17,8%, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp thành lập dưới 5 năm, quy mô vốn nhỏ.

    Việc ban hành và triển khai kịp thời Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 đã góp phần quan trọng trong khôi phục sản xuất và thúc đẩy thị trường, từng bước tạo niềm tin cho các doanh nghiệp. Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý I/2022 với 81,7% doanh nghiệp đánh giá sẽ ổn định và tốt hơn so với quý IV/2021.

    Thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ, hoạt động thương mại, vận tải trong nước, khách du lịch quốc tế dần khôi phục trở lại. Quý IV/2021 so với quý III/2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 28,1%; vận chuyển hành khách tăng 48,4%, luân chuyển hành khách tăng 51,3% và vận chuyển hàng hóa tăng 31,8%, luân chuyển hàng hóa tăng 28,4%; khách quốc tế đến nước ta tăng 62,7%.

    Năm 2021, trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành lãi suất phù hợp, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ nền kinh tế phục hồi. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ổn định; thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ với mức vốn hóa thị trường cổ phiếu năm 2021 tăng 45,5% so với cuối năm trước.

    Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành năm 2021 tăng 3,2% so với năm trước, tuy đây là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua nhưng là kết quả khả quan trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trong nước và trên thế giới. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phục hồi, vốn đăng ký mới và vốn đăng ký tăng thêm tăng trở lại cho thấy nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư Việt Nam.

    Hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế tiếp tục phục hồi giúp cho thu ngân sách Nhà nước ước tính cả năm 2021 đạt 1.523,4 nghìn tỷ đồng và vượt dự toán năm. Chi ngân sách Nhà nước tập trung ưu tiên cho công tác phòng, chống dịch Covid-19, khắc phục thiên tai, đảm bảo quốc phòng, an ninh và hỗ trợ người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh.

    Trong tháng 12/2021, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 66,5 tỷ USD, tăng 6,4% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19%; nhập khẩu tăng 26,5%.

    Bình quân năm 2021, CPI tăng 1,84% so với năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016. Lạm phát cơ bản 12 tháng tăng 0,81%. Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu năm 2021 tăng so với năm trước. Tỷ giá thương mại hàng hóa năm 2021 giảm 2,49% so với năm 2020, phản ánh giá xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài không thuận lợi so với giá nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về Việt Nam.

    Năm 2021 trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, kinh tế – xã hội nước ta vẫn duy trì tăng trưởng và đạt được kết quả tích cực trên các lĩnh vực là do sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt, sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng với sự nỗ lực thực hiện của các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân cả nước. Các cơ quan ở Trung ương và địa phương đã thực hiện tốt và hiệu quả công tác phòng, chống dịch; nhanh chóng triển khai Quỹ vắc-xin phòng chống Covid-19 để tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn viện trợ, hỗ trợ mua và tự nghiên cứu, sản xuất vắc-xin, tiêm phòng miễn phí cho người dân nhằm đạt mục tiêu kinh tế – xã hội năm 2021 cao nhất có thể. Nền kinh tế vẫn giữ được mức tăng trưởng, tuy không đạt được mục tiêu đề ra nhưng an sinh xã hội được đảm bảo, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp.

    Kết quả tích cực nói trên khẳng định niềm tin của người dân, của cộng đồng doanh nghiệp của các nhà đầu tư nước ngoài vào sự lãnh đạo, chỉ đạo, đúng đắn và kịp thời của Đảng, Quốc hội và sự điều hành quyết liệt, sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo các Bộ, ban, ngành và các địa phương. Bước sang năm 2022 với nhiều nguy cơ và thách thức đan xen. Nguy cơ chậm phục hồi kinh tế, suy giảm tăng trưởng vẫn còn tiềm ẩn nếu không kiểm soát được dịch bệnh và mở cửa trở lại hoạt động kinh tế; rủi ro lạm phát gia tăng; thiên tai, biến đổi khí hậu là nguy cơ luôn tiềm ẩn. Để kịp thời thời khắc phục khó khăn, chủ động tận dụng mọi cơ hội, khai thác mọi tiềm năng, thực hiện thành công mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2022, cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau: Một là, tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 128/NQ-CP; bảo đảm sự chỉ đạo nhất quán, tập trung, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương. Bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của Nhân dân cùng với tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ hiệu quả người dân và doanh nghiệp.

    Hai là, kiên trì giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát giá cả, thị trường, bảo đảm cung ứng hàng hóa và các cân đối lớn của nền kinh tế; thực hiện chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ cần linh hoạt vừa đảm bảo kiềm chế lạm phát, vừa đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng; nâng cao tính tự chủ, khả năng chống chịu, thích ứng của nền kinh tế.

    Ba là, tiếp tục triển khai hiệu quả cơ chế, chính sách, giải pháp hỗ trợ người dân, người lao động, doanh nghiệp chống chịu, vượt qua khó khăn, ổn định và phục hồi sản xuất. Đặc biệt, hỗ trợ cho người lao động bị mất việc làm, mất thu nhập cần được triển khai hiệu quả với phương châm: “không để ai bị bỏ lại”, từ đó tạo tâm lý yên tâm, không di dời khỏi nơi làm việc về quê hương, dẫn tới xáo trộn, thiếu hụt nguồn lực lao động.

    Bốn là, phát triển mạnh thị trường nội địa, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ cho sản xuất, không để đứt gãy chuỗi cung ứng. Tháo gỡ rào cản, tạo thuận lợi cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Xây dựng chuỗi giá trị ngành hàng từng loại nông sản, gắn với nguồn gốc xuất xứ, phát triển hạ tầng logistics nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo chuỗi cung ứng thị trường trong nước.

    Năm là, cơ cấu lại, phục hồi và phát triển một số ngành, lĩnh vực quan trọng và doanh nghiệp đang bị tác động trực tiếp bởi dịch Covid-19 như: Thương mại, dịch vụ, logistics, vận tải, hàng không, du lịch…; khẩn trương khôi phục thị trường du lịch, tạo thuận lợi cho lưu chuyển hành khách quốc tế, trong nước, hỗ trợ phù hợp các doanh nghiệp du lịch gắn với an toàn dịch bệnh.

    Sáu là, tích cực và đẩy nhanh hơn việc hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp Việt Nam trong mọi lĩnh vực, xây dựng nền kinh tế số, xã hội số thiết thực, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều hành và xử lý công việc; tái cấu trúc quy trình, đơn giản hóa thủ tục hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi tối đa các doanh nghiệp./.

                                                                                                                                                             Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Huyện Yên Dũng đón Bằng công nhận đạt chuẩn nông thôn mới và Huân chương Lao động hạng Nhì

    Tối ngày 25/12, tại Nhà văn hóa Trung tâm hội nghị huyện Yên Dũng, UBND tỉnh Bắc Giang tổ chức trọng thể Lễ công bố huyện Yên Dũng đạt chuẩn nông thôn mới (NTM) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì.

    Chương trình văn nghệ chào mừng. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Dự buổi lễ có đồng chí Lê Ánh Dương – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy: Lâm Thị Hương Thành – Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh, Mai Sơn – Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Lê Ô Pích – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trần Công Thắng – Chủ tịch Ủy Ban MTTQ tỉnh; đồng chí Phan Thế Tuấn – Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, cơ quan, ban, ngành của tỉnh, Văn phòng Điều phối NTM tỉnh, UBND các huyện, thành phố; lãnh đạo huyện Yên Dũng qua các thời kỳ và các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có đóng góp trong thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM.

    Với sự chung sức, đồng lòng của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân địa phương, sau 10 năm triển khai xây dựng NTM ngày 28/10/2021, huyện Yên Dũng được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định công nhận đạt chuẩn NTM. Đây là huyện thứ 4 của tỉnh Bắc Giang về đích NTM.

    Dù phải chịu ảnh hưởng không nhỏ từ dịch Covid-19, song với sự quyết liệt trong chỉ đạo điều hành, linh hoạt sáng tạo trong cách làm, cùng sự chung sức chung lòng của người dân, sau 10 năm triển khai Chương trình MTQG xây dựng NTM, huyện đã huy động gần 4.000 tỷ đồng thực hiện chương trình, trong đó vốn do người dân đóng góp gần 1.300 tỷ đồng, bao gồm tiền mặt và tự nguyện hiến trên 21 ha đất thổ cư, 180 ha đất nông nghiệp, trên 216 nghìn ngày công lao động, phá dỡ 46,8 km tường rào…. Yên Dũng cũng là lá cờ đầu toàn quốc trong phong trào cứng hóa, phát triển đường giao thông nông thôn với gần 665 km đường giao thông được cứng hóa, cải tạo, nâng tỷ lệ cứng hóa toàn huyện đạt 80,27%.

    Yên Dũng cũng là địa phương đi đầu trong xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn, có liên kết sản xuất theo chuỗi, góp phần nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của người dân. Đến nay, giá trị bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp đạt gần 120 triệu đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt gần 62 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giai đoạn 2021 – 2025 giảm còn 3,45%; tỷ lệ hộ gia đình văn hóa đạt gần 91%.

    Huyện có 16/16 xã đạt chuẩn NTM, 02 xã Lãng Sơn, Xuân Phú đạt chuẩn NTM nâng cao, 04 thôn đạt NTM kiểu mẫu theo Bộ tiêu chí của tỉnh. Huyện không để nợ đọng xây dựng cơ bản trong xây dựng NTM. Những kết quả đạt được sẽ là tiền đề để huyện Yên Dũng tiếp tục nâng cao chất lượng Chương trình MTQG xây dựng NTM, từng bước xây dựng huyện NTM nâng cao vào sau năm 2025.

    Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương trao Huân chương Lao động hạng Nhì
    cho Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Yên Dũng. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Bí thư Huyện ủy Thạch Văn Chung cho biết, để nâng cao hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân, trong thời gian tới Yên Dũng tiếp tục phát động phong trào thi đua “Yên Dũng chung sức xây dựng NTM” và thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh” nhằm huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và người dân trong thực hiện Chương trình.

    Trong đó, tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức để mọi người dân hiểu và có trách nhiệm trong việc xây dựng NTM và tiêu chí NTM nâng cao trong giai đoạn mới. Tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức để người dân tham gia bảo vệ môi trường; phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống… phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt các mục tiêu KT-XH của giai đoạn 2020-2025 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện đã đề ra.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương phát biểu tại buổi lễ. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương chúc mừng, biểu dương những nỗ lực, cố gắng của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Yên Dũng. Những kết quả đạt được là nguồn cổ vũ động viên to lớn, tạo động lực để huyện tiếp tục nỗ lực vươn lên giành nhiều thành tựu quan trọng hơn nữa trong giai đoạn tiếp theo.

    Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh, huyện Yên Dũng được xác định là 1 trong 4 huyện, thành phố trọng điểm trong quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của tỉnh Bắc Giang. Để đáp ứng yêu cầu xây dựng NTM trong bối cảnh tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, Đảng bộ, chính quyền, Nhân dân huyện Yên Dũng cần tiếp tục phát huy thành tích đạt được làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao hơn nữa nhận thức cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong xây dựng NTM.

    Huyện và các xã, thị trấn trên địa bàn phải xây dựng ngay kế hoạch, xác định rõ lộ trình nâng cao chất lượng các tiêu chí sau đạt chuẩn theo hướng đảm bảo chất lượng, bền vững, hướng đến xây dựng xã NTM nâng cao, xã NTM kiểu mẫu, huyện NTM nâng cao. Cùng đó, tập trung giải quyết hiệu quả các vấn đề bức xúc trong Nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Có biện pháp hiệu quả khắc phục các tồn tại, hạn chế về thu gom, xử lý rác thải, đảm bảo cảnh quan, bảo vệ môi trường nông thôn.

    Tổ chức không gian phát triển khoa học, hài hòa giữa khu vực thành thị và nông thôn; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và hạ tầng thương mại ở nông thôn đảm bảo ngày càng hiện đại; có bước chuyển tiếp hài hòa giữa đô thị và nông thôn trong quy hoạch. Quan tâm giải quyết hiệu quả việc làm cho lao động nông thôn phục vụ yêu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ của huyện trong thời gian tới.

    Nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh chuyển đổi số trong nông nghiệp, chuẩn hóa quy trình sản xuất; rà soát, điều chỉnh cơ chế, chính sách tập trung vào hỗ trợ sản xuất nông nghiệp sạch, an toàn, hữu cơ, liên kết theo chuỗi giá trị, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp để phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương.

    Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Lâm Thị Hương Thành
    trao Bằng công nhận huyện NTM cho lãnh đạo huyện Yên Dũng. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Tại buổi lễ, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương đã trao Huân chương Lao động hạng Nhì cho Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Yên Dũng.

    Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Lâm Thị Hương Thành đã trao Bằng công nhận đạt chuẩn NTM năm 2021 cho lãnh đạo Huyện ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ huyện Yên Dũng. 

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho đại diện các tập thể tiêu biểu.
    Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Nhân dịp này, Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen cho 10 tập thể, 09 cá nhân và 01 hộ gia đình có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng huyện Yên Dũng đạt chuẩn NTM.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ô Pích trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho các cá nhân và hộ gia đình tiêu biểu.

                                                                                                                                                                           Theo Bacgiang.gov.vn

  • Phục hồi thị trường vận tải trong nước, đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19

    Sáng ngày 25/12, Bộ Giao thông vận tải (GTVT) tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác năm 2021 và triển khai kế hoạch năm 2022. Chủ trì hội nghị tại điểm cầu Trung ương có Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành, Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể. Cùng dự có các Thứ trưởng Bộ GTVT, đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị Trung ương.

    Chủ trì hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang có các đồng chí: Trần Văn Tuấn – Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang; Bùi Thế Sơn – Giám đốc Sở GTVT. Cùng dự có đại diện lãnh đạo các Sở, ngành, đơn vị, địa phương trong tỉnh.

    Quang cảnh hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Báo cáo tại hội nghị cho thấy, năm 2021 Bộ GTVT đã ưu tiên dành thời lượng lớn trong chương trình công tác để xây dựng thể chế, tập trung tháo gỡ vướng mắc, chú trọng việc nâng cao chất lượng của văn bản cũng như tiến độ ban hành văn bản, bảo đảm điều chỉnh kịp thời những vấn đề mới phát sinh do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

    Bộ GTVT đã tham mưu trình Chính phủ ban hành 05/08 dự thảo Nghị định; ban hành 26 Thông tư theo thẩm quyền, hoàn thành rà soát 82 văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thành 04 đề án phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực GTVT; trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 04/05 quy hoạch chuyên ngành quốc gia về đường bộ, hàng hải, đường sắt, đường thủy nội địa. Tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác giải ngân các dự án, đặc biệt đối với các dự án quan trọng quốc gia, các dự án trọng điểm của ngành. Dự kiến đến hết tháng 01/2022, Bộ GTVT phấn đấu giải ngân kế hoạch cả năm đạt tối thiếu 96% kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao.

    Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, Bộ GTVT cũng đã sớm mở “luồng xanh” cho vận tải hàng hóa, đảm bảo thông suốt, an toàn, kịp thời, đáp ứng yêu cầu mục tiêu kép vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế ở mức cao nhất. Cùng đó, công tác bảo đảm trật tự ATGT tiếp tục có nhiều cải thiện, tai nạn giao thông tiếp tục giảm sâu cả 03 tiêu chí so với năm 2020. Tính chung trong 11 tháng năm 2021, toàn quốc xảy ra 10.137 vụ, làm chết 5.111 người, bị thương 7.059 người. So với cùng kỳ 2020, giảm 3.329 vụ (-24,72%), giảm 1.104 người chết (-17,76%), giảm 2.950 người bị thương (-29,47%).

    Để chủ động phục vụ nhu cầu đi lại của Nhân dân, Bộ cũng đã xây dựng, ban hành Kế hoạch vận tải, bảo đảm trật tự ATGT gắn với phòng, chống dịch Covid-19 trong dịp Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán và mùa Lễ hội xuân Nhâm Dần năm 2022.

    Trên cơ sở phát huy, kế thừa những kết quả đạt được, khắc phục các tồn tại, hạn chế của năm 2021, tại hội nghị, đại diện các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và đại diện lãnh đạo các địa phương đã trao đổi, thảo luận thống nhất các nội dung, nhiệm vụ, giải pháp của ngành GTVT trong năm 2022. Theo đó, phương hướng, nhiệm vụ năm 2022 của ngành GTVT được xây dựng theo hướng dịch bệnh sớm được khống chế, tình hình kinh tế trong nước ngày càng khả quan so với các tháng đầu năm 2021.

    Trước mắt, Bộ GTVT sẽ tiếp tục tập trung hoàn thiện hệ thống thể chế trong lĩnh vực GTVT để phát triển nền kinh tế thị trường; hoạt động vận tải ổn định, thông suốt, kịp thời, bảo đảm thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Phấn đấu giải ngân 96% kế hoạch năm 2022 được Thủ tướng Chính phủ giao; bảo đảm trật tự ATGT, tiếp tục kéo giảm TNGT từ 5-10% cả 3 tiêu chí số vụ, số người chết, bị thương so với năm 2021.

    Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành phát biểu chỉ đạo tại điểm cầu Bộ GTVT (Ảnh chụp màn hình trực tuyến)

    Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương tập thể lãnh đạo, công chức, viên chức, người lao động ngành GTVT nói chung, Bộ GTVT nói riêng đã đoàn kết, nỗ lực khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, góp phần quan trọng cùng cả nước hoàn thành các mục tiêu phát triển KT-XH gắn với công tác phòng, chống dịch Covid-19.

    Theo Phó Thủ tướng, bên cạnh những kết quả đã đạt được, ngành GTVT vẫn còn những mặt tồn tại, hạn chế cần tập trung khắc phục. Trong đó còn một số công trình chưa đạt chất lượng như mong muốn, còn thiếu sự kết nối đồng bộ các phương thức vận tải; tiến độ thi công một số dự án còn chậm, chất lượng một số văn bản chuyên ngành GTVT chưa được ổn định lâu dài trong thực tiễn; vẫn cỏn những nội dung vướng mắc của các băn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các lĩnh vực đất đai…

    Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành yêu cầu thời gian tới  Bộ GTVT cần tiếp tục tập trung hoàn thành Đề án và triển khai phương án phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực GTVT. Bên cạnh đó, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan triển khai lập quy hoạch có tính chất kỹ thuật chuyên ngành để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    Tiếp tục đẩy mạnh công tác tổ chức thực hiện, tuyên truyền và phổ biến, giáo dục pháp luật. Rà soát các nội dung còn mâu thuẫn, chồng chéo, gây khó khăn trong quá trình thực hiện tại các văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, ban hành mới các quy định cho phù hợp với nhu cầu thực tiễn, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, doanh nghiệp, người dân.

    Theo dõi, cập nhật diễn biến tình hình dịch Covid-19 và bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia để triển khai nghiêm túc công tác phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình mới, gắn với yêu cầu phục hồi thị trường vận tải trong nước, đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19.

    Tăng cường thanh tra, kiểm tra để ngăn chặn, xử lý tình trạng xe dù, bến cóc, xe chở hàng quá tải trọng, xe khách trá hình, chạy quá tốc độ, sử dụng các chất kích thích trong điều khiển phương tiện.

    Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tập trung xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc còn lại tại các dự án, nhất là công tác giải phóng mặt bằng, di dời hạ tầng kỹ thuật. Chỉ đạo đấy nhanh tiến độ thi công, tiến độ giải ngân, bảo đảm hoàn thành theo đúng kế hoạch yêu cầu, nhất là đối với các dự án trọng điểm.

    Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý ngay những vướng mắc liên quan đến tiến độ và chất lượng công trình, xử lý kịp thời những tồn tại về chất lượng, sự cố công trình; nghiêm khắc xử lý trách nhiệm của những tập thể, cá nhân có liên quan; tiếp tục đấy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng; chấn chỉnh, nâng cao năng lực của các chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn thiết kế, giám sát./.

                                                                                                                                                               Theo Bacgiang.gov.vn

  • Quy định về quản lý, khai thác, chia sẻ và sử dụng thông tin, dữ liệu về tài nguyên và môi trường

    UBND tỉnh Bắc Giang vừa có Quyết định ban hành Quy chế thu nhập, quản lý, khai thác, chia sẻ và sử dụng thông tin, dữ liệu về tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh.

    Ảnh minh họa: BGP/Nguyễn Miền

    Theo đó, quy chế được áp dụng đối với các Sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, tổ chức, cá nhân có hoạt động thu thập, quản lý, khai thác, chia sẻ và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

    Cụ thể, việc lập kế hoạch điều tra, thu thập, cập nhật thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường và thu thập, cập nhật thông tin mô tả về thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường phải đảm bảo thông tin, dữ liệu được thu thập, cập nhật chính xác, đầy đủ, có hệ thống, không trùng lặp, chồng chéo, phục vụ kịp thời công tác quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

    Việc khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường thực hiện theo các hình thức khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu qua Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang, Cổng thông tin điện tử của Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc kết nối, truy cập, chia sẻ thông tin với cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường của cơ quan quản lý, cung cấp thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường.

    Tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang, Cổng thông tin điện tử của Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc kết nối, truy cập, chia sẻ thông tin với cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường phải đăng ký và được cấp quyền truy cập, khai thác thông tin, dữ liệu từ cơ quan cung cấp thông tin, dữ liệu.

    Tổ chức, cá nhân được cấp quyền truy cập có trách nhiệm truy cập đúng địa chỉ, mã khóa; không được làm lộ địa chỉ, mã khóa truy cập đã được cấp. Trường hợp đặc biệt cung cấp dữ liệu phục vụ cho các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ yêu cầu trực tiếp của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, phục vụ yêu cầu của các đoàn thanh tra, kiểm toán hoặc trong tình trạng khẩn cấp, đơn vị quản lý tài liệu lưu trữ về tài nguyên và môi trường có trách nhiệm tổ chức thực hiện theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc điều tra, thu thập, cập nhật thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường và thu thập, cập nhật thông tin mô tả về thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường phải tuân thủ đúng các quy định, quy trình, quy phạm, quy chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật về thu thập, cập nhật thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường.

    Trường hợp pháp luật quy định việc thu thập thông tin, dữ liệu phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì Sở Tài nguyên và Môi trường phải làm thủ tục xin phép theo quy định và chỉ được tiến hành thu thập dữ liệu sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Việc thu thập thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường thuộc danh mục tài liệu bí mật nhà nước phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

    Các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao xác định thông tin, dữ liệu cần thu thập, cập nhật, đề xuất các hoạt động, nhiệm vụ thu thập, cập nhật thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày 15/9 hàng năm để tổng hợp, lập kế hoạch dự kiến.

    Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổng hợp đề xuất của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố và các hoạt động, nhiệm vụ thu thập, cập nhật dữ liệu của đơn vị để dự thảo kế hoạch và chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính trình UBND tỉnh phê duyệt trước ngày 15/10 hàng năm.

    Sở Thông tin và Truyền thông hỗ trợ, bảo đảm an toàn và bảo mật thông tin, hướng dẫn việc xây dựng, kết nối, vận hành các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường phù hợp với khung kiến trúc Chính quyền điện tử tỉnh Bắc Giang và kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam; phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn đồng bộ, tương thích, truy cập, chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các hệ thống thông tin…

    Quyết định hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2022 và thay thế Quyết định số 18/2010/QĐ-UBND ngày 22/03/2010 của UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Quy chế thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

                                                                                                                                                                      Theo Bacgiang.gov.vn

  • Nâng cao chất lượng tín dụng, kịp thời phân bổ nguồn vốn vay cho các đối tượng ưu tiên

    Ngày 23/12, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn – Trưởng Ban đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng chính sách xã hội (HĐQT NHCSXH) tỉnh Bắc Giang chủ trì hội nghị tổng kết hoạt động năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022. Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo các Sở, ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh.

    Quang cảnh hội nghị. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Năm 2021, hoạt động của Ban đại diện HĐQT NHCSXH các cấp trong tỉnh đã bám sát mục tiêu, định hướng của NHCSXH Việt Nam chỉ đạo các cấp, ngành, đơn vị, tổ chức chính trị xã hội nhận ủy thác triển khai hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách và thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại địa phương.

    Nhờ đó hoạt động tín dụng chính sách đạt được nhiều kết quả tích cực, tổng nguồn vốn huy động trong năm đạt 5.407,7 tỷ đồng, tăng 744,3 tỷ đồng (tăng 16,7%) so với năm 2020; tổng dư nợ tín dụng đạt 5.390 tỷ đồng, tăng 766 tỷ đồng (tăng 16,5%) so với năm 2020; doanh số cho vay trong năm 2021 đạt 1.883 tỷ đồng; chất lượng tín dụng được đảm bảo, nợ quá hạn được kiểm soát ở mức thấp, chiếm tỷ lệ 0,04%.

    Tính đến ngày 18/12/2021, dư nợ cho vay người sử dụng lao động để trả lương, ngừng việc, trả lương phục hồi đạt 379 tỷ đồng, đứng đầu cả nước. Bên cạnh đó, công tác huy động tiền gửi qua các tổ chức, cá nhân cũng đạt được nhiều kết quả tích cực, một số đơn vị huy động tiền gửi tăng cao như: Hiệp Hòa 39,6 tỷ đồng, Việt Yên 23,5 tỷ đồng, Tân Yên 16 tỷ đồng…

    Trong năm, nguồn vốn tín dụng xã hội cũng đã phát huy được hiệu quả đầu tư, giúp cho hơn 28,8 nghìn hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác phát triển sản xuất, chăn nuôi, tạo việc làm, duy trì ổn định cuộc sống, nâng cao thu nhập cho người dân, giúp nhiều hộ nông dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu, góp phần xóa đói giảm nghèo an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới tại địa phương.

    Thảo luận tại hội nghị, các thành viên Ban đại diện HĐQT NHCSXH tỉnh đã tập trung làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai cho vay các chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ; đặc biệt là công tác nâng cao chất lượng tín dụng chính sách nhằm hạn chế thấp nhất nợ xấu phát sinh; khắc phục một số khó khăn, bất cập tại một số địa bàn huyện, tổ chức nhận ủy thác có tỷ lệ quá hạn cao, còn phát sinh Tổ tiết kiệm và vay vốn hoạt động trung bình, yếu; huy động tiền gửi ở một số huyện chưa thực sự chưa hiệu quả, nguồn vốn huy động tiền gửi còn thấp…

    Để triển khai thực hiện tốt kế hoạch nhiệm vụ năm 2022, Ban đại diện HĐQT NHCSXH tỉnh đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng đạt từ 7 – 10%, nợ quá hạn duy trì ở mức dưới 0,05%, huy động tiền gửi qua tổ chức, dân cư đạt 100% kế hoạch; tỷ lệ giao dịch xã đạt trên 95%, có từ 96% Tổ tiết kiệm và vay vốn xếp loại tốt…

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn – Trưởng Ban đại diện HĐQT NHCSXH tỉnh phát biểu kết luận hội nghị.
    Ảnh:BGP/Nguyễn Miền

    Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn – Trưởng Ban đại diện HĐQT NHCSXH tỉnh đánh giá cao những kết quả hoạt động của Ngân hàng CSXH các cấp, góp phần tích cực vào việc thực hiện chính sách an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển KH-XH tại các địa phương. 

    Để việc triển khai thực hiện các chương trình cho vay ưu đãi của Chính phủ mang lại hiệu quả cao, Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu thời gian tới Ban đại diện HĐQT NHCSXH các cấp tiếp tục triển khai thực hiện tốt Chỉ thị 40-CT/TW và Kết luận số 06-KL/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách.

    Quan tâm cân đối chuyển nguồn vốn ngân sách địa phương qua NHCSXH tỉnh, huyện ngay từ đầu tháng 01/2021 để kịp thời cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, hoàn thành kế hoạch Trung ương giao.

    NHCSXH tỉnh chỉ đạo các huyện, thành phố tổ chức triển khai tốt công tác rà soát, tổng hợp nhu cầu vốn tại cơ sở, tích cực tranh thủ nguồn vốn cân đối từ Trung ương để bổ sung nguồn vốn cho vay các chương trình tín dụng; duy trì chất lượng tín dụng đảm bảo tính đồng đều, bền vững, nợ quá hạn tiếp tục được kiểm soát, phấn đấu giảm nợ quá hạn so với năm 2021, kiểm soát tốt nợ đến hạn.

    Kịp thời phân bổ vốn theo từng lĩnh vực ưu tiên của các địa phương để giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc, giúp người dân tiếp cận nguồn vốn đảm bảo hiệu quả.

    Tổ chức tốt công tác đối chiếu, phân loại nợ của khách hàng tại NHCSXH năm 2021 theo các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng Giám đốc NHCSXH Việt Nam và Trưởng Ban đại diện HĐQT NHCSXH tỉnh, phấn đấu hoàn thành chậm nhất 30/4/2022.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn – Trưởng Ban đại diện HĐQT NHCSXH tỉnh tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh
    cho các cá nhân có thành tích xuất sắc. Ảnh:BGP/Nguyễn Miền

    Các tổ chức chính trị xã hội cấp tỉnh chỉ đạo cấp sơ cở thực hiện tốt các nội dung ủy thác, quản lý nguồn vốn tín dụng hiệu quả, nâng cao chất lượng hoạt động ủy thác, chất lượng tổ tiết kiệm và vay vốn; thường xuyên phối hợp với NHCSXH nơi cho vay rà soát, củng cố Tổ tiết kiệm và vay vốn trung bình, tổ có tỷ lệ nợ quá hạn cao để có giải pháp phù hợp, phấn đấu tăng tỷ lệ Tổ tiết kiệm và vay vốn tốt, khá lên.

    Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các thành viên Ban đại diện HĐQT các cấp, tổ chức chính trị xã hội, công khai hóa tín dụng chính sách trên địa bàn, khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quản lý chính sách tín dụng. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phố biến các chủ trương, chính sách tín dụng, công tác huy động tiền gửi qua tổ chức, cá nhân trên địa bàn nhằm tạo lập nguồn vốn cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Tiếp tục thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn. Đồng thời, có các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác ổn định đời sống và khôi phục sản xuất.

    Nhân dịp này, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn đã trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 3 cá nhân có thành tích xuất sắc trong triển khai hoạt động tín dụng CSXH trên địa bàn tỉnh Bắc Giang năm 2021; 17 tập thể, 74 cá nhân có thành tích tiêu biểu trong hoạt động của Ngân hàng CSXH trên địa bàn tỉnh Bắc Giang năm 2021 đã được Trưởng Ban đại diện HĐQT NHCSXH tỉnh khen thưởng./.

                                                                                                                                     Theo Bacgiang.gov.vn

  • Quy định phân cấp ngân sách các cấp chính quyền địa phương tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2022 – 2025

    Quy định phân cấp ngân sách các cấp chính quyền địa phương tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2022 – 2025

    HĐND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Nghị quyết quy định phân cấp ngân sách các cấp chính quyền địa phương tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2022 – 2025.

    Ảnh minh họa: BGP/An Nhiên

    Theo Nghị quyết, phân cấp nguồn thu đảm bảo đúng theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện luật; phù hợp, đồng bộ với phân cấp quản lý KT-XH, quốc phòng an ninh, tổ chức bộ máy đối với từng lĩnh vực và đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn.

    Phân cấp thu ngân sách gắn với nhiệm vụ và khả năng quản lý nguồn thu của từng cấp; tăng cường khai thác nguồn thu và chống thất thu của chính quyền mỗi cấp; hạn chế phân chia nguồn thu có quy mô nhỏ cho nhiều cấp. Phân cấp tối đa nguồn thu thuộc cấp chính quyền quản lý trên địa bàn để có nguồn tài chính bảo đảm nhiệm vụ chi được giao, hạn chế bổ sung từ ngân sách cấp trên.

    Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành và thực hiện các chính sách, chế độ mới làm tăng chí ngân sách phải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp; việc quyết định đầu tư các chương trình, dự án sử dụng vốn ngân sách phải bảo đảm trong phạm vi ngân sách theo phân cấp.

    Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước thuộc ngân sách cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước thuộc ngân sách cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải phân bổ và chuyển kinh phí cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ chi đó; cơ quan nhận kinh phí ủy quyền phải quyết toán với cơ quan ủy quyền khoản kinh phí này.

    Ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã không có nhiệm vụ chi nghiên cứu khoa học và công nghệ.

    Các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu hằng năm phần ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp để tăng chi thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đối với số tăng thu so với dự toán thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật Ngân sách Nhà nước.

    Trường hợp đặc biệt các huyện, thành phố có phát sinh nguồn thu từ dự án mới đi vào hoạt động làm ngân sách huyện, thành phố tăng thu lớn thì số tăng thu phải nộp về ngân sách cấp tỉnh. Căn cứ vào tình hình thực tế, UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành quyểt định thu về ngân sách cấp tỉnh số tăng thu này và thực hiện bổ sung có mục tiêu một phần cho ngân sách cấp dưới để hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng ở địa phương theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    Trường hợp các huyện, thành phố hụt thu so với dự toán cấp trên giao do nguyên nhân khách quan, sau khi đã điều chỉnh giảm một số khoản chi và sử dụng hết các nguồn tài chính hợp pháp khác của địa phương mà chưa bảo đảm được cân đối ngân sách địa phương thì ngân sách tỉnh hỗ trợ ngân sách cấp dưới theo khả năng của ngân sách tỉnh.

    Nghị quyết cũng quy định cụ thể nguồn thu ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã hưởng 100%; nhiệm vụ chi của ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; tỷ lệ phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương.

    Nghị quyết cũng nêu rõ trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc sử dụng ngân sách theo phân cấp, đó là mỗi cấp chính quyền có nhiệm vụ, thẩm quyền và chủ động trong tổ chức quản lý thu, chi ngân sách theo phân cấp, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của từng cấp trong việc khai thác, huy động các nguồn thu hợp pháp, huy động đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật để tăng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH, phục vụ dân sinh trên địa bàn. Chính quyền các cấp thuộc tỉnh sử dụng ngân sách thông qua các hoạt động thu, chi ngân sách để thực hiện chức năng nhiệm vụ của cấp mình theo phân cấp quản lý ngân sách. Mọi khoản thu, chi ngân sách các cấp đều phải phản ánh vào ngân sách nhà nước thông qua hoạt động của Kho bạc nhà nước.

    Xem chi tiết Nghị Quyết tại đây 

  • Tập trung triển khai nhiệm vụ, đảm bảo an toàn cho mọi người dân vui Xuân, đón Tết

    Ngày 29/12, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương chủ trì hội nghị giao ban trực tuyến tháng 12/2021 với Chủ tịch UBND huyện, thành phố, Giám đốc, Thủ trưởng một số sở, cơ quan liên quan. Dự hội nghị tại điểm cầu UBND tỉnh có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn và đại diện lãnh đạo các sở, ngành, cơ quan, đơn vị trong tỉnh.

    Quang cảnh hội nghị. Ảnh:BGP/Nguyễn Miền

    Đẩy nhanh tiến độ GPMB, quan tâm chăm lo Tết cho người nghèo

    Theo báo cáo của UBND tỉnh, tình hình KT-XH của tỉnh trong tháng 12/2021 tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Sản xuất công nghiệp phục hồi nhanh, vững chắc; chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tháng 12/2021 tăng 22,03% so cùng kỳ và ước cả năm 2021 tăng 12,7% so với năm 2020; đến hết năm 2021 ước giá trị giải ngân đạt 8.725 tỷ đồng, bằng 96% kế hoạch.

    Trong tháng, tình hình sản xuất nông nghiệp ổn định, các sản phẩm nông sản được mùa, tiêu thụ tốt. Diện tích cây trồng vụ Đông năm 2021 khoảng 22.500 ha, sản lượng khoảng 286.200 tấn. Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới (NTM) đã cơ bản hoàn thành kế hoạch. Hết năm 2021, hoàn thành thêm 03 đơn vị cấp huyện về đích NTM, vượt 02 đơn vị cấp huyện so với kế hoạch; lũy kế đến hết năm 2021 toàn tỉnh có 06 đơn vị cấp huyện đạt tiêu chí huyện NTM.

    Về tiến độ giải phóng mặt bằng (GPMB) các dự án trọng điểm tiếp tục được các địa phương quan tâm tích cực triển khai. Một số địa phương có tiến độ GPMB các dự án trọng điểm đạt tỷ lệ cao là: TP. Bắc Giang, Lạng Giang, Việt Yên, Hiệp Hòa, Sơn Động… Qua đó, góp phần đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, dự án.

    Trong tháng, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm việc tiếp công dân; đã ban hành và thông báo lịch tiếp công dân năm 2022 theo quy định. Công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông được các cấp, các ngành quan tâm triển khai thực hiện. Tai nạn giao thông tháng 12 và cả năm 2021 giảm sâu cả 3 tiêu chí so với cùng kỳ. Hoạt động cung cứng nguồn hàng, bình ổn giá thị trường phục vụ Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 được bảo đảm. Công tác chăm lo Tết cho đối tượng chính sách, người có công và chế độ lương thưởng Tết cho người lao động được các địa phương, doanh nghiệp quan tâm và tích cực triển khai…

    Tại hội nghị, lãnh đạo UBND các huyện, thành phố đã báo cáo tóm tắt tình hình KT-XH của địa phương trong tháng 12/2021 và kết quả giải quyết các nhiệm vụ Chủ tịch UBND tỉnh giao trong tháng. Qua báo cáo cho thấy, các kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh tại Hội nghị giao ban tháng 11/2021 được các ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc. Tuy nhiên tình trạng “xôi đỗ” trong GPMB dự án trọng điểm chưa được giải quyết triệt để, ảnh hưởng tới tiến độ thi công các công trình, dự án.

    Giám đốc Ban Quản lý Dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh Hoàng Văn Thanh
    phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh:BGP/Nguyễn Miền

    Về vấn đề này, Giám đốc Ban Quản lý Dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh Hoàng Văn Thanh cho biết, hiện nay tiến độ GPMB tại một số dự án liên quan đến địa bàn huyện Việt Yên, Tân Yên, Lạng Giang, Yên Thế còn chậm, làm ảnh hưởng tới tiến độ thi công các công trình dự án. Vì vậy, đồng chí Hoàng Văn Thanh đề nghị các địa phương có công trình, dự án tập trung cao cho công tác GPMB các dự án, xây dựng kế hoạch chi tiết, trong đó ưu tiên giải quyết đối với các trường hợp dễ, sớm bàn giao mặt bằng cho nhà thầu thi công.

    Về công tác chuẩn bị đón Tết, một số ý kiến cho rằng năm nay do thực hiện bình xét hộ nghèo theo chuẩn mới nên số hộ nghèo, cận nghèo tăng, cần nguồn lực để hỗ trợ, chăm lo Tết lớn. Để bảo đảm mọi người, mọi nhà đều có Tết, các địa phương đã xây dựng kế hoạch hỗ trợ, chăm lo Tết cho hộ nghèo, cận nghèo và đối tượng chính sách. Một số địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao đã đề nghị UBND tỉnh, các ngành, doanh nghiệp quan tâm vận động tài trợ, hỗ trợ địa phương để cùng chung tay chăm lo Tết cho người nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

    Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Nguyễn Tiến Cơi cũng đề nghị các địa phương bên cạnh công tác chuẩn bị chăm lo Tết cho người nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn đảm bảo an toàn, hiệu quả; UBND các huyện, thành phố cần chỉ đạo các địa phương rà soát, nắm bắt kịp thời đúng đối tượng các hộ gia đình, người có hoàn cảnh khó khăn đột xuất, phấn đấu 100% các hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn và hộ khó khăn đột xuất được nhận quà Tết.

    Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 229 doanh nghiệp báo cáo có kế hoạch thưởng Tết Âm lịch 2022 với mức thưởng bình quân là 6,5 triệu đồng/người, tăng 30% so với năm 2021; tiền thưởng Tết Âm lịch 2022 cao nhất thuộc về khối FDI với mức thưởng 227.950.000 đồng/người.

    Bên cạnh đó, các đại biểu cũng tập trung thảo luận thêm về các vấn đề liên quan đến rác thải tồn lưu tại các tuyến đường, sông, suối, kênh, mương; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo; công tác phòng, chống dịch Covid-19; bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông dịp cuối năm…

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn phát biểu tại hội nghị. Ảnh:BGP/Nguyễn Miền

    Tiếp tục coi trọng công tác phòng, chống dịch Covid-19 

    Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn cho biết mặc dù sản xuất công nghiệp được phục hồi nhanh, thu hút đầu tư tiếp tục tăng cao; thu ngân sách tăng cao… Tuy nhiên, một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn còn khó khăn, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng còn chậm, ảnh hưởng đến tiến độ thi công các dự án và việc quyết toán ngân sách. Bên cạnh đó, dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, nhất là trong dịp Tết khi lượng lao động được nghỉ dài ngày, kéo theo đó nhiều hoạt động tụ tập đông người sẽ phát sinh.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn yêu cầu trong thời gian tới các địa phương, lãnh đạo các doanh nghiệp tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch; tăng cường tuyên truyền, nhắc nhở người dân và công nhân trong các doanh nghiệp nâng cao ý thức phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo tất cả người dân được đón Tết an toàn, vui tươi, lành mạnh.  

    Cùng đó, các địa phương tiếp tục làm tốt công tác chuyển nguồn dự toán kinh phí; cân đối, bố trí nguồn ngân sách địa phương phù hợp, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ phát triển KT-XH trong năm. Trong đó, cần ưu tiên bố trí kinh phí nguồn lực, trang thiết bị vật tư cho công tác phòng, chống dịch; tiếp tục làm tốt công tác GPMB các khu, cụm công nghiệp, các dự án khu dân cư, khu đô thị nhất là những dự án nhỏ lẻ, manh mún..

    Chuẩn bị tốt nguồn hàng cung ứng cho nhu cầu mua sắm cao điểm của người dân dịp Tết, đảm bảo ổn định thị trường, cung cầu hàng hóa; các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tập trung đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng kế hoạch sản xuất, dự trữ hàng hóa nhằm duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định, đảm bảo lượng hàng cung ứng cho thị trường trong dịp Tết.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương phát biểu kết luận hội nghị. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Phát biểu kết luận hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương yêu cầu các địa phương cần tiếp tục tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ tại Chỉ thị số 17/CT-UBND về việc tổ chức đón Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022. Trong đó, trọng tâm là công tác phòng, chống dịch Covid-19, tuyệt đối không lơ là, chủ quan.

    Cùng đó, tập trung làm tốt công tác chăm lo, hỗ trợ thiết thực đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, các hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn đột xuất, các gia đình chính sách, người có công. Đối với những địa phương tỷ lệ hộ nghèo cao như: Sơn Động, Lục Nam, Yên Thế, Lục Ngạn, Chủ tịch UBND tỉnh giao TP. Bắc Giang và các huyện: Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hòa cùng chia sẻ, giúp đỡ để đảm bảo 100% các đối tượng khó khăn được nhận quà Tết.  

    Dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, do đó trong dịp Tết này các địa phương không tổ chức hoạt động đông người. Việc trao quà Tết phải đảm bảo công khai, minh bạch và nên thành lập các tổ, chia làm nhiều nhóm nhỏ để đi tặng.

    Các lực lượng chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng, không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, không rõ xuất xứ nguồn gốc và các hành vi gian lận thương mại khác nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

    Ngành Giao thông vận tải phối hợp với các địa phương triển khai các biện pháp tăng cường phương tiện vận chuyển để phục vụ tốt nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của Nhân dân trong dịp Tết. Đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phấn đấu ngay từ quý đầu, tháng đầu giảm tai nạn giao thông ở cả 3 tiêu chí để làm điều kiện, tiền đề phấn đấu cho những tháng tiếp theo trong năm.

    Ngoài ra, các địa phương cũng cần tiếp tục phối hợp làm tốt công tác tuyển quân, công tác đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống tội phạm; thực hiện nghiêm việc cấm sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng vật liệu nổ, pháo nổ; không để xảy ra các vụ cháy, nổ; chuẩn bị tốt công tác phát động tết trồng cây; xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là các vi phạm liên quan đến công tác phòng, chống dịch Covid-19… đảm bảo an toàn cho mọi người dân được vui Xuân, đón Tết./.

                                                                                                                                                          Theo Bacgiang.gov.vn

  • Nâng cao chất lượng công tác lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch

    hiều ngày 27/12, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang do đồng chí Trần Văn Tuấn – Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với UBND tỉnh về tổ chức giám sát tại UBND tỉnh trong thực hiện chính sách, pháp luật về công tác quy hoạch kể từ khi Luật Quy hoạch có hiệu lực thi hành trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

    Tham gia buổi làm việc có các đồng chí: Trần Văn Lâm – Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội khóa XV; Lê Ô Pích – Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ tỉnh; thành viên Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh; đại diện các sở, ngành, cơ quan của tỉnh.

    Quang cảnh buổi làm việc. Ảnh:BGP/Nguyễn Miền

    Báo cáo tại buổi làm viêc, lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư cho biết, thời gian qua, công tác quản lý quy hoạch đã từng bước được kiểm soát chặt chẽ, việc thu hút, thực hiện các dự án đầu tư, cấp phép xây dựng và quản lý xây dựng theo quy hoạch ngày càng được các cấp, các ngành quan tâm, chú trọng và tuân thủ quy hoạch xây dựng được duyệt, bộ mặt đô thị, nông thôn ngày càng khang trang, xanh, sạch đẹp.

    Công tác lập, thẩm định, phê duyệt Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030 được UBND tỉnh chủ động triển khai kịp thời, chặt chẽ đúng quy trình, quy định Luật Quy hoạch và các văn bản hướng dẫn. Đến nay, mặc dù tiến độ lập quy hoạch còn chậm so với dự kiến, song so với các tỉnh, thành phố trong cả nước, Bắc Giang được đánh giá là tỉnh có tiến độ lập quy hoạch nhanh nhất.

    Đối với công tác lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, giai đoạn từ 2015 đến nay (tính từ thời điểm Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 có hiệu lực thi hành), tỉnh Bắc Giang đã phê duyệt 05 đồ án quy hoạch xây dựng vùng; 14 đồ án quy hoạch xây dựng khu chức năng đặc thù và khoảng 20 đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn.

    Các đồ án quy hoạch sau khi được phê duyệt, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Xây dựng, UBND các huyện, thành phố và các chủ đầu tư tổ chức công bố công khai, đồng thời được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Sở Xây dựng và cơ quan tổ chức lập quy hoạch để các tổ chức, cá nhân tiếp cận, khai thác sử dụng. 

    Đến nay, toàn tỉnh cũng đã phủ kín quy hoạch chung đô thị và xã nông thôn, hoàn thành 23 đồ án quy hoạch chung đô thị, trong đó 15/15 thị trấn, 8 khu vực dự kiến hình thành đô thị; 184 xã có quy hoạch xây dựng nông thôn mới, đạt tỷ lệ 100%… Qua đó góp phần tích cực vào phát triển KT-XH của địa phương.

    Giám đốc Sở Xây dựng Vương Tuấn Nghĩa phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Trao đổi về chất lượng quy hoạch trong thời gian qua, Giám đốc Sở Xây dựng Vương Tuấn Nghĩa cho biết, trong 02 năm trở lại đây, việc lập quy hoạch chi tiết trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cơ bản đảm bảo chất lượng; Bắc Giang là địa phương đi đầu cả nước trong công tác lập quy hoạch chi tiết. Quy hoạch vùng có vai trò quan trọng giúp các địa phương định hướng phát triển KT-XH theo thế mạnh, nhất là các địa phương vùng nông thôn. Quy hoạch vùng cũng là một trong những tiêu chí cứng của Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, hiện nay có quy hoạch vùng và quy hoạch phân khu chưa bắt kịp với sự phát triển của nền kinh tế chung.

    Nguyên nhân do các quy hoạch này lập được từ trước, trong khi đó sự phát triển nhanh của nền KT-XH đã làm phá vỡ một số quy hoạch, dẫn đến các địa phương trong tỉnh phải điều chỉnh quy hoạch cục bộ, bổ sung quy hoạch nhằm đảm bảo sự phát triển chung của địa phương vì lợi ích cộng đồng, quốc gia.

    Về quản lý xây dựng quy hoạch, Giám đốc Sở Xây dựng cho biết, sắp tới Sở sẽ tiếp tục tham mưu UBND tỉnh ban hành văn bản nhằm nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc lập quy hoạch, lựa chọn đơn vị tư vấn quy hoạch có năng lực tốt, có chế tài xử lý đối với những quy hoạch kém chất lượng.

    Tại buổi làm việc, các đại biểu tập trung thảo luận, làm rõ thêm các vấn đề liên quan đến giải pháp để tháo gỡ khó khăn trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất; việc tích hợp các quy hoạch vùng, quy hoạch đất, quy hoạch nông thôn vào quy hoạch chung; tính thiếu đồng bộ trong quy hoạch không gian cảnh quan đô thị…

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ô Pích trao đổi làm rõ thêm một số nội dung liên quan đến công tác quy hoạch. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ô Pích cho biết, thời gian qua UBND tỉnh đã triển khai xây dựng Đồ án quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và được các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương đánh giá cao. Đồ án quy hoạch tỉnh sẽ tích hợp tất cả các quy hoạch như: Quy hoạch vùng, phân khu, chi tiết…; đây cũng là căn cứ quan trọng để Chính phủ xây dựng quy hoạch quốc gia.  

    Về công tác quy hoạch trong thời gian qua, mặc dù trong quá trình lập quy hoạch đã có những dự báo về định hướng, mục tiêu phát triển KT-XH. Tuy nhiên, do xu hướng phát triển mới của đất nước và của thế giới đã tác động không nhỏ, làm phá vỡ kiến trúc quy hoạch, do đó trong quy hoạch rất khó tránh khỏi sự lạc hậu và phải điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.

    Trên cơ sở tiếp thu các ý kiến trao đổi, đóng góp của các thành viên trong Đoàn giám sát, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ô Pích cho biết, trong thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo các địa phương tập trung thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về lập, thẩm định quy hoạch; chủ động điều chỉnh, bổ sung hoặc hủy bỏ các đồ án quy hoạch không khả thi, phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên. Nâng cao năng lực, trách nhiệm hành chính đội ngũ làm công tác xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quản lý đất đai, thẩm định dự án.

    Tăng cường phân công, phân cấp đi đôi với việc kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện xây dựng; quan tâm thu hút đầu tư để phát triển KT-XH, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước; tạo động lực để thúc đẩy phát triển KT-XH vùng nông thôn, miền núi.

     Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khu vực tỉnh Bắc Giang Trần Văn Tuấn phát biểu kết luận tại buổi làm việc. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Phát biểu kết luận buổi làm việc, đồng chí Trần Văn Tuấn – Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khu vực tỉnh Bắc Giang cho rằng, vừa qua UBND tỉnh đã làm rất tốt trong công tác phối hợp để lập Đồ án quy hoạch tỉnh nhằm tích hợp vào hệ thống quy hoạch quốc gia. Cùng với công tác lập quy hoạch, công tác quản lý quy hoạch trong thời gian qua cũng được UBND tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của các địa phương; quy hoạch vùng, khu vực đã có sự kết nối, hiệu quả.

    Tuy nhiên, còn một số bất cập trong quy hoạch mà các thành viên Đoàn giám sát đã chỉ ra. Vì vậy, trong thời gian tới, các sở, ngành trong tỉnh cần tiếp tục chỉ đạo các địa phương rà soát các quy hoạch ngành, lĩnh vực, các đồ án quy hoạch sử dụng đất đã có để điều chỉnh, bổ sung kịp thời; khắc phục các vấn đề có liên quan việc chồng lấn quy hoạch. Nâng cao tỷ lệ phủ kín các quy hoạch phân khu đô thị, dân cư; các quy hoạch dân cư phải đảm bảo tính đồng bộ về cơ sở hạ tầng xã hội.

    Tăng cường sự lãnh đạo của chính quyền địa phương, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm người đứng đầu trong công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; có biện pháp xử lý đối với những đơn vị sử dụng sai mục đích nhằm bảo vệ quỹ đất thuộc phạm vi quản lý, đảm bảo quyền lợi của người dân trên địa bàn, phát huy có hiệu quả nguồn lực từ đất. Tiếp tục đẩy mạnh lập quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử, tài nguyên tự nhiên, thúc đẩy phát triển các tiềm năng, lợi thế của địa phương./.

                                                                                                                                                                Theo Bacgiang.gov.vn

  • Thành phố Bắc Giang công bố hoàn thành xây dựng nông thôn mới

    Chiều ngày 28/12, UBND thành phố Bắc Giang tổ chức Lễ công bố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (NTM); tổng kết công tác thi đua khen thưởng năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022.

    Dự lễ công bố có các đồng chí: Lê Ánh Dương – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Vũ Trí Hải – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Bắc Giang; Dương Thanh Tùng – Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT; đại diện lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh, Sở Nội vụ tỉnh, Văn phòng Điều phối NTM tỉnh; cùng các đồng chí Thường trực HĐND, UBND thành phố.

    Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương trao Quyết định công nhận thành phố Bắc Giang
    hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2020. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Năm 2021, trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất, kinh doanh, tăng trưởng, phát triển KT-XH và đời sống người dân, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố đã cố gắng, nỗ lực khắc phục khó khăn, tổ chức thực hiện quyết liệt nhiều biện pháp đồng bộ gắn với việc đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả các phong trào thi đua và đạt kết quả khá toàn diện trên các lĩnh vực. Thành phố đã huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, thu hút đông đảo các tầng lớp tham gia thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép” – kiểm soát dịch bệnh, đồng thời phát động các phong trào thi đua với các tiêu chí cụ thể, nội dung thiết thực gắn với nhiệm vụ trọng tâm của từng cơ quan đơn vị, nhiệm vụ chính trị của địa phương. Qua đó, đạt kết quả toàn diện trên các lĩnh vực, hoàn thành và hoàn thành vượt mức 9/9 chỉ tiêu phát triển KT-XH năm 2021 của UBND tỉnh giao.

    Kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, đạt 12,8%; cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước và nhiều đô thị. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Tổng thu ngân sách đạt 3,7 nghìn tỷ đồng, đạt 159% kế hoạch năm, cao nhất so với các địa phương trong tỉnh; 100% chỉ tiêu thu hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch giao. Công tác bồi thường GPMB được chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ hơn tạo chuyển biến rõ nét, hoàn thành nhiều dự án trọng điểm của tỉnh và thành phố; hạ tầng đô thị tiếp tục được đầu tư đồng bộ, hiện đại. Quản lý trật tự đô thị, Tài nguyên – Môi trường được tăng cường, các vi phạm giảm so thời gian trước. Văn hóa xã hội có chuyển biến tiến bộ, duy trì vị trí dẫn đầu tỉnh về giáo dục mũi nhọn; phòng, chống dịch bệnh Covid-19 và thực hiện chính sách an sinh xã hội được đảm bảo.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương tặng hoa chúc mừng UBND thành phố Bắc Giang. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Cải cách hành chính tiếp tục được đẩy mạnh. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định, không để xảy ra điểm nóng, phức tạp. Diện mạo đô thị, chất lượng cuộc sống Nhân dân tiếp tục được cải thiện; Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp tin tưởng, đồng thuận và tích cực tham gia các phong trào thi đua xây dựng và phát triển thành phố.

    Chương trình MTQG xây dựng NTM tiếp tục đạt nhiều kết quả. 100% các xã đã hoàn thành xây dựng 06 thôn đạt chuẩn “thôn NTM kiểu mẫu” năm 2021. Đặc biệt, ngày 11/11/2021 thành phố Bắc Giang đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM năm 2020.

    Qua các phong trào, đã có gần 800 tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc được Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh và thành phố khen thưởng.

    Tại hội nghị, đại diện một số ban, ngành thành phố tham luận chia sẻ kinh nghiệm trong thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh”; công tác giải phóng mặt bằng; vệ sinh môi trường, quản lý đất đai; xây dựng thôn NTM kiểu mẫu; công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KT-XH gắn với phòng, chống dịch Covid-19; bảo đảm trật tự, văn minh đô thị…

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương phát biểu tại lễ công bố. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Phát biểu tại đây, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương chúc mừng và biểu dương những kết quả thành phố Bắc Giang đã đạt được trong năm 2021. Đồng thời, đánh giá cao sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền trong thực hiện các nhiệm vụ, sự sáng tạo, tích cực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thành phố hưởng ứng các phong trào thi đua để vững vàng bước qua đại dịch, bảo đảm an toàn địa bàn góp phần hỗ trợ các địa phương trong tỉnh chống dịch.

    Đồng chí Lê Ánh Dương đề nghị trong năm 2022, thành phố cần tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, giữ vững phong trào thi đua phấn đấu đạt kết quả cao hơn trước. Các đồng chí lãnh đạo và đội ngũ cán bộ thành phố cần đổi mới tư duy, tầm nhìn, tích cực học hỏi các tỉnh đưa thành phố Bắc Giang phát triển mang bản sắc riêng, phấn đấu là đội ngũ “đầu tầu” của tỉnh trong mọi lĩnh vực, nhiệm vụ. Quan tâm quy hoạch kiến trúc, quản lý trật tự đô thị; xây dựng nếp sống văn minh, nét văn hóa riêng của người dân thành phố Bắc Giang.

    Với kết quả đã đạt được trong xây dựng NTM, thành phố cần tiếp tục phát triển toàn diện, không phường, xã, nhiệm vụ nào được coi nhẹ để đưa nông thôn tiến kịp đô thị. Từ đó, củng cố nâng cao chất lượng NTM, chất lượng các tiêu chí, đặc biệt quan tâm tiêu chí về môi trường; từng bước thực hiện kế hoạch chuyển các xã NTM thành phường, tạo sinh kế cho người dân, phát triển các dịch vụ. Cùng với đó, coi trọng công tác xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và xây dựng các mặt trận đoàn thể vững mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân. Đồng chí tin tưởng rằng, với truyền thống của thành phố, người dân thành phố Bắc Giang sẽ thành công nhiều hơn nữa trong những năm tiếp theo.

    Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ
    cho 4 tập thể đã có thành tích xuất sắc trong giai đoạn năm 2016-2020. Ảnh: BGP/Dương Thủy

    Tại buổi lễ, UBND thành phố công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Bắc Giang hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM; trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho cán bộ, Nhân dân thành phố và 4 tập thể, 01 cá nhân. Nhân dịp này, 52 tập thể và cá nhân, hộ gia đình được tặng Bằng khen Chủ tịch UBND tỉnh; 720 đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua năm 2021 được Chủ tịch UBND thành phố khen thưởng .

    Cũng tại buổi lễ, Chủ tịch UBND thành phố Bắc Giang phát động phong trào thi đua quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ KT-XH năm 2022./.

                                                                                                                                                                 Theo Bacgiang.gov.vn

  • Hội nghị trực tuyến tổng kết thực hiện kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2021

    Ngày 29/12, Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ chức Hội nghị trực tuyến tổng kết thực hiện kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2021 và triển khai kế hoạch năm 2022. Đồng chí Phạm Minh Chính – Thủ tướng Chính phủ dự và chủ trì hội nghị tại điểm cầu Trung ương.

    Tại điểm cầu Bắc Giang, đồng chí Lê Ô Pich – Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị. Cùng dự có đồng chí Dương Thanh Tùng – Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT và đại diện lãnh đạo một số sở, ngành, đơn vị liên quan.

    Đồng chí Lê Ô Pich – Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị tại điểm cầu Bắc Giang. Ảnh: BGP/Thu Hằng

    Năm 2021, ngành Nông nghiệp triển khai thực hiện kế hoạch trong điều kiện có những thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen; trong đó dịch bệnh Covid-19 tác động lớn đến đời sống, kinh tế, xã hội, làm đứt gãy các chuỗi cung ứng toàn cầu và gây ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất và hoạt động xuất, nhập khẩu, tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, được sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, đặc biệt Thủ tướng Chính phủ; toàn ngành đã bám sát thực tiễn, nỗ lực vượt khó, vươn lên, quyết liệt hành động với các giải pháp cơ cấu lại ngành, đổi mới mô hình tăng trưởng, khơi thông nguồn lực đầu tư của toàn xã hội. Vì vậy, năm 2021 ngành Nông nghiệp vẫn duy trì được đà tăng trưởng khá cao, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt, vượt mức Chính phủ giao, thể hiện ở trong các lĩnh vực của ngành Nông nghiệp.

    Trong khó khăn, nông nghiệp tiếp tục khẳng định là trụ đỡ của nền kinh tế, phấn đấu vươn lên phát triển bền vững, tham gia sâu vào hội nhập kinh tế toàn cầu, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống. Cơ cấu lại ngành Nông nghiệp đi vào thực chất, hiệu quả hơn; quy mô và trình độ sản xuất được nâng cao, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa trên cơ sở phát huy các lợi thế từng vùng, miền. Thị trường tiêu thụ nông sản tiếp tục phát triển, thị trường trong nước được mở rộng hơn, kịp thời giải quyết các vướng mắc, áp dụng nhiều giải pháp sáng tạo để thúc đẩy lưu thông, tiêu thụ, xuất khẩu trong điều kiện khó khăn.

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành Nông nghiệp còn những hạn chế, tồn tại cần tập trung khắc phục trong trong thời gian tới như: Cơ cấu lại nông nghiệp mặc dù đã đạt nhiều kết quả tích cực nhưng chưa đồng đều; việc tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, thúc đẩy tiêu thụ trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 còn chậm.

    Năm 2022, ngành Nông nghiệp đặt ra mục tiêu phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP ngành khoảng 2,8 – 2,9%, tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trên 2,9 – 3%. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản khoảng 49 tỷ USD, tỷ lệ che phủ rừng ổn định mức 42% và nâng cao chất lượng rừng.

    Để thực hiện mục tiêu trên, thời gian tới, ngành Nông nghiệp tập trung triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như: Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Phát triển kết cấu hạ tầng; tăng cường quản lý tài nguyên, kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng rừng, bảo vệ tốt và nâng cao chất lượng rừng tự nhiên. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi nông nghiệp số.

    Đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu tỉnh Bắc Giang. Ảnh: BGP/Thu Hằng

    Tại hội nghị, các đại biểu tập trung thảo luận các vấn đề còn tồn tại của ngành Nông nghiệp trong năm 2021. Một số đại biểu đề xuất Chính phủ về những nội dung như hỗ trợ người chăn nuôi bị thiệt hại do dịch bệnh; chính sách trồng rừng gỗ lớn; ban hành cơ chế, chính sách đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hữu cơ và kinh tế tuần hoàn; ưu tiên phát triển năng lượng sạch, năng lượng mặt trời; hạn chế việc sử dụng diện tích đất nông nghiệp xây dựng các công trình; sớm ban hành pháp lý việc xử lý mạo danh nguồn gốc, tem, nhãn hàng hóa nông sản; bảo hộ nông sản trong nước, nước ngoài. Một số hiệp hội, ngành hàng cũng đề nghị Chính phủ linh hoạt về lãi suất và thời gian trả nợ vốn vay ngân hàng của doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản Việt Nam.

    Phát biểu kết luận hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá cao những nỗ lực, cố gắng, trách nhiệm của toàn ngành Nông nghiệp. Đồng thời chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và phân tích nguyên nhân của những thành tựu đạt được.

    Thủ tướng yêu cầu ngành Nông nghiệp nâng cao tầm chiến lược, tổ chức hiệu quả để mang lại giá trị cao hơn, đặt mục tiêu tăng tưởng từ 3% trở lên trong năm 2022. Đồng thời bám sát cụ thể hóa đường lối chủ trương và chính sách phát triển, coi trọng công tác xây dựng chiến lược, thể hiện tầm nhìn xa tư duy đổi mới. Rà soát thể chế để phát triển nông nghiệp bền vững theo hướng chiều sâu, phát triển năng suất lao động dựa vào chuyển đổi số trong thời đại công nghệ 4.0. Bên cạnh đó, đẩy mạnh cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền theo cá thể chịu trách nhiệm. Nâng cao năng lực, trí tuệ phẩm chất cán bộ, nhất là người đứng đầu để tập trung vào hiệu quả của ngành Nông nghiệp. Đa dạng hóa thị trường tiêu thụ nông sản, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa trong nước. Xây dựng cạnh tranh, nâng cao thương hiệu tận dụng tối đa chính sách từ các Hiệp định thương mại Việt Nam đã tham gia.

    Thủ tướng cũng yêu cầu ngành Nông nghiệp quan tâm sản xuất sản phẩm xuất khẩu chính ngạch, phát triển kinh tế biển bền vững, đặc biệt là thẻ vàng EC hiện nay vẫn chưa được tháo gỡ nên mục tiêu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Các Bộ, ngành quan tâm bao phủ vắc xin cho toàn dân, phát triển kinh tế vùng, nâng cao đời sống tinh thần vật chất của người dân vùng sâu xa, đảm an sinh xã hội vùng nông thôn, thu nhập của người dân ngày càng được nâng cao./.

                                                                                                                                                  Theo Bacgiang.gov.vn

  • Tình hình thực hiện các dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn tỉnh năm 2021

    Tình hình thực hiện các dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn tỉnh năm 2021

    Tình hình thực hiện các dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn tỉnh năm 2021; kế hoạch triển khai thực hiện quý I năm 2022 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2022

    I. CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG

    1. Dự án Phát triển các đô thị dọc hành lang tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) lần 2, vay vốn ADB – Dự án thành phần tỉnh Bắc Giang

    1.1Tình hình thực hiện

    Đối với Hạng mục bổ sung cầu Á Lữ và đường dẫn phía Tây: Chủ đầu tư đang gửi hồ sơ mời thầu tới Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) để xin ý kiến.

    Giá trị khối lượng thực hiện trong năm ước đạt 55,23 tỷ đồng; lũy kế giá trị thực hiện từ đầu dự án đến nay 507,164 / 542,790 tỷ đồng, tương đương 93,44% giá trị gói thầu.

    Kế hoạch bố trí vốn trong năm đạt 187,430 tỷ đồng; kế hoạch vốn bố trí từ đầu dự án đạt 593,964 tỷ đồng (trong đó điều chỉnh giảm 01 tỷ đồng ngân sách thành phố); giá trị giải ngân từ đầu năm đạt 41,65 tỷ đồng; giá trị giải ngân từ đầu dự án đạt 448,189 tỷ đồng, tương đương 75,46%.

    1.2. Khó khăn, vướng mắc

    Bộ Tài chính, Ngân hàng phát triển Châu Á chưa có ý kiến về gia hạn ngày đóng khoản vay đến ngày 30/6/2023.

    1.3. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022

    Thi công cơ bản hoàn thành hạng mục cầu Á Lữ và đường dẫn phía Tây.

    1.4. Kế hoạch thực hiện quý I/2022

    – Quyết toán xong các gói thầu từ BG1 đến BG5;

    – Làm việc với ADB, Bộ KHĐT, Bộ Tài chính… về gia hạn Hiệp định sử dụng phần vốn dư để đầu tư xây dựng cầu Á Lữ và đường dẫn phía Tây; gia hạn ngày đóng khoản vay đến ngày 30/6/2023.

    – Tổ chức lựa chọn nhà thầu xây lắp và thi công hạng mục cầu Á Lữ và đường dẫn phía Tây.

    2. Tiểu dự án sửa chữa và nâng cao an toàn hồ đập (WB8) tỉnh Bắc Giang

    2.1. Tình hình thực hiện dự án

    a. Về thủ tục pháp lý

    – Đã điều chỉnh bổ sung thiết kế BVTC-DT một số hạng mục công trình và gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng các gói thầu xây lắp của 04 hồ huyện Lục Nam đến 20/12/2021.

    – Đã trình thẩm định, phê duyệt quy trình vận hành hồ chứa nước.

    – Ngân hàng Thế giới (WB) đã thông qua EPP.

    b. Về công tác GPMB: Đã cơ bản hoàn thành; riêng hồ Đồng Man và Bầu Lầy huyện Lục Ngạn còn vướng mắc 02 hộ dân.

    c. Về công tác thi công: Đang triển khai thi công 11/11 hồ, một số hạng mục chậm tiến độ như: Nhà quản lý của Hồ Bầu Lầy và Hồ Đồng Man do đến nay vẫn chưa giải phóng được mặt bằng.

    d. Giá trị thực hiện từ đầu năm đạt 124,50 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án là 169,5 / 171,5 tỷ đồng đạt 98,83%.

    đ. Giá trị giải ngân trong năm là 72,79 tỷ đồng, đạt 100%; lũy kế giá trị giải ngân từ đầu dự án đến nay 132,402 tỷ đồng.

    2.2. Khó khăn, vướng mắc

    Vướng mắc trong công tác GPMB tại 02 hồ Đồng Man và Bầu Lầy huyện Lục Ngạn, còn 02 hộ ông Hoàng Văn Pảo và Leo Văn Ba không đồng ý thu hồi đất mặc dù huyện đã vận động nhiều lần.

    2.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác GPMB đến tháng 11/2021 mới cơ bản hoàn thành (chậm khoảng 01 tháng). Trách nhiệm thuộc về UBND huyện Lục Ngạn.

    – Công tác thi công một số hồ chậm so với kế hoạch (khoảng 01 tháng).

    2.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022

    Hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và quyết toán dự án.

    2.5. Kế hoạch thực hiện quý I/2022

    Hoàn thành nghiệm thu công trình của 11 hồ.

    3. Dự án Nâng cấp, mở rộng đường gom bên trái tuyến QL1 đoạn từ nút giao QL31 đến nút giao Hùng Vương và cải tạo nút giao Hùng Vương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

    3.1. Tình hình thực hiện dự án

    – Thủ tục pháp lý: Đang tổ chức lựa chọn nhà thầu xây lắp công trình cầu vượt Hùng Vương mở rộng.

    – Công tác GPMB: Ngày 26/11/2021, Trung tâm quỹ đất trình phương án bồi thường GPMB Trung tâm thương mại BigC phần dự án điều chỉnh, bổ sung.

    – Giá trị khối lượng thực hiện trong năm đạt 54,456 tỷ đồng, lũy kế từ đầu dự án đạt 77,458 tỷ đồng; giá trị giải ngân trong năm đạt 100% (46,106 tỷ đồng); lũy kế từ đầu dự án đạt 80,3 tỷ đồng.

    3.2. Khó khăn, vướng mắc: Không.

    3.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác điều chỉnh, bổ sung Báo cáo NCKT dự án chậm 01 tháng do phải giải quyết vướng mắc về chồng lấn giữa dự án cũ và dự án điều chỉnh.

    3.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Thi công hoàn thành công trình.

    3.5. Kế hoạch thực hiện quý I/2022

    Thi công thi công hoàn thành cọc khoan nhồi các trụ T9, T10, mố M1; thi công xong bệ đúc dầm; thi công nền đường tuyến nhánh và hệ thống thoát nước.

     

    4. Dự án Đường nối từ QL37 – QL17 – ĐT292 (đoạn từ Việt Yên, Tân Yên, Lạng Giang), tỉnh Bắc Giang:

    4.1. Tình hình thực hiện

    * Công tác GPMB:

    – Huyện Việt Yên: Bàn giao mặt bằng được 6,1/7,0Km; đang thực hiện dịch chuyển công trình công.

    – Huyện Tân Yên: Bàn giao mặt bằng được 5,12/9,3Km; đang thực hiện dịch chuyển công trình công.

    – Huyện Lạng Giang: Đã cơ bản bàn giao xong mặt bằng được 2/2Km, tuy nhiên trên tuyến vẫn còn rải rác một số vị trí hộ dân chưa đồng ý về đất ở và đất nông nghiệp.

    * Công tác thi công:

    – Gói thầu số 5a: Thi công hoàn thành nền đường; đang thi công móng cấp phối đá dăm được 1,5/4,9Km; thi công cơ bản hoàn thành kết cấu phần dưới cầu Lái Nghiên.

    – Gói thầu số 5b: Thi công nền đường được 2,5/5,0Km; đang thi công hệ thống thoát nước ngang.

    – Gói thầu số 5c: Thi công nền đường được 1,3/7,6Km và đang tiếp tục chiếm lĩnh mặt bằng và thi công hệ thống thoát nước ngang.

    – Gói thầu số 6 (cầu vượt sông Thương): Thi công xong kết cấu phần dưới; đang thi công khối K0 trên trụ T4; lao lắp dầm xong nhịp 1, 2; thi công xử lý nền đất yếu đường hai đầu cầu.

    * Giá trị thực hiện từ đầu năm ước đạt 163,8 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án đạt 165,95 tỷ đồng.

    * Giá trị giải ngân trong năm đạt 100% (135 tỷ đồng), lũy kế từ đầu dự án đạt 136,1 tỷ đồng.

    4.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc:

    – Đến nay đã bố trí bổ sung vốn là 55 tỷ đồng, tuy nhiên chưa đáp ứng để giải ngân chi phí xây lắp và mặt bằng.

    – Công tác GPMB:

    + Huyện Việt Yên: Xã Nghĩa Trung có 07 hộ thuộc diện cần bố trí tái định cư nhưng chưa có vị trí quy hoạch để tái định cư; xã Thượng Lan còn 01 thửa chung của 06 hộ đang có tranh chấp.

    + Huyện Tân Yên: Công tác quy chủ gặp nhiều khó khăn do bản đồ địa chính hiện trạng có nhiều thay đổi; 05 hộ gia đình, cá nhân thuộc xã Ngọc Lý có tài sản xây dựng trên đất nuôi trồng thủy sản sau ngày 01/7/2014 đòi hỗ trợ kinh phí tài sản (tuy nhiên theo quy định không được đền bù).

    • Huyện Lạng Giang: 03 hộ có tài sản trên bờ của sông, ngòi, các hộ đề nghị được bồi thường về đất và tài sản; chưa thực hiện dịch chuyển công trình công trên tuyến.

    * Nguyên nhân:

    – Huyện Lạng Giang đã bàn giao mặt bằng cho nhà thầu thi công, tuy nhiên thực tế nhà thầu đang thi công cầm chừng, đặc biệt gói thầu số 5c người dân cản trở thi công do chưa được nhận tiền bàn giao mặt bằng sớm.

    – Huyện Tân Yên thực hiện công tác GPMB và giải quyết khó khăn vướng mắc còn chậm.

    4.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác GPMB huyện Tân Yên và Lạng Giang chậm ảnh hưởng đến tiến độ thi công.

    – Công tác thi công: Gói thầu số 6 đáp ứng tiến độ; Gói thầu số 5a cơ bản đáp ứng tiến độ; Gói thầu số 5b, 5c chậm 2 tháng so với kế hoạch.

    4.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022

    – Thi công cơ bản hoàn thành Gói thầu số 5a, Gói thầu số 5b và Gói thầu số 06 (thi công cầu vượt Sông Thương).

    – Gói thầu số 5c: Thi công cơ bản xong móng CPĐD loại I đạt 5/7,6Km và hệ thống thoát nước; cơ bản hoàn thành cầu Nghĩa Trung.

    4.5. Kế hoạch thực hiện trong quý I/2022

    – Gói thầu số 5a: Thi công hoàn thành nền đường K95, K98, cống ngang; móng CPĐD loại II đạt 3,5/4,9Km; thi công hoàn thiện mố M1, M2 và lao lắp dầm cầu Lái Nghiên.

    – Gói thầu số 5b: Thi công hoàn thành nền đường K95, K98, cống ngang; móng CPĐD loại II đạt 3/5Km.

    – Gói thầu số 5c: Thi công hoàn thành nền, móng CPĐD loại II đạt 4,0/7,6Km; thi công hệ thống thoát nước.

    – Gói thầu số 6: Lắp đặt dầm nhịp 3 (lũy kế đạt 3/6 nhịp); xong bản mặt cầu phía Tân Yên; xong 11/11 khối K trên trụ T4; đúc xong dầm.

    5. Dự án Cải tạo, nâng cấp ĐT 298 (đoạn từ Đình Nẻo đi Việt Yên)

    5.1. Tình hình thực hiện

    * Công tác GPMB:

    – Huyện Tân Yên: Cơ bản hoàn thành đạt 8,5/8,5Km. Hiện đang giải quyết vướng mắc của một số hộ đất ở.

    – Huyện Việt Yên: Bàn giao mặt bằng trên tuyến đạt 8/9,5Km, hiện đang giải quyết vướng mắc của đất ở và thực hiện dịch chuyển công trình công.

    * Công tác thi công công trình:

    – Gói thầu số 07: Thi công móng CPĐD loại II được 6,2/10,5Km; móng CPĐD loại I được 1,0/10,5Km; rãnh dọc B60 đạt 5.750/8.682m; 15/28 cống ngang đường.

    – Gói thầu số 08: Thi công móng CPĐD loại II đạt 3,8/7,5Km; rãnh dọc B60 được 5.000/8.825m; thi công được 07/15 cống ngang và 10 cống đường dân sinh; đúc được 22/24 phiến dầm cầu, thi công xong đường tạm và thi công cọc khoan nhồi đạt 05/15 cọc.

    * Giá trị thực hiện: Tính từ đầu năm ước đạt 50,037 tỷ đồng; lũy kế thực hiện từ đầu dự án đạt 51,670 tỷ đồng;

    * Giá trị giải ngân từ đầu năm đạt 100% (90 tỷ đồng); lũy kế từ đầu dự án 90,75 tỷ đồng.

    5.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc:

    – Huyện Tân Yên: Khó khăn trong việc xác định diện tích đất ở trong phạm vi GPMB.

    – Huyện Việt Yên: Trên tuyến đã bàn giao phạm vi dự án thuộc hành lang ATGT tuy nhiên còn một số hộ chưa tự tháo dỡ gây khó khăn cho thi công.

    5.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác GPMB huyện Việt Yên chậm 02 tháng;

    – Công tác thi công: Chậm 01 tháng.

    5.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Hoàn thành toàn bộ công trình.

    5.5. Kế hoạch thực hiện trong quý I/2022: Thi công đạt 70% khối lượng hạng mục nền, móng đường, hệ thống thoát nước và hạng mục cầu Sim.

    6. Dự án: Đường nối QL 37-QL 17-Võ Nhai (Thái Nguyên), tỉnh Bắc Giang:

    6.1. Tình hình thực hiện

    * Công tác GPMB

    – Tuyến nhánh ĐT294: Bàn giao được 4,15/11,38Km (địa phận huyện Tân Yên). Tuyến chính: Bàn giao xong 3,0/3,0Km (địa phận huyện Việt Yên).

    * Thủ tục thực hiện dự án: Khởi công gói thầu xây lắp số 08, 09; đang tổ chức lựa chọn nhà thầu xây lắp tuyến chính.

    * Công tác thi công:

    – Gói thầu số 08: Thi công nền đường K95; thi công rãnh dọc được 895/5.839m.

    – Gói thầu số 09: Thi công nền đường, móng CPĐD loại I, II; rãnh dọc B60 được 279/7.606m.

    * Giá trị thực hiện từ đầu năm ước đạt 69,395 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án đạt 70,278 tỷ đồng.

    * Giá trị giải ngân từ đầu năm đạt 100% (340,0 tỷ đồng); lũy kế từ đầu dự án đạt 340,8 tỷ đồng.

    6.2. Khó khăn, vướng mắc

    Công tác GPMB:

    + Huyện Tân Yên: Công tác xác định lại chỉ giới đất đã thu hồi của các dự án đã triển khai trên ĐT294 trước đây gặp nhiều khó khăn.

    + Huyện Yên Thế: Bản đồ địa chính của một số xã (An Thượng và Tiến Thắng) không chính xác với thực tế phải tiến hành đo đạc, chỉnh lý lại; một số trường hợp xâm canh, xen canh và lấn chiếm đất rừng thuộc xã Canh Nậu và Đồng Tiến.

    6.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác bàn giao mặt bằng huyện Việt Yên, Tân Yên đáp ứng tiến độ;

    – Công tác bàn giao mặt bằng của huyện Yên Thế chậm 02 tháng (đến nay chưa bàn giao mặt bằng thi công);

    – Lựa chọn nhà thầu và khởi công công trình đáp ứng tiến độ.

    6.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022

    – Thi công cơ bản hoàn thành tuyến nhánh ĐT.294.

    – Tuyến chính: Thi công nền đường, hệ thống thoát nước trên tuyến được 20/42Km, thảm BTN được 10/42Km, hoàn thành 07/07 công trình cầu.

    6.5. Kế hoạch thực hiện trong quý I/2022

    – Gói thầu số 07: Thi công đào đắp nền đường và cống ngang đạt 3,0/42,0Km.

    – Gói thầu số 08: Thi công cơ bản hoàn thành mặt đường, an toàn giao thông đạt 1,5/7,5 Km;

    – Gói thầu số 09: Thi công cơ bản hoàn thành mặt đường, an toàn giao thông đạt 2,5/6,4Km.

    7. Dự án Xây dựng đường và cầu kết nối huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang với thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (đoạn từ QL37 đến cầu Hòa Sơn):

    7.1. Tình hình thực hiện

    * Công tác GPMB:

    – Đã bàn giao mặt bằng được 9,2/10 Km, quy chủ xong 06/06 xã, thị trấn;

    – Đang lựa chọn nhà thầu dịch chuyển công trình công;

    * Công tác thi công:

    – Gói thầu số 08: Đào đắp nền đường được 1,3/4,0Km; chiếm lĩnh mặt bằng được 1,9/4Km.

    – Gói thầu số 09: Đào đắp nền đường được 1,5/4,0Km; chiếm lĩnh mặt bằng được 3,1/6,0Km.

    – Gói thầu số 10: Thi công xong bệ đúc dầm và đang triển khai thi công cọc khoan nhồi.

    * Giá trị khối lượng thực hiện từ đầu năm ước đạt 58,186 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án đạt 59,709 tỷ đồng.

    * Giá trị giải ngân từ đầu năm đạt 100% (50 tỷ đồng); lũy kế từ đầu dự án đạt 50,8 tỷ đồng.

    7.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc:

    – Nguồn vốn: Đến nay dự án chưa bố trí vốn để giải ngân cho các nhà thầu thi công trong năm 2021 (mới chỉ bố trí vốn để thực hiện công tác GPMB).

    – Công tác GPMB:

    + Đất nông nghiệp còn vướng mắc 17 hộ và đang chi trả 72 hộ thuộc xã Lương Phong từ ngày 07/12/2021;

    + Đất ở và đất vườn còn vướng 63 hộ chưa trả tiền.

    * Nguyên nhân: Công tác triển khai trình đơn giá đền bù GPMB và thủ tục GPMB đối với đất ở của UBND huyện Hiệp Hòa còn chậm.

    7.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác GPMB phạm vi nút giao QL37 và đoạn từ nút giao ĐT295 đến nút giao ĐT296 và công trình cầu Hoà Sơn chưa hoàn thành (trước ngày 25/11/2021) theo ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh.

    7.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022:

    Thi công hoàn thành gói thầu số 08, số 09.

    7.5. Kế hoạch thực hiện trong quý I/2022

    – Thi công cơ bản hoàn thành nền đường, hệ thống thoát nước ngang đoạn Km0 – Km10+00;

    – Thi công cơ bản hoàn thành cọc khoan nhồi trụ T4, T5, T6 cầu Hoà Sơn.

    8. Dự án: Xây dựng đường và cầu Hà Bắc 2, nối tuyến nhánh 02 đường Vành đai IV với khu công nghiệp Yên Phong và QL18, tỉnh Bắc Ninh

    8.1. Tình hình thực hiện

    * Công tác GPMB:

    – Phía Bắc Giang đã cơ bản hoàn thành.

    – Huyện Yên Phong: Hoàn thành trích đo bản đồ địa chính (hiện trạng) khu đất. Ban QLDA đã ký Văn bản trình Sở TNMT tỉnh Bắc Ninh thẩm định, phê duyệt ngày 30/11/2021.

    * Thủ tục dự án: Lựa chọn nhà thầu và khởi công công trình gói thầu số 09, 10 ngày 30/11/2021.

    * Công tác thi công:

    – Gói thầu số 09: Đang thi công nền đường.

    – Gói thầu số 10: Tập kết máy móc, nhân lực; đang triển khai thi công đường công vụ.

    * Giá trị khối lượng thực hiện dự án từ đầu năm ước đạt 20,16 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án đạt 20,16 tỷ đồng.

    * Giá trị giải ngân từ đầu năm đạt 100% (31 tỷ đồng); lũy kế từ đầu dự án đạt 31 tỷ đồng.

    8.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân: Không.

    8.3. Nhận xét đánh giá: Đáp ứng tiến độ thực hiện.

    8.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022:

    – Gói thầu số 09: Thi công hoàn thành công trình;

    – Gói thầu số 10: Thi công cơ bản hoàn thành kết cấu phần dưới và đúc xong dầm.

    8.5. Kế hoạch thực hiện trong quý I/2022

    – Gói thầu số 09: Thi công nền đường, hệ thống thoát nước;

    – Gói thầu số 10: Thi công mố nhô phục vụ thi công; thi công cầu cấp bê tông; thi công xong cọc khoan nhồi mố M2, trụ T8 và cọc khoan nhồi trụ T4 (dưới sông).

    9. Dự án Cải tạo, nâng cấp ĐT 291 trên địa bàn huyện Sơn Động

    9.1. Tình hình thực hiện

     * Về GPMB: Đã bàn giao mặt bằng thi công được 10,35/16,132Km.

    * Thủ tục thực hiện dự án: Đã lựa chọn xong các nhà thầu thi công.

    * Về công tác thi công:

    – Gói thầu số 08a: Thi công đào nền đường 2,0/7,0Km; thi công rãnh dọc 2,0/7,0Km;

    – Gói thầu số 08b: Thi công cọc khoan nhồi cầu Lâm Trường, cầu Trại Mới; thi công nền đường được 1,0/3,0Km;

    – Gói thầu số 09: Đang đào nền đường 1,4/6,13Km; đang đắp nền đường được 0,65/6,13Km.

    * Giá trị khối lượng thực hiện từ đầu năm ước đạt 32,104 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án đạt 33,965 tỷ đồng.

    * Giá trị giải ngân từ đầu năm đạt 100% (20,0 tỷ đồng); lũy kế từ đầu dự án đạt 20,75 tỷ đồng.

    9.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    Nguồn vốn bố trí cho dự án đến nay là 20 tỷ đồng chưa đủ để chi trả tiền GPMB (hiện đang vay Quỹ đầu tư phát triển của tỉnh 38 tỷ đồng để chi trả tiền GPMB); chưa có nguồn vốn để tạm ứng, thanh toán cho các nhà thầu.

    9.3. Nhận xét, đánh giá

    – Công tác bồi thường GPMB còn chậm.

    – Khởi công gói thầu xây lắp 08a, 08b tháng 9/2021 đảm bảo kế hoạch.

    9.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022:

    – Gói 8a: Thi công hoàn thành đoạn từ Km0-Km5; hoàn thành kết cấu nền đường, thoát nước đoạn từ Km5-Km7.

    – Gói 8b: Thi công cơ bản hoàn thành mặt đường.

    – Gói 09: Thi công cơ bản hoàn thành đoạn từ Km13 – Km16; hoàn thành nền đường, thoát nước đoạn từ Km10 – Km13.

    9.5. Kế hoạch thực hiện trong quý I/2022

    – Gói thầu số 8a: Thi công phần nền đường và cống ngang qua đường đoạn từ Km2 – Km5; thảm BTN mặt đường đoạn từ Km0 – Km1.

    – Gói thầu số 8b: Thi công nền đường và cống ngang đường đoạn từ Km8+500 – Km10; thảm BTN mặt đường đoạn từ Km7+200 – Km8; thi công hoàn thành cọc khoan nhồi, đúc dầm các cầu Trại Mới, cầu Lâm Trường, cầu Sông Om.

    – Gói thầu số 09: Thi công phần nền đường và cống ngang qua đường đoạn từ Km10+00 – Km12, Km14 – Km15; thảm BTN mặt đường đoạn từ Km15+500 – Km16; thi công hoàn thành cọc khoan nhồi cầu Thác Vọt.

    10. Dự án Xây dựng mới trạm bơm cống Chản

    10.1. Tình hình thực hiện

    * Công tác GPMB: UBND huyện đang lập phương án GPMB.

    * Thủ tục thực hiện dự án: Đang đánh giá lựa chọn nhà thầu xây lắp (mở thầu ngày 16/11/2021).

    * Giá trị khối lượng thực hiện từ đầu năm đạt 12,563 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án đạt 12,563 tỷ đồng.

    * Giá trị giải ngân từ đầu năm và đầu dự án đạt 27,0 tỷ đồng.

    10.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân

    * Khó khăn, vướng mắc: Công tác GPMB chậm.

    * Nguyên nhân, trách nhiệm: UBND huyện Lục Nam chưa tập trung thực hiện công tác GPMB.

    10.3. Nhận xét đánh giá

    – Công tác GPMB chậm khoảng 04 tháng.

    – Công tác lựa chọn nhà thầu thi công: Đảm bảo khởi công công trình trong tháng 12/2021.

    10.4. Nhiệm vụ trọng tâm quý I/2022

    – Hoàn thành gia cố nền bằng cọc bê tông các hạng mục công trình.

    – Thi công cống xả qua đê.

    10.5. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022

    – Thi công hoàn thành cống xả qua đê, gia cố kênh tiêu tự chảy trong tháng 5/2022.

    – Thi công hoàn thành phần nhà trạm, bể xả, bể hút đảm bảo điều kiện để lắp máy bơm trong tháng 12/2022.

    – Thi công hoàn thành đường dây trung thế và trạm biến áp, nhà quản lý, nhà kho trong tháng 12/2022.

     14. Dự án Khối nhà trung tâm, khối nhà chuyên khoa đặc thù, khoa truyền nhiễm và các hạng mục phụ trợ của Bệnh viện Đa khoa tỉnh 

    14.1. Tình hình thực hiện dự án

    * Công tác thi công xây dựng:

    – Khối nhà chuyên khoa đặc thù (7 tầng): Đã khởi công xây dựng tháng 11/2021, hiện đang tiến hành thí nghiệm cọc và thi công đúc cọc đại trà.

    – Các hạng mục phụ trợ, hạng mục khác: Đã hoàn thành.

    * Giá trị khối lượng thực hiện:

      Giá trị khối lượng thực hiện trong năm ước đạt 343,329 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án đạt 613,660/795,438 tỷ đồng, tương đương 77,15%.

    * Kế hoạch bố trí vốn và giá trị giải ngân:

    Kế hoạch bố trí vốn trong năm đạt 188,148 tỷ đồng; lũy kế vốn bố trí từ đầu dự án đạt 625,540 tỷ đồng; giá trị giải ngân đến nay đạt 100%.

    14.2. Khó khăn, vướng mắc: Không.

    14.3. Nhận xét đánh giá:

    Tiến độ khởi công xây dựng Khối nhà chuyên khoa đặc thù (7 tầng) chậm khoảng 02 tháng.

    14.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022

    Hoàn thành thi công xây dựng các hạng mục công trình.

    14.5. Kế hoạch thực hiện quý I/2022

    Hoàn thành xây dựng phần móng Khối nhà chuyên khoa đặc thù (7 tầng).

    II. CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC PPP

    1. Dự án Xây dựng ĐT289 kéo dài (đoạn từ thị trấn Chũ đi Đồng Đỉnh, nối QL31 với ĐT293); đường Nguyễn Thị Minh Khai kéo dài; hệ thống tiêu thoát nước và giao thông khu A, B thuộc Khu đô thị phía Nam thành phố Bắc Giang

    1.1. Tiến độ thực hiện:

    a. Dự án BT:

    * Thủ tục pháp lý: Nhà đầu tư chưa trình lại tổng dự toán công trình; chưa trình kế hoạch huy động vay vốn thương mại.

    * Công tác BT GPMB: Còn lại 6 ngôi mộ cạnh nghĩa trang Đồng Ngục hạng mục Hệ thống tiêu thoát nước và giao thông khu A, B chưa di chuyển.

    * Công tác thi công:

    – Hạng mục hệ thống tiêu thoát nước và giao thông khu A, B:

    + Đang thi công đào lòng hồ, đắp mái kè hồ; đắp đất nền tuyến đường dạo đi bộ.

    + Thi công xong nền đường, CPĐD loại II tuyến N1 và tuyến N3, đang thi công lắp đặt cống dọc tuyến R3, nền đường đi bộ khoảng 4.150m/7.066m.

    * Giá trị khối lượng thực hiện tính từ đầu năm ước đạt 192 tỷ đồng; lũy kế từ đầu dự án đạt 575/769,9 tỷ đồng đạt 74,7% giá trị dự án BT.

    b. Dự án đối ứng (dự án khác):

    * Công tác BT GPMB: Đã thu hồi và chi trả được 42,44/43,242 ha; bàn giao được 26,38/41,88 ha cho Nhà đầu tư để thi công.

    * Công tác thi công: Đang tiến hành san nền, đào đất không thích hợp và đắp nền đường.

    * Giá trị khối lượng thực hiện đạt 148,5/587 tỷ đồng tương đương 25,29% giá trị dự án đối ứng.

    * Công tác thanh toán dự án BT: Đang thực hiện thanh toán giá trị khối lượng hoàn thành.

    1.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân:

    * Khó khăn, vướng mắc:

    – Nhà đầu tư chưa trình lại phê duyệt Tổng dự toán công trình; chưa trình kế hoạch huy động vay vốn thương mại;

    – Về công tác GPMB: còn 6 ngôi mộ chưa di chuyển thuộc Hạng mục tiêu thoát nước và giao thông khu A, B;

    – Công tác thi công hệ thống tiêu thoát nước và giao thông khu A, B chậm khoảng 6 tháng so với kế hoạch.

    * Nguyên nhân:

    – Nhà Đầu tư chậm thực hiện thủ tục trình thẩm định, phê duyệt tổng dự toán công trình;

    – Về công tác thi công: Hạng mục tiêu thoát nước và giao thông khu A, B thi công chậm do công tác GPMB chậm.

    1.3. Nhận xét, đánh giá:

    – Công tác trình phê duyệt Tổng dự toán công trình chậm khoảng 2 năm (theo kế hoạch trình tháng 4/2019 tuy nhiên đến nay Nhà đầu tư chưa trình) làm chậm ký kết phụ lục hợp dự án.

    – Công tác GPMB hạng mục Hệ thống tiêu thoát nước và giao thông khu A, B của dự án chậm khoảng 12 tháng do dự án phải điều chỉnh bổ sung theo đề nghị của Nhân dân và do điều chỉnh quy hoạch.

    – Công tác thi công: Chậm 6 tháng (do GPMB chậm, điều chỉnh, bổ sung).

    1.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Thi công hoàn thành dự án BT.

    1.5. Kế hoạch thực hiện trong quý I/2022:

    – Hoàn thành công tác GPMB hạng mục hệ thống tiêu thoát nước và giao thông Khu A, B để bàn giao mặt bằng cho Nhà đầu tư thi công.

    – Thi công cơ bản hoàn thành nền mặt đường các tuyến N1, N3, N4, R3, các tuyến đường dạo; hệ thống thoát nước; thi công hoàn thành công tác đào đắp hồ; thi công chân khay lát mái kè hồ 80% khối lượng; thi công san lấp dải cây xanh 80% khối lượng.

    2. Dự án Đầu tư nâng cấp, cải tạo tuyến ĐT292 huyện Lạng Giang

    2.1. Tình hình thực hiện dự án:

    a. Dự án BT:

    * Công tác bồi thường GPMB:

    – Đất hành lang giao thông và đất nông nghiệp: Đã cơ bản hoàn thành.

    – Đất ở còn chậm so với kế hoạch. Cụ thể:

    + Thị trấn Kép: Còn 04 hộ chưa nhận tiền do vướng mắc về diện tích, loại đất bồi thường;

    + Xã Nghĩa Hưng: Đã giải phóng được 09/18 hộ, còn 09 hộ có thắc mắc về diện tích thu hồi.

    + Xã An Hà, Nghĩa Hòa: còn 108 hộ thuộc phố Bằng đang thực hiện điều chỉnh giảm quy mô mặt cắt để hạn chế thực hiện GPMB.

    * Công tác thi công: Đã thông xe cầu Nghĩa Hưng và cầu Đồng; hạng mục đường đã thi công thảm lớp 1 được 7,3/8,2Km đảm bảo so với kế hoạch.

    * Giá trị khối lượng thực hiện năm 2021 và lũy kế từ đầu dự án ước đạt 81,474/165,803 tỷ đồng đạt 49,4% giá trị dự án BT.

    b) Dự án đối ứng dự án BT:

    * Công tác bồi thường GPMB: Đã bồi thường GPMB được 239/252 hộ, còn 13 hộ chưa đồng thuận.

    2.2. Khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân:

    a) Đối với dự án BT:

    – Giải phóng mặt bằng: Công tác GPMB liên quan đến đất thổ cư còn chậm do việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ và giao đất những năm trước không rõ ràng về ranh giới, hình dạng thửa đất, nhiều thửa đất không phù hợp với hiện trạng sử dụng. Trách nhiệm thuộc về UBND huyện Lạng Giang.

    b) Đối với dự án đối ứng:

    Công tác chuẩn bị đầu tư dự án chậm do Nhà đầu tư chưa có sự phối hợp với UBND huyện Lạng Giang.

    2.3. Nhận xét, đánh giá:

    a) Đối với dự án BT:

    – Về GPMB: Mặt bằng thi công tuy có vướng mắc các hộ đất ở và các hạng mục công trình công, song đến thời điểm hiện tại vẫn đảm bảo mặt bằng để nhà đầu tư thi công với chiều dài tuyến có thể thi công 7,3/8,3Km.

    – Về tiến độ thi công: Tiến độ thi công dự án đến thời điểm hiện tại đảm bảo với kế hoạch.

    b) Đối với dự án đối ứng:

    – Thủ tục pháp lý: Công tác chuẩn bị đầu tư thực hiện chậm. Trách nhiệm thuộc Nhà đầu tư.

    – Về GPMB: Công tác GPMB cơ bản hoàn thành theo kế hoạch.

    2.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022

    a) Đối với dự án BT:

    – Hoàn thành công tác bồi thường GPMB trong tháng 01/2022.

    – Đôn đốc nhà đầu tư tập trung cao đẩy nhanh tiến độ thi công các hạng mục còn lại hoàn thành trong quý I/2022. Bàn giao công trình đưa vào sử dụng trong tháng 3/2022. Quyết toán dự án trong năm 2022.

    b) Dự án đối ứng dự án BT:

    – Đôn đốc, phối hợp với nhà đầu tư hoàn thiện hồ sơ trình phê duyệt dự án trong quý I/2022; phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công tháng 3/2022; khởi công trong quý II/2022.

    – Hoàn thành công tác bồi thường GPMB dự án khác trong quý I/2022.

    2.5. Kế hoạch thực hiện trong quý I/2022

    a) Đối với dự án BT:

    – Thi công hoàn thành công trình.

     b) Dự án đối ứng dự án BT:

    – Hoàn thành công tác bồi thường GPMB dự án.

    – Phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công.

    3. Dự án Xây dựng đường vành đai thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn

    3.1. Tình hình thực hiện:

    a) Dự án BT

    * Công tác GPMB: Đã kiểm kê xong 235/247 tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị ảnh hưởng thu hồi; đã phê duyệt phương án đợt 1 của 14 hộ gia đình, cá nhân nhưng các hộ dân chưa nhất trí với phương án.

    * Công tác thi công: Chưa khởi công dự án.

    b) Dự án đối ứng dự án BT

    Nhà đầu tư đang hoàn thiện thủ tục, hồ sơ chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư dự án.

    3.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân:

    Công tác kiểm kê tài sản, xác minh nguồn gốc sử dụng đất, giải quyết vấn đề cây trồng vượt mật độ, làm tăng chi phí GPMB; nhiều hộ dân chưa đồng thuận, chưa nhất trí với phương án GPMB đã công khai.

    3.3. Nhận xét, đánh giá:

    – Tiến độ GPMB dự án BT chậm so với kế hoạch khoảng 04 tháng do vướng mắc trong công tác GPMB. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Lục Ngạn.

    – Công tác lập chủ trương đầu tư dự án đối ứng chậm khoảng 06 tháng so với kế hoạch. Trách nhiệm thuộc Nhà đầu tư và UBND huyện Lục Ngạn.

    3.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022:

    a) Dự án BT:

    – Công tác GPMB: Bàn giao khoảng 70% mặt bằng cho nhà đầu tư thi công dự án.

    – Công tác thi công: Hoàn thành khoảng 50% khối lượng công trình.

    b) Dự án đối ứng dự án BT

    – Hoàn thiện hồ sơ chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư dự án; hoàn thành trình phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án trong quý II/2022; phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công trong quý III/2022; khởi công dự án vào đầu quý IV/2022.

    – Thực hiện công tác bồi thường GPMB, dự kiến bàn giao được 30% mặt bằng cho nhà đầu tư trong quý III/2022.

    3.5. Kế hoạch thực hiện trong quý I/2022

    a) Dự án BT:

      Bàn giao mặt bằng đoạn cuối tuyến từ cầu suối Bồng, xã Thanh Hải đến Tổ dân phố Lâm Trường thị trấn Chũ cho nhà đầu tư.

      b) Dự án đối ứng dự án BT

    – Phê duyệt trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư dự án; lập, trình thẩm định và phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án.

    – Công tác GPMB: Tiến hành kiểm đếm lập phương án BT GPMB dự án.

    4. Dự án Xây dựng một số trục đường giao thông trên địa bàn huyện Yên Dũng

    4.1. Tình hình thực hiện

    a. Dự án BT:

    * Công tác GPMB:

    – Tuyến Lê Đức Trung: Đã bàn giao mặt bằng với diện tích khoảng 1,4ha;

    – Tuyến Hoàng Hoa Thám: Đã bàn giao mặt bằng bên phải tuyến khoảng 2,1ha; bên trái tuyến khoảng 1,8ha; những vị trí còn lại đã đo vẽ ranh giới GPMB và chỉnh lý bản đồ xong.

    – Tuyến Trần Nhân Tông: Đã đo vẽ xong ranh giới GPMB với diện tích khoảng 1,6ha, liên quan đến 71 hộ gia đình, dự kiến bàn giao mặt bằng toàn bộ dự án xong trong tháng 01/2022.

    * Công tác thi công:

    – Tuyến đường Lê Đức Trung: Đã hoàn thành thảm BTN lớp dưới;

    – Tuyến Trần Nhân Tông: Đang thực hiện di chuyển tuyến viễn thông, đường cấp nước sạch.

    – Tuyến Hoàng Hoa Thám: Thi công đào, đắp nền đường; móng CPĐD loại I đoạn từ Km1+274,11- Km2+188,17; thi công lắp đặt cống tròn D600.

    * Lũy kế giá trị thực hiện đạt khoảng 15,46 tỷ đồng tương đương 18,1% giá trị xây lắp.

    b. Dự án đối ứng dự án BT :

    – UBND tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư 15/10/2021. Hiện nay đang thực hiện GPMB.

    4.2. Khó khăn, vướng mắc

    a. Khó khăn, vướng mắc:

    – Trong quá trình thi công dự án phải bổ sung, phát sinh một số nội dung để phù hợp với thực tế;

    – Khó khăn vướng mắc chung trong công tác GPMB.

    4.3. Nhận xét, đánh giá:

    a. Dự án BT:

    * Công tác thi công:

    – Tuyến Lê Đức Trung: Vượt tiến độ khoảng 02 tháng;

    – Tuyến Trần Nhân Tông: Chậm tiến độ khoảng 07 tháng;

    – Tuyến Hoàng Hoa Thám: Vượt tiến độ khoảng 01 tháng;

    * Tiến độ GPMB:

    – Tuyến Lê Đức Trung: Tiến độ đáp ứng yêu cầu đặt ra, bàn giao mặt bằng ngày 15/3/2021;

    – Tuyến Trần Nhân Tông, Hoàng Hoa Thám: Chậm hơn so với kế hoạch khoảng 07 tháng;

    b. Dự án khác: Tiến độ thực hiện chậm khoảng 04 tháng;

    4.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022

    a) Dự án BT:

              – Công tác GPMB: Hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng.

              – Công tác thi công: Thi công hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng.

    b) Dự án đối ứng dự án BT

    – Công tác GPMB: Hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng.

              – Công tác thi công: Hoàn thiện các thủ tục về đầu tư, xây dựng có liên quan; tổ chức thi công khoảng 15% khối lượng.

    4.5. Kế hoạch thực hiện trong quý I/2022

    a) Dự án BT:

              – Hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng.

              – Công tác thi công:

              + Tuyến Hoàng Hoa Thám: Thi công thảm BTN C19 và hoàn thiện hè đường.

              + Tuyến Trần Nhân Tông: Thi công nền đường, hệ thống thoát nước đạt khoảng 45% khối lượng.

    b) Dự án đối ứng dự án BT

    – Công tác GPMB: Hoàn thành công tác bàn giao ranh giới giải phóng mặt bằng; tổ chức kiểm đếm và quy chủ.

              – Phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi; phê duyệt thiết kế BVTC-DT.

    5. Dự án nhà máy xử lý rác thải và phát điện thành phố Bắc Giang

    5.1. Tình hình thực hiện:

    – Đã phê duyệt điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chi tiết xây dựng nhà máy xử lý rác thải và phát điện thành phố Bắc Giang (tỷ lệ 1/500);

    – Về quy hoạch điện lực: Đã được cập nhật vào quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ năm 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định xong và đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt).

    5.2. Khó khăn, vướng mắc:

    – Dự án chưa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào quy hoạch Điện lực Quốc gia, Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ năm 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

    5.3. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Thi công xây dựng dự án.

    5.4. Kế hoạch thực hiện quý I/2022

    Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bổ sung vào quy hoạch thực hiện phê duyệt giá khởi điểm, phương án đấu giá lựa chọn nhà đầu tư.

     

    III. CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    1. Dự án Nhà máy nhiệt điện An Khánh – Bắc Giang

    1.1. Tình hình thực hiện dự án:

    Giá trị khối lượng thực hiện theo báo cáo của Nhà đầu tư đến nay đạt 3.729 tỷ đồng (đạt 16,5% tổng vốn đầu tư), không tăng từ năm 2019 trở lại đây.

    1.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Khó khăn lớn nhất hiện nay của dự án là việc huy động nguồn vốn vay, nguyên nhân chủ yếu do năng lực tài chính của Nhà đầu tư hạn chế. Ngoài ra, vướng mắc về việc hoàn thuế GTGT trong thời gian xây dựng đến nay chưa được tháo gỡ mặc dù Nhà đầu tư đã nhiều lần kiến nghị các Bộ, ngành ở Trung ương, đồng thời Chủ tịch UBND tỉnh cũng đã có văn bản đề xuất Chính phủ giao các Bộ, ngành nghiên cứu tháo gỡ.

    1.3. Đánh giá, nhận xét: Dự án triển khai rất chậm, hầu như không triển khai thực hiện từ năm 2019 đến nay. Trách nhiệm để xảy ra việc chậm tiến độ huy động vốn, chậm tiến độ thực hiện dự án thuộc Nhà đầu tư.

    1.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Hoàn thành thủ tục vay vốn để khởi công xây dựng các hạng mục công trình chính của dự án.

    1.5. Kế hoạch thực hiện quý I/2022:

    Ngày 22/11/2021, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định thành lập Tổ công tác hỗ trợ quá trình triển khai thực hiện các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách có tiến độ thực hiện chậm, khó khăn về nguồn vốnNgày 02/12/2021, Tổ công tác đã tổ chức làm việc Nhà đầu tư để thống nhất các nội dung triển khai thực hiện, trong đó: Yêu cầu Nhà đầu tư hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích đất đã GPMB trong tháng 01/2022; hoàn thành việc huy động nguồn vốn vay với ngân hàng thương mại trong quý I/2022 để triển khai thi công xây dựng hạng mục nhà máy chính của dự án từ tháng 3/2022.

    2. Dự án Xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Hòa Phú

    2.1. Tình hình thực hiện dự án:

    Dự án đã GPMB đạt khoảng 203ha/207,45 (trong năm 2021 đã GPMB được khoảng 53ha); đã được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất diện tích 129,1ha/198ha (đạt 65,2% diện tích đất đã GPMB), chủ đầu tư đang phối hợp với UBND huyện Hiệp Hòa GPMB phần diện tích còn lại; diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 117,1ha. Đã hoàn thành xây dựng hạ tầng kỹ thuật giai đoạn I của dự án trên diện tích 82 ha (đạt 100%); giai đoạn II đã xây dựng cơ bản đồng bộ hạ tầng kỹ thuật với diện tích 116ha, xây dựng và đưa vào sử dụng Nhà máy xử lý nước sạch công suất 2.000 m3/ngày đêm, Nhà máy xử lý nước thải công suất 2.000 m3/ngày đêm.

    Tính đến nay, đã thu hút được 22 Nhà đầu tư thứ cấp, trong đó có 13 dự án FDI với số vốn đăng ký đạt 266,4 triệu USD và 09 dự án đầu tư trong nước với số vốn đăng ký trên 2.908,3 tỷ đồng; đã có 6/22 dự án đi vào hoạt động sản xuất.

    2.2. Khó khăn, vướng mắc: Phần diện tích còn lại chưa được GPMB mặc dù không chiếm nhiều diện tích nhưng xôi đỗ, xen kẹp làm ảnh hưởng đến khoảng 35ha diện tích đất công nghiệp Nhà đầu tư chưa thể triển khai thi công. Ngoài ra một số hộ dân thuộc thôn Mai Hạ, xã Mai Đình không nhất trí đơn giá đền bù và một số hộ còn yêu cầu bố trí đất ở tái định cư. Bên cạnh đó, việc quản lý đất đai trên địa bàn các xã trước đây còn buông lỏng nên khi thực hiện thu hồi đất khó xác định nguồn gốc để chi trả bồi thường, phát sinh tranh cấp, kiện cáo. Công tác GPMB chậm thuộc trách nhiệm của UBND huyện Hiệp Hòa.

    2.3. Đánh giá, nhận xét: Đến nay, dự án đang triển khai thực hiện đảm bảo theo tiến độ mặt bằng được bàn giao. Đối với phần diện tích đã hoàn thành GPMB Nhà đầu tư đang hoàn thiện hồ sơ thuê đất đợt 7 với diện tích 32ha. Đã cơ bản lấp đầy phần diện tích đất công nghiệp được UBND tỉnh cho thuê.

    2.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Hoàn thành thủ tục về đất đai toàn bộ diện tích đất thực hiện dự án (bao gồm GPMB và thuê đất).

    2.5. Kế hoạch thực hiện quý I/2022: UBND tỉnh sẽ chỉ đạo UBND huyện Hiệp Hòa tập trung mọi nguồn lực chỉ đạo các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ GPMB phần diện tích còn lại, bàn giao toàn bộ mặt bằng cho Nhà đầu tư trong quý I/2022; yêu cầu nhà đầu tư phối hợp với các cơ quan có liên quan hoàn thiện thủ tục thuê đất đợt 7 đối với phần diện tích đã hoàn thành GPMB trong tháng 1/2022. Tiếp tục thu hút các Nhà đầu tư thứ cấp.

    3. Dự án Hạ tầng, kho bãi trung tâm Logistics quốc tế TP Bắc Giang

    3.1. Tình hình thực hiện dự án: Đến nay, dự án đã hoàn thành công tác GPMB; được UBND tỉnh cho thuê đất với diện tích 64,52/66,85ha; đã thi công xong đắp đất san nền, thi công hệ thống hạ tầng giao thông đạt 69%, thi công các hạng mục cấp điện, hệ thống ống ngầm thông tin liên lạc, hệ thống cấp nước. Tổng vốn đầu tư thực hiện của dự án đến nay đạt 419,15 tỷ đồng, bằng 10% tổng vốn đầu tư dự án (bằng 69,85% tổng vốn đầu tư đã huy động là khoảng 600 tỷ).

    3.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Đến nay Công ty Cổ phần BOT Hà Nội – Bắc Giang vẫn chưa phối hợp bàn giao mặt bằng để thi công đấu nối từ dự án với QL1.

    3.3. Đánh giá, nhận xét: Sở Tài nguyên và Môi trường đang thẩm định hồ sơ thuê đất đợt 3 đối với phần diện tích còn lại đã hoàn thành GPMB. Từ quý II/2021 đến nay Nhà đầu tư đã tích cực triển khai thực hiện dự án hơn so với thời gian trước. Ngày 02/12/2021, Tổ công tác của Chủ tịch UBND tỉnh đã tổ chức hội nghị kiểm điểm tình hình thực hiện dự án trong đó yêu cầu nhà đầu tư hoàn thành giai đoạn 1 của dự án trước tháng 5/2022.

    3.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Hoàn thành toàn bộ giai đoạn 1 của dự án đi vào hoạt động tháng 5/2022 và khởi công xây dựng giai đoạn 2.

    3.5. Kế hoạch thực hiện quý I/2022:

    UBND tỉnh sẽ chỉ đạo Sở Giao thông vận tải phối hợp hỗ trợ Nhà đầu tư làm việc với Công ty Cổ phần BOT Hà Nội – Bắc Giang thực hiện bàn giao tuyến đấu nối của dự án với QL1.

    Nhà đầu tư hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích còn lại trong tháng 01/2022 và đẩy nhanh tiến độ thi công xây dựng các hạng mục công trình của giai đoạn 1 để hoàn thành đi vào hoạt động từ tháng 5/2022.  

    4. Dự án Cụm cảng hàng hóa tổng hợp, chế biến than, khu liên hợp chế tạo thiết bị cơ khí, sản xuất gỗ MDF

    4.1. Tình hình thực hiện dự án: Tổng vốn đầu tư đã thực hiện từ đầu dự án đến nay ước đạt khoảng 626,9 tỷ đồng/2.146 tỷ đồng (chiếm 29,2%) không thay đổi từ Quý IV/2019 đến nay.

    4.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Do gặp khó khăn trong công tác huy động vốn. Nguyên nhân chủ yếu do hạn chế về năng lực tài chính của Nhà đầu tư. Bên cạnh đó, tuyến đường nối Cảng Mỹ An-QL31-QL1 có đoạn tuyến chạy qua khu vực thực hiện dự án của Công ty Cổ phần Thiên Lâm Đạt nên Nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh lại quy hoạch chi tiết của dự án, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án.

    4.3. Đánh giá, nhận xét: Dự án chậm tiến độ khởi công hạng mục công trình còn lại 17 tháng. Mặc dù đã được UBND tỉnh cho phép gia hạn tiến độ sử dụng đất 24 tháng (đến tháng 7/2022), tuy nhiên Nhà đầu tư chưa tiếp tục triển khai thực hiện. Trách nhiệm để xảy ra việc chậm tiến độ thực hiện dự án thuộc Nhà đầu tư. Ngày 02/12/2021, Tổ công tác của Chủ tịch UBND tỉnh đã họp kiểm điểm tình hình thực hiện dự án; ngày 10/12/2021 Ban QLDA ĐTXD các công trình giao thông, nông nghiệp tỉnh đã phối hợp với Công ty Cổ phần Thiên Lâm Đạt xác định xong hướng tuyến của tuyến đường để không ảnh hưởng nhiều đến dự án của Công ty Cổ phần Thiên Lâm Đạt.

    4.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Hoàn thành thủ tục vay vốn để triển khai xây dựng các công trình còn lại của dự án, đưa toàn bộ dự án đi vào hoạt động từ tháng 7/2022.  

    4.5. Kế hoạch thực hiện quý I/2022: Ngày 02/12/2021, Tổ công tác đã tổ chức làm việc Nhà đầu tư để thống nhất các nội dung trong kế hoạch triển khai thực hiện dự án, trong đó: Yêu cầu Công ty Cổ phần Thiên Lâm Đạt hoàn tất thủ tục vay vốn trong tháng 01/2022; hoàn thành điều chỉnh quy hoạch chi tiết CCN Mỹ An và thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế bản vẽ thi công hoàn thành trong tháng 01/2022. Khởi công xây dựng các hạng mục công trình còn lại của dự án trước ngày 30/01/2022.

    5. Dự án Đầu tư xây dựng kho cảng tổng hợp Petro Bình Minh

    5.1. Tình hình thực hiện dự án:

    – Thôn Đạo Ngạn 2 có diện tích là 49.247,8 m2 của 80 hộ gia đình cá nhân; một phần diện tích đất do UBND xã Quang Châu quản lý và 04 ngôi mộ phải di chuyển. Đến nay, 100% số hộ đã ký hồ sơ quy chủ và nhận tiền bồi thường, GPMB.

    – Thôn Nam Ngạn có diện tích là 33.602,8 m2 với số hộ bị ảnh hưởng là khoảng 131 gia đình cá nhân, một phần đất do UBND xã Quang Châu quản lý và có 58 ngôi mộ phải di chuyển khoảng. Đến nay, đã có 70/131 hộ ký hồ sơ quy chủ và nhận tiền bồi thường, hỗ trợ GPMB  (1,3 ha/3,36 ha).

    Tổng số tiền Chủ đầu tư đã ứng chi trả cho công tác bồi thường, GPMB là 23,7 tỷ đồng (thôn Đạo Ngạn 2 đã có 80/80 hộ nhận tiền, thôn Nam Ngạn có 79/131 hộ).

    5.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Hiện tại, phần diện tích đất thuộc thôn Nam Ngạn còn lại chưa hoàn thành việc quy chủ, kê khai, trả tiền bồi thường GPMB đối với 61 hộ gia đình có đất và 58 ngôi mộ thuộc phạm vi dự án do người dân không đồng ý việc thực hiện dự án.

    5.3. Đánh giá, nhận xét: Đến nay, dự án đã chậm tiến độ hoàn thành thủ tục thuê đất 24 tháng, chậm tiến độ hoàn thành giai đoạn I của dự án 18 tháng, chậm hoàn thành khởi công xây dựng các hạng mục công trình giai đoạn II của dự án 17 tháng do công tác GPMB gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, hiện nay quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 đã được UBND tỉnh phê duyệt thì khu đất dự án được quy hoạch là đất năng lượng, không phù hợp với mục tiêu của dự án, đồng thời dự án cũng sẽ không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật đất đai, do đó ảnh hưởng tới công tác thu hồi đất để triển khai thực hiện dự án. Trách nhiệm chủ yếu thuộc UBND huyện Việt Yên do trong quá trình cập nhật quy hoạch sử dụng đất đã cập nhật không chính xác loại đất phù hợp với dự án đã được chấp thuận.

    5.4. Kế hoạch thực hiện quý I/2022: UBND tỉnh sẽ chỉ đạo UBND huyện Việt Yên rà soát lại quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch có liên quan (nếu có) tại vị trí thực hiện dự án để xuất điều chỉnh cho phù hợp hoặc kiến nghị xử lý theo quy định, thời gian hoàn thành trong quý I/2022.

    6. Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Việt Hàn

    6.1. Tình hình triển khai thực hiện: Ban Quản lý các KCN tỉnh đã hoàn thiện thẩm định quy hoạch chi tiết xây dựng dự án (tỷ lệ 1/500).

    Về công tác GPMB: Đến nay đã chi trả tạm ứng tiền bồi thường GPMB cho 555/600 hộ tương ứng với diện tích khoảng 48/50ha.

    6.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Diện tích đất đã hoàn thành GPMB còn xôi đỗ, xen kẹp, khó khăn trong việc tổ chức thi công.

    6.3. Đánh giá, nhận xét: Dự án cơ bản triển khai thực hiện đảm bảo theo Kế hoạch của UBND tỉnh.

    6.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Hoàn thành công tác BT GPMB toàn bộ diện tích đất của dự án, xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật của dự án.

    6.5. Kế hoạch thực hiện quý I/2022: UBND tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo UBND huyện Việt Yên hoàn thành chi trả, bồi thường GPMB, bàn giao mặt bằng cho Nhà đầu tư. Yêu cầu chủ đầu tư phối hợp với UBND huyện Việt Yên sớm hoàn thiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê đất đối với phần diện tích đã hoàn thành GPMB; hoàn thành thủ tục phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng (tỷ lệ 1/500) của dự án xong trước tháng 01/2022 và thực hiện các thủ tục cấp Giấy phép xây dựng; khởi công xây dựng các hạng mục công trình trong tháng quý I/2022.

    7. Dự án Sân Golf và nghỉ dưỡng Bắc Giang

    7.1. Tình hình triển khai thực hiện: Đến nay, Nhà đầu tư đã phối hợp với UBND huyện Lục Nam hoàn thành chi trả tiền bồi thường với diện tích 115,57ha/140ha; đã thực hiện chi trả và di dời được 74/81 ngôi mộ đạt 91,4%. Dự án đã được UBND tỉnh cho thuê đất (đợt 1) với diện tích 27,6ha. Sở Tài nguyên và Môi trường đang thẩm định hồ sơ đất đợt 2 đối với phần diện tích đã hoàn thành GPMB. Nhà đầu tư đã hoàn thành thi công xong hạng mục rà phá bom mìn, dọn dẹp mặt bằng, san nền đắp đất toàn bộ phần diện tích đất đã được thuê. Giá trị thực hiện năm 2021 đạt 91,6 tỷ đồng, lũy kế đến nay đạt 131,331 tỷ đồng (chiếm 17,75% tổng vốn đầu tư đăng ký).

    7.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Công tác GPMB và bàn giao mặt bằng còn xôi đỗ; các hộ gia đình, cá nhân còn lại chưa đồng ý với phương án GPMB, một số hộ thuộc diện tái định cư hiện nay chưa thực hiện khảo sát giá để thực hiện chi trả. Việc di dời một số công trình xây dựng (lò đốt than, trang trại chăn nuôi vịt) từ trước ngày 01/7/2014 đến nay còn khó khăn do các hộ gia đình chưa đồng ý. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Lục Nam.

    7.3. Đánh giá, nhận xét: Công tác GPMB một số hạng mục còn chậm và chưa có tiến triển rõ rệt đặc biệt là việc di rời các công trình xây dựng trái phép và xử lý phần diện tích đất ở trong phạm vi sân golf Lục Nam. Trách nhiệm thuộc UBND huyện Lục Nam.

    7.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Hoàn thành công tác GPMB, thi công xây dựng cơ bản xong các hạng mục công trình chính của dự án.

    7.5. Kế hoạch thực hiện quý I/2022: UBND tỉnh sẽ chỉ đạo UBND huyện Lục Nam khẩn trương xác định rõ diện tích thu hồi, giá đất đối với phần diện tích 2,2ha đất ở, đất trồng cây lâu năm và phần đất nuôi trồng thủy sản còn lại để hoàn thành việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trước ngày 30/1/2022; hoàn thành GPMB toàn bộ diện tích đất thực hiện dự án, hoàn thành thủ tục thuê đất đợt 2 trong tháng 12/2021. Yêu cầu Nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ thi công các hạng mục công trình của dự án.

    8. Dự án Sân Golf Việt Yên

    8.1. Tình hình triển khai thực hiện dự án: Đến nay dự án đã tổ chức chi trả được 113,44/140ha (đạt 91% diện tích đất dự án); đã di chuyển 194/167 ngôi mộ vô chủ; đối với khu mộ thuộc Nghĩa trang thôn Sơn Hải đã kiểm kê được 21/50 ngôi của 13 hộ, còn 29 ngôi của 17 hộ chưa phối hợp kiểm kê. Đối với diện tích tại xã Trung Sơn đã thu hồi đất 3 đợt với diện tích 93,6ha. Nhà đầu tư đã hoàn thành thi công xong hạng mục rà phá bom mìn, xây dựng tường rào tạm bao quanh khu đất, nhà bảo vệ, biển báo và đang thi công san nền toàn bộ diện tích đất đã được thuê. Tổng vốn đầu tư thực hiện năm 2021 khoảng 121 tỷ đồng, lũy kế đến nay đạt khoảng 148,63 tỷ đồng, chiếm 12,24% tổng vốn đầu tư đăng ký. Nhà đầu tư đã nộp hồ sơ điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án, Sở Kế hoạch và Đầu tư đang hoàn thiện thủ tục thẩm định trình UBND tỉnh.

    8.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Dự án đang gặp khó khăn trong công tác GPMB đối với 30 hộ dân thuộc xã Trung Sơn có đất nông nghiệp chưa đồng ý nhận tiền. Về đất rừng thuộc dự án, còn vướng mắc 01 hộ ông Chính không đồng thuận với phương án bồi thường cây sưa ngoài mật độ; việc di chuyển 24 ngôi mộ có chủ của 17 hộ dân thuộc nghĩa trang thôn Sơn Hải khó khăn do các hộ dân không đồng thuận. Ngoài ra, đến nay chưa tổ chức xong việc di chuyển được tượng đá, lư hương (công trình đàn tế trời của Thiền viện Trúc Lâm Ích Minh) mặc dù đã thống nhất được phương án xử lý với Thiền viện Trúc Lâm Ích Minh.  

    8.3. Đánh giá, nhận xét: Công tác GPMB và thuê đất cơ bản đảm bảo tiến độ theo kế hoạch. Công tác thi công xây dựng các hạng mục công trình chính của dự án đang chậm. Trách nhiệm thuộc Nhà đầu tư.

    8.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Hoàn thành thủ tục đất đai toàn bộ diện tích đất thực hiện dự án, thi công hoàn thiện các hạng mục công trình chính của dự án trong năm 2022.

    8.5. Kế hoạch thực hiện Quý I/2022: Chỉ đạo UBND huyện Việt Yên tập trung cao, hoàn thành GPMB toàn bộ dự án trong tháng I/2022, hoàn thiện thủ tục thuê đất đợt 4 xong trước 1/2022. Giao UBND huyện Việt Yên chủ trì giám sát việc thi công xây dựng của dự án kịp thời phát hiện các sai phạm của Nhà đầu tư để xử lý hoặc kiến nghị xử lý đảm bảo theo quy định không để ảnh hưởng đến khu vực xung quanh; các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh yêu cầu Nhà đầu tư khởi công xây các hạng mục chính của dự án trong quý I/2022.

    9. Dự án Quần thể Khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái thể thao và vui chơi giải trí FLC Bắc Giang tại hồ Khuôn Thần

    9.1. Tình hình thực hiện: Ngày 20/9/2021 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch chi tiết; UBND huyện Lục Ngạn đã phối hợp đơn vị tư vấn hoàn thiện xong đồ án Quy hoạch chi tiết trình Sở Xây dựng thẩm định.

    9.2. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Tổ công tác có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc Nhà đầu tư hoàn thiện hồ sơ dự án trình cơ quan có thẩm quyền.

    9.3. Kế hoạch thực hiện quý I/2022: UBND tỉnh chỉ đạo Sở Xây dựng phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch chi tiết xong trước tháng 01/2022. Tổ công tác của Chủ tịch UBND tỉnh hoàn thiện việc ban hành kế hoạch triển khai thực hiện dự án để theo dõi, kiểm điểm, đôn đốc, hỗ trợ Nhà đầu tư trong tháng 01/2022. Yêu cầu Nhà đầu tư và các thành viên Tổ công tác nghiêm túc triển khai thực hiện Kế hoạch.

    10. Dự án Khu du lịch Tâm linh – Sinh thái Tây Yên Tử

    10.1. Tình hình triển khai thực hiện dự án: Đến nay, dự án đã được UBND tỉnh cho thuê đất với tổng diện tích 42,51ha; phần diện tích còn lại đã hoàn thành GPMB (khoảng 20,6ha), Sở Tài nguyên và Môi trường đang thẩm định hồ sơ thuê đất. Dự án đã hoàn thành đi vào hoạt động giai đoạn 1 từ năm 2019. Giá trị vốn thực hiện năm 2021 là 64,43 tỷ đồng. Lũy kế giá trị thực hiện đến nay đạt 1.139 tỷ đồng (chiếm 76,6% tổng vốn đầu tư đăng ký).

    10.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân: Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng rất chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu; công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chưa có hiệu quả, một số hộ dân có những yêu cầu việc bồi thường, GPMB không đúng quy định; việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng lấn của 13 hộ dân có đất thuộc dự án với đất do Ban Quản lý bảo tồn Tây Yên Tử chưa được xử lý rứt điểm, trách nhiệm thuộc UBND huyện Sơn Động.

    10.3. Nhận xét, đánh giá: Dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án, theo đó dự án hoàn thành đi vào hoạt động toàn bộ từ quý IV/2024. Tuy nhiên, tính đến nay công tác GPMB và bàn giao mặt bằng còn xôi đỗ và rất chậm so với tiến độ đã được phê duyệt và kế hoạch đề ra, trách nhiệm thuộc UBND huyện Sơn Động. Đồng thời, việc hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích đã hoàn thành GPMB, việc điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng dự án chậm so với kế hoạch. Trách nhiệm thuộc Nhà đầu tư.

    10.4. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Hoàn thành thủ tục đất đai phần diện tích đất còn lại, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết dự án và khởi công xây dựng các hạng mục công trình giai đoạn 2 của dự án.

    10.5. Kế hoạch thực hiện quý I/2022: UBND tỉnh sẽ chỉ đạo UBND huyện Sơn Động khẩn trương chỉ đạo các cơ quan có liên quan hoàn thành công tác GPMB toàn bộ diện tích đất dự án trong Quý I/2022; yêu cầu Chủ đầu tư khẩn trương hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với phần diện tích đã hoàn GPMB thời gian xong trước tháng 01/2022 và hoàn thành thủ tục phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết dự án trong tháng 01/2022 để khởi công xây dựng các hạng mục công trình giai đoạn 2,3 của dự án trong quý I/2022. 

                                                                                                                                                                   Theo skhdt.bacgiang.gov.vn

  • Bắc Giang: Tháng 12, giá trị sản xuất công nghiệp đạt được cao nhất từ trước đến nay

    Bắc Giang: Tháng 12, giá trị sản xuất công nghiệp đạt được cao nhất từ trước đến nay

    Tháng 12/2021, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Bắc Giang ước đạt 35.125 tỷ đồng, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm 2020. Đây là giá trị đạt được trong tháng cao nhất từ trước đến nay.

    Giá trị sản xuất công nghiệp đạt được tháng 12 cao nhất từ trước đến nay. Ảnh minh họa: BGP/Bình Minh

    Giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh đạt được trong tháng 12 tăng gấp 4 lần so với tháng 6 khi hoạt động sản xuất công nghiệp bị ảnh hưởng do dịch Covid-19. Điều đó cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ và nhanh chóng lấy đã tăng trưởng của lĩnh vực công nghiệp của tỉnh.

    Với giá trị sản xuất công nghiệp đạt được trong tháng 12 đã đưa giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh cả năm vượt hơn 300 nghìn tỷ đồng (cao hơn 200 tỷ đồng so với dự báo trước đó), đạt 88,1% kế hoạch. Sự bứt phá của ngành công nghiệp cuối năm đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng (GRDP) của tỉnh tăng hơn dự kiến, đạt 7,82%, cao hơn gấp 2 lần so với tăng trưởng của cả nước./.

                                                                                                                                                                  Theo Bacgiang.gov.vn

  • Bắc Giang: Hơn 1.800 tỷ đồng doanh thu từ cam, bưởi và một số loại nông sản khác

    Bắc Giang: Hơn 1.800 tỷ đồng doanh thu từ cam, bưởi và một số loại nông sản khác

    Năm nay, sản lượng cây có múi của tỉnh Bắc Giang ước đạt hơn 84.000 tấn, trong đó riêng huyện Lục Ngạn hơn 60.000 tấn. Việc tiêu thụ cây có múi khá thuận lợi, giá bán ổn định.

    Bắc Giang tiêu thụ cây có múi thuận lợi, giá bán ổn định.

    Đến thời điểm này, toàn tỉnh đã tiêu thụ được gần 40.000 tấn cam, hơn 15.000 tấn bưởi, hơn 15.000 tấn na. Phần lớn diện tích cam đã thu hoạch xong, đạt doanh thu gần 1.000 tỷ đồng. Na trái vụ hiện cũng thu hoạch gần hết diện tích, đạt doanh thu hơn 550 tỷ đồng. Bưởi ngọt, cam V2 đang bắt đầu vào vụ thu hoạch.

    Do sản lượng và chất lượng đều được nâng cao, tiêu thụ thuận lợi, do đó tổng doanh thu từ cam, bưởi và một số loại nông sản khác trên địa bàn tỉnh từ đầu vụ đến nay đạt hơn 1.800 tỷ đồng.

    Có được kết quả trên là do tỉnh Bắc Giang đã tích cực chỉ đạo các địa phương sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật, thực hiện quy trình sản xuất an toàn. Đồng thời chủ động xúc tiến tiêu thụ, kết nối giao thương và tháo gỡ khó khăn cho tiêu thụ, do đó việc tiêu thụ cây có múi và nông sản đặc trưng của tỉnh khá thuận lợi, giá bán ổn định./.

                                                                                                                                                            Theo Bacgiang.gov.vn

  • Bắc Giang: Tháng 12 thu hút đầu tư tăng gấp 2,6 lần

    Bắc Giang: Tháng 12 thu hút đầu tư tăng gấp 2,6 lần

    Tháng 12/2021, tỉnh Bắc Giang đã thu hút được trên 357 triệu USD vốn đầu tư quy đổi, gấp 2,6 lần so cùng kỳ năm 2020.

    Ảnh minh họa: BGP/An Nhiên

    Trong đó cấp mới 02 dự án trong nước (DDI), vốn đăng ký 1.213 tỷ đồng, 01 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) vốn đăng ký 5 triệu USD; điều chỉnh tăng vốn 02 dự án DDI, vốn đăng ký bổ sung 54,5 tỷ đồng, 03 dự án FDI vốn đăng ký bổ sung 297 triệu USD.

    Tổng số vốn cấp mới và điều chỉnh cả năm quy đổi đạt 1,466 tỷ USD, tăng 0,2% cùng kỳ năm 2020. Trong đó cấp mới 29 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 2.878 tỷ đồng, 23 dự án FDI vốn đăng ký 645,9 triệu USD; điều chỉnh tăng vốn cho 13 dự án DDI với tổng vốn tăng thêm là 212,8 tỷ đồng và 51 dự án FDI, vốn đăng ký bổ sung 686,504 triệu USD./.

                                                                                                                                                                            Theo Bacgiang.gov.vn