Danh mục: Tin tức kinh tế

  • Phòng, chữa cháy rừng: Cấp huyện, xã có phương án cụ thể

    (BGĐT) – Mùa khô năm 2020-2021, dự báo thời tiết diễn biến khó lường. Vì thế, ngành chức năng và chính quyền các địa phương có rừng trong tỉnh Bắc Giang đã chuẩn bị nhiều phương án phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), đầu tư nguồn lực để bảo vệ rừng an toàn trong mùa khô.

    Người dân thôn Yên Tập, xã Yên Lư (Yên Dũng) phát thực bì PCCCR.

    Người dân thôn Yên Tập, xã Yên Lư (Yên Dũng) phát thực bì PCCCR.

    Những năm gần đây, số vụ cháy rừng tại Bắc Giang có chiều hướng giảm. Tuy nhiên, vào mùa khô 2019-2020, tình hình cháy rừng lại có diễn biến phức tạp, tăng cả số vụ cháy và diện tích thiệt hại. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 7 vụ cháy rừng, thiệt hại 6,2 ha, tăng 3 vụ và 3 ha so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, 4 vụ tại Yên Dũng; tại Lục Nam, Việt Yên và Yên Thế mỗi huyện xảy ra 1 vụ. Vụ cháy rừng tại bản Đèo Cà, xã Đồng Hưu (Yên Thế) đã khiến 1 người tử vong.

    Nguyên nhân các vụ cháy được xác định là do người dân bất cẩn khi sử dụng lửa khi dọn thực bì và đốt ong. Hiện 6/7 vụ cháy này cơ quan chức năng vẫn chưa tìm ra thủ phạm để xử lý. Ông Lã Mạnh Cường, Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm Yên Dũng nhận định: “Việc bảo vệ rừng khỏi các vụ cháy phần lớn phụ thuộc vào ý thức của chủ rừng và người dân. Các vụ cháy rừng tại Yên Dũng có chiều hướng diễn biến phức tạp, bởi rừng phòng hộ nơi đây không tạo ra nguồn thu cho các chủ rừng nên rừng không được bảo vệ tốt”.

    Thực tế cho thấy, hầu hết các vụ cháy rừng trong tỉnh gần đây đều là rừng phòng hộ hoặc rừng tự nhiên. Trong đó, có nhiều vụ đốt, phá rừng tự nhiên để lấy đất trồng rừng kinh tế. Điều này đòi hỏi cấp có thẩm quyền cần có những biện pháp, chính sách phù hợp để chủ rừng có trách nhiệm hơn với các diện tích rừng được giao quản lý, bảo vệ.

    Nhằm bảo vệ, hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, từ cuối tháng 8/2020, Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang đã yêu cầu Hạt Kiểm lâm các huyện, TP tham mưu với UBND cùng cấp xây dựng phương án PCCCR mùa khô năm 2020-2021. Đồng thời tuyên truyền Luật Lâm nghiệp, đặc biệt là việc bảo vệ, PCCCR đến người dân, chủ rừng. Đến thời điểm này, UBND các huyện có rừng trong tỉnh đã ban hành phương án PCCCR phù hợp với đặc điểm, tình hình của từng địa phương. 

    Trong đó, Lục Nam là đơn vị ban hành kế hoạch sớm nhất. Ông Nguyễn Minh Hải, Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm Lục Nam cho biết, địa phương có hai dãy núi lớn là Yên Tử và Huyền Đinh chạy qua theo hình lòng chảo, chia địa hình huyện thành 3 vùng rõ rệt là miền núi, trung du và đồng bằng. Do đó, mùa khô ở đây độ ẩm, nhiệt độ xuống thấp, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao. 

    Vì thế, huyện Lục Nam đã xác định rõ các nguy cơ cháy, thời gian dễ cháy, vùng trọng điểm cháy… để đề ra giải pháp phòng ngừa với các phương án cụ thể. Bao gồm, các quy trình chữa cháy rừng từ các thôn đến cấp xã và huyện. Xây dựng phương án xử lý tình huống cháy rừng ở từng cấp để triển khai thực hiện. Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm huyện còn xây dựng quy chế phối hợp quản lý, bảo vệ, phát triển rừng với các địa phương giáp ranh: Lục Ngạn, Sơn Động và huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn).

    Xác định là vùng trọng điểm cháy rừng nên ngoài rút kinh nghiệm vụ cháy rừng tại xã Tân Liễu và thị trấn Nham Biền cuối năm 2019, mùa khô 2020-2021 UBND huyện Yên Dũng đã ban hành Chỉ thị với các nội dung, phần việc cụ thể giao cho đơn vị chức năng, các cơ quan liên quan phối hợp thực hiện. 

    Để thực hiện Chỉ thị này, Đảng ủy 5 địa phương trọng điểm cháy rừng, gồm: Tân Liễu, Yên Lư, Nội Hoàng và thị trấn Nham Biền đã xây dựng các Nghị quyết chuyên đề về công tác PCCCR. UBND huyện cũng yêu cầu 100% các xã, thị trấn trên địa bàn, mỗi xã phải xây dựng 1 đội chữa cháy rừng cấp xã (từ 20-30 người, nòng cốt là lực lượng cán bộ, công chức xã) do Chủ tịch UBND cấp xã trực tiếp chỉ huy. Bảo đảm khi có cháy rừng xảy ra huyện phải huy động được lực lượng tại chỗ từ 400-500 người tham gia chữa cháy…

    Ông Từ Quốc Huy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, nét mới trong công tác PCCCR mùa khô năm nay là UBND cấp huyện xây dựng và ban hành phương án PCCCR. Theo đó, các xã, thị trấn có rừng cũng xây dựng phương án phù hợp. Cùng với chuẩn bị các phương án PCCCR, hiện các địa phương đang tích cực phát dọn thực bì, đường băng cản lửa và tu bổ các công trình PCCCR. 

    Chi cục in, cấp phát hàng nghìn tờ rơi, áp phích tuyên truyền tới người dân, trường học về bảo vệ và PCCCR. Ngoài nguồn vốn của các huyện, TP đầu tư cho PCCCR, năm nay UBND tỉnh cấp kinh phí 5 tỷ đồng từ nguồn vốn cấp bách dùng cho PCCCR để tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện chữa cháy rừng. “Hiện Chi cục đã tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng xong Kế hoạch PCCCR giai đoạn 2021-2025, trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt. Với kế hoạch này, những năm tới các diện tích rừng của tỉnh sẽ được bảo vệ tốt hơn”, ông Huy nói.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Thế Đại).

  • Lục Ngạn: Chọn 30 hộ có vườn cam, bưởi đẹp đón khách du lịch

    (BGĐT) – Theo thông tin từ cơ quan chức năng huyện Lục Ngạn (Bắc Giang), nhằm thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái, du lịch miệt vườn ở địa phương, UBND huyện đã chọn lựa 30 hộ có vườn cam, bưởi đẹp, sản xuất theo quy trình VietGAP để làm điểm thu hút khách du lịch trong, ngoài tỉnh đến tham quan, trải nghiệm vào mùa thu hoạch cam, bưởi tới đây.

    Vườn cam, bưởi của gia đình ông Nguyễn Văn Hữu, thôn Sẻ Cũ, xã Thanh Hải được UBND huyện Lục Ngạn chọn là một trong 30 hộ làm điểm đón khách du lịch tới đây.

    Vườn cam, bưởi của gia đình ông Nguyễn Văn Hữu, thôn Sẻ Cũ, xã Thanh Hải được UBND huyện Lục Ngạn chọn là một trong 30 hộ làm điểm đón khách du lịch tới đây.

    Theo ông Nguyễn Thế Thi, Phó Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn, những vườn quả này đều được chính quyền địa phương và cơ quan chức năng của huyện chọn lựa kỹ dựa trên các tiêu chí: Sản phẩm ngon, sạch, mẫu mã hấp dẫn và khung cảnh đẹp, giao thông đi lại thuận tiện.

    Điểm mới năm nay là ngoài hỗ trợ các chủ vườn từ 300-500 nghìn đồng/đoàn khách vào tham quan, UBND huyện sẽ bố trí hỗ trợ phông bạt, bàn ghế cho các chủ vườn.

    Du khách ở Thủ đô Hà Nội về Lục Ngạn tham quan, trải nghiệm vào mùa thu hoạch cam, bưởi năm 2019.

    Du khách ở Thủ đô Hà Nội về Lục Ngạn tham quan, trải nghiệm vào mùa thu hoạch cam, bưởi năm 2019.

    Đặc biệt, thay vì chỉ huy động đội ngũ cán bộ huyện như những năm trước, năm nay UBND huyện sẽ trưng tập đoàn viên thanh niên, hội viên Hội Nông dân, Hội Phụ nữ ở các xã, thôn để hỗ trợ các chủ vườn đón tiếp khách; đồng thời quảng bá, giới thiệu về tiềm năng đầu tư phát triển sản xuất, nhất là phát triển du lịch sinh thái ở địa phương.

    Được biết, toàn huyện Lục Ngạn hiện có gần 7 nghìn ha diện tích cây có múi, cao nhất tỉnh, bao gồm gần 4,2 nghìn ha cây cam, còn lại là các loại cây bưởi; ước sản lượng năm nay đạt 60-70 nghìn tấn, tăng 7-10 nghìn tấn so với năm trước. Trong đó có 2 loại cam chính là cam lòng vàng và cam ngọt; bưởi có 3 loại chính là bưởi da xanh, bưởi ngọt và bưởi Hoàng.

    Hiện các chủ vườn đang tập trung thu hoạch bưởi da xanh, đạt khoảng 30% diện tích, tiêu thụ khá thuận lợi, giá bán dao động từ 25-40 nghìn đồng/kg, tương đương năm trước.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Thành Nam).

  • Nông thôn Việt Nam biến đổi nhờ làn sóng chuyển dịch sản xuất

    Trước khi các nhà máy xuất hiện, Bắc Giang còn là tỉnh nghèo, nổi tiếng với gạo, vải và “gà chạy bộ”.

    Hiện tại, Bắc Giang đã là điểm dừng chân của cả đại diện Apple và Hon Hai Precision Industry. Tăng trưởng đầu tư nước ngoài vào đây gần như gấp đôi sau mỗi năm, bất chấp đại dịch. Tỉnh Bắc Giang dự báo giá trị xuất khẩu năm nay sẽ chạm 11 tỷ USD, gấp 10 trong 6 năm. Người dân cũng chuyển từ những chiếc xe máy cũ kỹ, bám đầy bụi đất sang xe mới. Một số thậm chí có thể mua ôtô chạy trên những con đường vừa hoàn thiện.

    Công nhân trên đường đến các nhà máy tại Khu công nghiệp Vân Trung (Bắc Giang). 

    Công nhân trên đường đến các nhà máy tại Khu công nghiệp Vân Trung (Bắc Giang). 

    “Cuộc sống giờ rất tốt, nhờ có các nhà máy”, ông Nguyễn Văn Lanh (64 tuổi) cho biết. Gia đình ông từng chẳng đủ tiền mua thịt, nhưng giờ có dãy nhà cho công nhân thuê. Chúng được xây bằng tiền tiết kiệm từ đồng lương làm cho nhà máy của gia đình ông.

    Sự thay đổi tại Bắc Giang cho thấy việc dịch chuyển chuỗi cung ứng trên thế giới tác động thế nào đến những khu vực từng bị bỏ lại phía sau. Việt Nam đang ngày càng thu hút chuỗi sản xuất phức tạp, do lương nhân công tại Trung Quốc tăng cao, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung và chuỗi logistics bị gián đoạn vì đại dịch. Bên cạnh đó, Việt Nam đến nay cũng được đánh giá thành công trong kiểm soát Covid-19.

    Trong nhiều thập kỷ sau khi Việt Nam mở cửa cho thương mại và đầu tư nước ngoài, Bắc Giang vẫn còn là một tỉnh nghèo. Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người tại đây là 650 USD một năm – chỉ bằng nửa Việt Nam khi đó, theo số liệu thống kê chính thức. Mùa màng cũng cho năng suất thấp, khiến người dân phải đi xa cả nghìn km để làm việc tại các nhà máy nơi khác. Nhưng hiện tại, thu nhập bình quân đầu người tại đây được dự báo lên tới 3.000 USD năm nay.

    Rất nhiều hãng sản xuất đã tìm đến các tỉnh phía Bắc Việt Nam, cam kết rót hàng tỷ USD để xây nhà máy, ví dụ như Samsung Electronics. Pegatron – đối tác lắp ráp của Apple cũng có kế hoạch đầu tư 1 tỷ USD vào Hải Phòng, nối gót một số nhà cung cấp khác của Táo Khuyết. Apple gần đây cũng đăng thông báo tuyển dụng tại Việt Nam cho các vị trí kỹ sư, quản lý chuỗi cung ứng và quan hệ chính phủ.

    Hiện tại, các hãng cung cấp đồ điện tử vẫn đang rót đầu tư vào Việt Nam, trong bối cảnh nhiều ngành khác chật vật vì đại dịch. Doanh thu từ du lịch của Việt Nam đã giảm khoảng 50%. Các nhà máy dệt may và nhiều ngành khác phải sa thải hàng chục nghìn nhân viên do xuất khẩu chững lại. GDP Việt Nam, dù thuộc nhóm số ít trên thế giới có thể tăng năm nay, cũng được dự báo giảm về 2-3%, từ 7% năm ngoái. Tuy nhiên, tốc độ này dự kiến quay lại 6 – 7% giai đoạn 2021 – 2025.

    Gene Tyndall – chuyên gia về chuỗi cung ứng tại hãng tư vấn eMATE Consulting nhận định chi phí thấp, chính trị ổn định, chính sách thân thiện với nhà đầu tư, cơ sở hạ tầng được cải thiện và các nỗ lực của chính phủ nhằm khuyến khích khởi nghiệp công nghệ đã giúp Việt Nam hấp dẫn đầu tư.

    Tại trung tâm Bắc Giang, những con đường 6 làn đã xuất hiện. Hàng loạt khu công nghiệp cho nhà máy được đề xuất xây dựng. GDP tỉnh này đã tăng 10,9% trong 9 tháng đầu năm so với năm ngoái. Trong khi tốc độ cả nước chỉ là 2,12%.

    “Chúng ta đang sống trong thời kỳ thay đổi chuỗi cung ứng toàn cầu”, Phó Chủ tịch UBND huyện Việt Yên Nguyễn Đại Lượng cho biết. Đây là nơi đặt 4 trên 5 khu công nghiệp của Bắc Giang. Làn sóng các hãng sản xuất chuyển đến Bắc Giang bắt đầu từ năm 2016. Khi đó, các doanh nghiệp đã rót 3,8 tỷ USD vào tỉnh này – tăng gấp 4 lần so với 4 năm trước đó.

    Ông Lượng cho biết Bắc Giang đang xây thêm một cảng để vận chuyển hàng hóa và cung cấp đất xây nhà cho công nhân Luxshare Precision Industry, theo đề nghị của Apple. Luxshare Precision Industry hiện là hãng sản xuất Airpods lớn nhất thế giới.

    Tỷ lệ người dân có việc làm tại Bắc Giang đã gần tối đa. Nhiều người tại các tỉnh lân cận cũng đổ đến đây để tìm cơ hội tại các nhà máy như Luxshare. Công ty Trung Quốc này sẽ tuyển 20.000 công nhân trong 4 tháng cuối năm, nâng tổng số nhân viên tại Việt Yên lên 47.000 người, ông Lượng cho biết.

    Theo ông, công nhân tại dây chuyền sản xuất hàng điện tử có thể có thu nhập sau thuế vào khoảng 5.500 USD một năm, đã bao gồm làm ngoài giờ và thưởng. Mức này gần gấp đôi thu nhập bình quân của cả nước (khoảng 3.000 USD).

    Nguyễn Thị Hà (22 tuổi) từng trộn bê tông cho một công ty xây dựng trước khi vào làm trong một nhà máy của Đài Loan với mức lương 10 triệu đồng mỗi tháng. “Tôi từng chỉ kiếm được nửa số đó, mà phải làm việc ngoài trời dù mưa hay nắng”, cô nói.

    Tại các nhà hàng như Lao Chu Quan ở Việt Yên, công nhân cũng ngồi kín bàn, gọi bia, thịt quay và lẩu cá. “Họ chi tiêu khá thoải mái”, Nguyễn Thị Ly (26 tuổi) – quản lý cửa hàng cho biết. Gia đình cô giờ đã có xe hơi và 5 xe máy mới, dù từng “không có gì” trước khi các nhà máy xuất hiện. “Cuộc sống của chúng tôi đã thay đổi đáng ngạc nhiên”, cô nói.

    Dù vậy, làm việc trong các dây chuyền sản xuất cũng có áp lực rất cao. “Làm việc vất vả lắm”, Hoàng Phương Duy (30 tuổi) cho biết, “Chúng tôi luôn phải rất nhanh, tập trung cao độ trong nhiều giờ liền”.

    Scott Rozelle – nhà kinh tế học tại Đại học Stanford cho biết thách thức sắp tới của Việt Nam là bảo đảm cải thiện giáo dục để tránh “bẫy thu nhập trung bình”, do các nhà máy sẽ rời đi khi chi phí tăng và hướng đến một nền kinh tế tay nghề cao.

    Giáo dục chất lượng cao cho các thế hệ sau cũng là mong muốn của nhiều người dân như ông Lanh. “Chúng tôi từng gần như chẳng có cơm ăn, áo mặc”, ông kể về tuổi thơ của mình. Nhìn sang đứa cháu gái 3 tháng tuổi, ông nói: “Con bé sẽ có nhiều đồ ăn hơn và có quần áo tốt nhất. Chúng tôi sẽ cho nó học đại học để có nhiều cơ hội hơn”.

     

    Nguồn: Theo VnExpress (Báo Bắc Giang).

  • Quản lý chặt, khai thác hiệu quả tiềm năng đường thủy nội địa

    (BGĐT) – Mỗi năm có hàng triệu tấn hàng hóa được vận chuyển qua các tuyến đường thủy trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, hoạt động của các cảng, bến và phương tiện vận tải đường thủy cần được quản lý hiệu quả hơn nữa. 

    Nhiều vi phạm

    Bãi tập kết cát sỏi vi phạm hành lang an toàn đê sông Cầu ở xã Hợp Thịnh (Hiệp Hòa).

    Bãi tập kết cát sỏi vi phạm hành lang an toàn đê sông Cầu ở xã Hợp Thịnh (Hiệp Hòa).

    Bắc Giang có ba con sông lớn chảy qua là sông Thương, sông Lục Nam và sông Cầu với tổng chiều dài hơn 350 km nhưng chỉ có hơn 220 km được khai thác. Hơn 130 km còn lại trên các sông có nhiều bãi cạn, ghềnh đá, mùa khô lòng sông hẹp, mực nước thấp; đến mùa mưa lũ nước chảy xiết, không thể xây dựng bến, cảng, mở tuyến khai thác phục vụ giao thông vận tải đường thủy nội địa. Trên địa bàn tỉnh có ba cảng lớn là: Á Lữ (TP Bắc Giang), Mỹ An (Lục Ngạn) và cảng của Công ty cổ phần Phân đạm và hoá chất Hà Bắc; 133 bến hàng hóa và 41 bến khách ngang sông đang hoạt động.

    Bến hàng hóa trên các tuyến sông chủ yếu là bến trung chuyển, tập kết cát sỏi, vật liệu xây dựng, than, đất đá, sản phẩm sơ chế gỗ… hình thành dọc các đoạn sông thuộc hệ thống đường thủy nội địa quốc gia. Đáng lưu ý là nhiều bến không có giấy phép hoặc vi phạm hành lang an toàn đê, tự ý xây dựng các công trình trái phép. Bến khách ngang sông có hạ tầng hạn chế; số lượng bến khách ngang sông ngày càng giảm và không có bến hình thành mới.

    Khảo sát tại khu vực sông Thương đoạn thuộc địa phận xã Xuân Phú (Yên Dũng) cho thấy, có cả chục bến bãi tập kết vật liệu hoạt động tấp nập ngay trên hành lang bảo vệ đê và luồng thủy chảy qua bến Đám, thôn Đông. Anh Phạm Văn Tuân, Hạt trưởng Hạt quản lý đê Yên Dũng cho biết, tình trạng không giấy phép hoặc thiếu là thực tế chung của những bến bãi tập cát, sỏi ven sông trên địa bàn huyện, không riêng gì xã Xuân Phú. 

    Người dân tự ý mở bến, xây dựng, lắp đặt trụ cẩu, đường lên xuống… mặc dù đã bị nhắc nhở, xử phạt hành chính nhưng những vi phạm như vậy vẫn rất phổ biến.

    Trên sông Cầu và sông Lục Nam cũng xảy ra tương tự, tại xã Hợp Thịnh (Hiệp Hòa), nhiều bãi tập kết cát sỏi xuất hiện với những trụ cẩu xây dựng kiên cố, lắp đặt băng chuyền và được phân chia ranh giới rõ ràng giữa các bến.

    Kết quả kiểm tra gần đây của Cục Đường thủy nội địa (Bộ Giao thông-Vận tải) cho thấy, trên địa bàn toàn tỉnh có đến hơn 80 bến bãi không có giấy phép hoạt động. Hàng chục bến bãi ở thị trấn Bố Hạ (Yên Thế), xã Đào Mỹ (Lạng Giang), xã Huyền Sơn (Lục Nam); xã Quang Châu, Tiên Sơn (Việt Yên), xã Mai Đình (Hiệp Hòa)… vi phạm nghiêm trọng hành lang bảo vệ công trình giao thông, không bảo đảm an toàn đường thủy, thuộc diện buộc phải giải tỏa.

    Bảo đảm an toàn đường thủy

    Đến nay trên địa bàn tỉnh có 23 doanh nghiệp, đơn vị, hợp tác xã và các hộ gia đình đăng ký kinh doanh vận tải thủy nội địa, chủ yếu có quy mô nhỏ, với tổng số 69 phương tiện, tổng công suất 8.412 mã lực, tổng trọng tải 22.490 tấn. Một số còn lại là phương tiện của các cá nhân hoạt động vận tải theo thời vụ, không đăng ký kinh doanh.

    Khối lượng vận chuyển hàng hóa bằng đường thuỷ nội địa bình quân đạt 1,8 triệu tấn/năm, tốc độ tăng bình quân 20,48%/năm. Riêng năm 2020, dự kiến đạt khối lượng khoảng 2,2 triệu tấn. Về vận tải hành khách, hiện nay chỉ có hoạt động vận tải khách ngang sông (tại các bến khách ngang sông), chủ yếu phục vụ nhu cầu dân sinh của người dân tại sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam và hồ Cấm Sơn. Khối lượng vận chuyển hành khách đường thuỷ nội địa đạt 122 nghìn lượt người/năm.

    Bắc Giang có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi về phát triển giao thông đường thủy nội địa, hầu hết các huyện, TP đều có tuyến đường thủy nội địa quốc gia đi qua (trừ huyện Sơn Động). 

    Trong những năm qua, vận tải hàng hóa đường thủy nội địa đã có những đóng góp nhất định vào phát triển KT-XH, nếu được phát huy, lĩnh vực vận tải nhiều ưu điểm như cho phép vận chuyển hàng hóa với khối lượng, tải trọng, kích thước lớn, có lợi thế cạnh tranh do tiết kiệm nhiên liệu, chi phí, cước phí thấp.

    Trao đổi với ông Hoàng Thế Hanh, Trưởng phòng Quản lý vận tải, phương tiện và người lái (Sở Giao thông-Vận tải), được biết, do năng lực cảng, bến còn nhiều hạn chế, nguồn hàng không ổn định, việc kết nối giữa giao thông đường bộ, đường sắt với cảng, bến thủy chưa bảo đảm nên không thuận lợi cho các doanh nghiệp vận tải thủy trong sản xuất, kinh doanh. Các phương tiện đường thủy có tải trọng thấp, vẫn còn tàu vỏ xi măng lưới thép lạc hậu, ảnh hưởng đến khả năng vận chuyển, cạnh tranh.

    Dự báo khối lượng vận chuyển hàng hóa và hành khách sẽ có sự tăng trưởng mạnh; khối lượng vận chuyển hàng hóa giai đoạn 2021-2030 tăng từ 9-10%/năm; khối lượng vận chuyển hành khách tăng từ 3-4%/năm. Do vậy trong thời gian tới, ngành Giao thông-Vận tải sẽ phối hợp chặt chẽ với Cảng vụ Đường thủy nội địa khu vực II (Cục Đường thủy nội địa) tổ chức kiểm tra, xử lý, kiên quyết giải tỏa những bến bãi không phép, có nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn đường sông.

    Triển khai thực hiện các cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển giao thông đường thủy được hưởng theo quy định hiện hành như nghiên cứu miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước các dự án đầu tư mới cảng thủy nội địa, hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo, tập huấn cho người điều khiển phương tiện thủy nội địa thuộc các xã đặc biệt khó khăn, an toàn khu… Thu hút nhà đầu tư tham gia xây dựng cảng, bến bãi, phát triển đội tàu thuyền.

    Tiếp tục kiến nghị Bộ Giao thông-Vận tải, Cục Đường thủy nội địa thực hiện nạo vét một số đoạn trên tuyến đường thủy quốc gia, cảng, bến hàng hóa, bổ sung đầy đủ phao tiêu, biển báo bảo đảm an toàn giao thông, lưu thông thuận tiện. Lập quy hoạch và kêu gọi đầu tư xây dựng mới 24 cảng, trong đó 16 cảng tổng hợp, 3 cảng chuyên dùng và 5 cảng hành khách. 

    Đồng thời, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư cải tạo, nâng cấp, chuẩn hóa các bến hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật trên các sông; xây dựng các bến hành khách phục vụ phát triển du lịch tại khu vực làng cổ Thổ Hà (Việt Yên), bến Tiên Lục (Lạng Giang) và vùng cây ăn quả trọng điểm huyện Lục Nam, Lục Ngạn. 

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Quốc Phương).

  • Nhân rộng mô hình cung ứng phân bón trả chậm cho nông dân

    (BGĐT) – Ngày 24/10, tại TP Bắc Giang, Hội Nông dân tỉnh Bắc Giang, Công ty cổ phần Công nông nghiệp Tiến Nông phối hợp tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động cung ứng phân bón Tiến Nông (Công ty Tiến Nông) trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015-2020 và triển khai nhiệm vụ giai đoạn 2021-2025.

    Hội Nông dân Bắc Giang cung ứng gần 4,9 nghìn tấn phân bón trả chậm cho nông dân

    Hội Nông dân huyện Tân Yên: Tạo động lực cho hội viên phát triển sản xuất

    Hội Nông dân tỉnh Bắc Giang vận động hội viên sản xuất, kinh doanh an toàn thực phẩm

    Tham dự có đồng chí Trần Công Thắng, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh; đại diện lãnh đạo Trung tâm Hỗ trợ nông dân (T.Ư Hội Nông dân Việt Nam).

    Ban Chấp hành HND tỉnh Bắc Giang khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện chương trình hỗ trợ. 

    Ban Chấp hành HND tỉnh Bắc Giang khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện chương trình hỗ trợ.

    5 năm qua, do có sự chỉ đạo đồng bộ, thống nhất từ tỉnh hội đến cơ sở, sự phối hợp chặt chẽ giữa Công ty với các cấp hội, quá trình triển khai chương trình hỗ trợ nông dân sử dụng phân bón Tiến Nông đã đạt kết quả tích cực. 

    Sản phẩm phân bón NPK Si “Vì nông dân Việt” của Công ty Tiến Nông được T.Ư Hội Nông dân Việt Nam cho in logo của Hội trên bao bì, đã tạo niềm tin và giúp cho nông dân nhận biết, phân biệt được sản phẩm phân bón Tiến Nông trên thị trường. 

    Các cấp hội nông dân trong tỉnh đã phối hợp với Công ty cung ứng hơn 24.220 tấn phân bón các loại, mỗi năm tăng bình quân hơn 1.400 tấn. Một số đơn vị tổ chức cung ứng đạt kết quả cao như: Hội Nông dân huyện Hiệp Hòa; Yên Thế; Lục Nam… 

    Giai đoạn 2021-2025, Hội Nông dân tỉnh đề ra một số phương hướng và nhiệm vụ trọng tâm. Đó là tiếp tục triển khai có hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” gắn với triển khai chương trình hỗ trợ nông dân sử dụng phân bón Tiến Nông; tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/HDN của Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh khóa IX về nâng cao vai trò của HND các cấp trong tổ chức dịch vụ, hỗ trợ hội viên nông dân giai đoạn 2020-2023.

    Phối hợp với Công ty Tiến Nông triển khai chương trình hỗ trợ nông dân sử dụng phân bón Tiến Nông, thực hiện các chính sách như: Nhận hàng sớm, thanh toán trước hạn, chiết khấu và các chính sách cho các cấp hội…

    Theo ông Nguyễn Hồng Phong, Tổng Giám đốc Công ty Tiến Nông, qua khảo sát cho thấy nhu cầu sử dụng phân bón trong tỉnh Bắc Giang rất lớn, trung bình một năm nông dân Bắc Giang chi 1.800 tỷ đồng cho nhu cầu phân bón. Trong 5 năm tới, Công ty phấn đấu đáp ứng 30% nhu cầu tiêu thụ phân bón trong tỉnh, với doanh số khoảng 600 tỷ đồng. Công ty sẽ liên kết hợp đồng sản xuất nông nghiệp cùng nông dân, tiếp tục tăng cường cán bộ về cơ sở, phục vụ tận tâm hơn, chuyên nghiệp hơn, giúp nông dân được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ.

    Ông Nguyễn Hồng Phong, Tổng Giám Đốc Công ty Tiến Nông phát biểu.  

    Ông Nguyễn Hồng Phong, Tổng Giám Đốc Công ty Tiến Nông phát biểu. 

    Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Thi, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh ghi nhận hiệu quả hoạt động cung ứng phân bón Tiến Nông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015-2020. 

    Đồng chí khẳng đinh, thời gian qua, cùng với việc kết hợp cung ứng sản phẩm, Công ty Tiến Nông đã hướng dẫn nông dân sử dụng phân bón, tập huấn chuyển giao kỹ thuật thâm canh cây trồng, giúp người dân sử dung phân bón đúng quy trình kỹ thuật, tiết kiệm, nâng cao hiệu quả kinh tế. Nhờ đó, hiệu quả chương trình từng bước được khẳng định, đạt hiệu quả tích cực. Nông dân tiếp cận với sản phẩm phân bón chất lượng, uy tín.

    Đồng chí Nguyễn Văn Thi, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh phát biểu tại hội nghị. 

    Đồng chí Nguyễn Văn Thi, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh phát biểu tại hội nghị.

    Đồng chí đề nghị thời gian tới các cấp hội trong tỉnh, Công ty Tiến Nông sẽ phối hợp chặt chẽ để ngày càng có nhiều hội viên nông dân được thụ hưởng chương trình hỗ trợ sử dụng phân bón Tiến Nông. 

    Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang còn khoảng 30 xã chưa tiếp cận và sử dụng sản phẩm của Công ty Tiến Nông qua kênh cung ứng trả chậm của hội nông dân. Đồng chí đề nghị các huyện quan tâm tuyên truyền, hỗ trợ đối với các xã này.

    Nhân dịp này, Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh Bắc Giang khen thưởng 18 tập thể và 12 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động cung ứng phân bón trả chậm trong giai đoạn 2015-2020. 

    Phát huy tinh thần thương thân thương ái, “lá lành đùm lá rách”, Hội Nông dân tỉnh phát động ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do bão, lũ ở miền Trung.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Minh Phúc).

  • Nâng cao trách nhiệm của chính quyền, chủ rừng và người dân

    (BGĐT) – Từ năm 2018 đến nay, công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang chuyển biến tích cực. Số vụ vi phạm lâm luật giảm nhiều so với trước. Ý thức bảo vệ rừng của chính quyền các cấp, chủ rừng và người dân được nâng lên.

    Những con số biết nói

    Cán bộ Trạm Kiểm lâm Phong Vân (Lục Ngạn) phổ biến các quy định về quản lý, bảo vệ rừng cho người dân bản Na Lang, xã Phong Minh (Lục Ngạn).

    Cán bộ Trạm Kiểm lâm Phong Vân (Lục Ngạn) phổ biến các quy định về quản lý, bảo vệ rừng cho người dân bản Na Lang, xã Phong Minh (Lục Ngạn).

    Bắc Giang có hơn 58 nghìn ha rừng tự nhiên. Trong đó, huyện Sơn Động có hơn 34,9 nghìn ha. Trước năm 2017, Sơn Động là điểm nóng về khai thác, phát, phá, lấn chiếm rừng trái phép khiến ngành chức năng và chính quyền địa phương gặp nhiều khó khăn trong quản lý, bảo vệ. 

    Nay tình hình đã khác. Chứng kiến những cánh rừng lim xanh cây đã cao hàng chục mét, có những cây to hai người ôm tại thôn Đồng Chu, xã Yên Định hay rừng lim xanh, rừng hỗn giao đang vươn cành sinh sôi ở thôn Nam Bồng, xã Tuấn Đạo… mới thấy hiệu quả của việc quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên nơi đây.

    Ông Nguyễn Như Dương, Bí thư Chi bộ thôn Nam Bồng cho biết, thôn có 80 hộ dân. Hiện mỗi hộ nhận giao khoán quản lý, bảo vệ trung bình 8 ha rừng tự nhiên. “Từ khi được chính quyền xã, cán bộ kiểm lâm địa bàn tuyên truyền nội dung Nghị quyết 249 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về bảo vệ, phát triển rừng, mấy năm nay người dân trong thôn không đi phát, phá, lấn chiếm rừng nữa”, ông Dương nói.

    Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sơn Động Hoàng Văn Nguyên thông tin, khi Nghị quyết số 249-NQ/TU ngày 01/11/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (Nghị quyết 249) chưa triển khai, mỗi năm đơn vị phát hiện, xử lý hàng trăm vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. 

    Đơn cử năm 2017, Hạt đã xử lý vi phạm hành chính 208 vụ. Sau khi thực hiện Nghị quyết, năm 2018, Sơn Động chỉ xảy ra 57 vụ vi phạm lâm luật. Năm 2019, số vụ vi phạm giảm còn 45. Đặc biệt, vi phạm về chặt phá rừng tự nhiên trái phép chỉ còn 2 vụ, diện tích thiệt hại 0,22 ha. Từ đầu năm đến nay, toàn huyện xảy ra 18 vụ vi phạm, không gây thiệt hại về rừng.

    Cùng với Sơn Động, tại các địa phương như: Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Dũng, Yên Thế…, số vụ chặt, phá, lấn chiến rừng trái phép cũng giảm xuống mức thấp so với trước. Theo Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang, từ năm 2018 đến nay, toàn tỉnh phát hiện, xử lý vi phạm hành chính 278 vụ vi phạm lâm luật, giảm 823 vụ so với giai đoạn 2015-2017, khối lượng gỗ vi phạm giảm hơn 366m3; khởi tố 7 vụ án và 7 bị can.

    Mặc dù cháy rừng còn xảy ra nhưng các vụ cháy đều sớm được phát hiện; lực lượng tham gia chữa cháy kịp thời nên giảm thiểu thiệt hại. 3 năm gần đây, Bắc Giang xảy ra 23 vụ cháy rừng, giảm 30 vụ so với giai đoạn 2015-2017, diện tích rừng thiệt hại giảm 45,1%.

    Thực hiện hiệu quả các giải pháp

    Có được kết quả trên là do ngay sau khi ban hành Nghị quyết 249, các cấp ủy đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đã nghiêm túc quán triệt và đề ra kế hoạch thực hiện. UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 12/KH-UBND ngày 31/1/2018, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, phân công từng cơ quan, đơn vị thực hiện với lộ trình, thời gian hoàn thành cụ thể. Trên cơ sở Nghị quyết, Kế hoạch của tỉnh, UBND cấp huyện, các sở, ban, ngành liên quan đã chỉ đạo, tổ chức thực hiện phù hợp với từng địa phương, đơn vị.

    Ông Nguyễn Thế Thi, Phó Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn cho biết, Huyện ủy, UBND huyện Lục Ngạn đã tổ chức hội nghị tuyên truyền cho trưởng các ban, ngành, đoàn thể, Bí thư, Chủ tịch UBND cấp xã, các chủ rừng về nội dung Nghị quyết và Kế hoạch của tỉnh. 

    Chỉ đạo Đảng ủy, UBND các xã có rừng tự nhiên tổ chức quán triệt cho Bí thư chi bộ, Trưởng các thôn, bản. Qua đó, các ngành, cấp ủy, chính quyền từ huyện đến cơ sở đã nâng cao trách nhiệm, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng tại địa phương.

    Ngoài ra, các địa phương có rừng trong tỉnh còn lồng ghép tuyên truyền cho Bí thư, Chủ tịch UBND cấp xã, các chủ rừng, người dân thông qua sinh hoạt của các chi, đảng bộ cơ sở. Ủy ban MTTQ, các tổ chức chính trị – xã hội cùng với chính quyền các cấp, cơ quan thông tin từ tỉnh đến cơ sở tích cực tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nội dung Nghị quyết tới người dân, doanh nghiệp.

    Ông Hà Minh Quý, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang đánh giá, Nghị quyết 249 chỉ rõ vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương và các cơ quan, tổ chức trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Do đó, ở những địa phương có rừng đã chỉ đạo cấp ủy, chính quyền cấp xã và các cơ quan, tổ chức liên quan đưa nội dung kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và đất lâm nghiệp vào chương trình công tác tháng, quý. 

    Hằng năm gắn trách nhiệm quản lý, bảo vệ, phát triển rừng khi xem xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ, bình xét thi đua đối với các ngành, chính quyền cấp huyện, cấp xã và cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức. Xử lý nghiêm tập thể và người đứng đầu khi để xảy ra vi phạm trong quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp thuộc thẩm quyền hoặc địa bàn quản lý. Kết quả có một cán bộ UBND xã Phong Minh (Lục Ngạn) bị xử lý kỷ luật cảnh cáo về Đảng, cách chức Phó Chủ tịch UBND xã do hành vi phá rừng tự nhiên. 

    Một Giám đốc công ty lâm nghiệp bị cách chức; một Trạm trưởng trạm kiểm lâm bị kỷ luật với hình thức khiển trách do để xảy ra tình trạng phá rừng trên địa bàn quản lý. Một số cán bộ, công chức, viên chức bị kiểm điểm, phê bình, hạ bậc thi đua, xếp loại hằng năm…

    Để nâng cao trách nhiệm của các chủ rừng và người dân trong bảo vệ rừng, các địa phương đã tổ chức ký hơn 5,8 nghìn bản cam kết bảo vệ rừng và PCCCR cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư sống gần rừng, ven rừng. In và cấp phát hơn 2,1 nghìn tờ rơi tuyên truyền về bảo vệ, phát triển và PCCCR… 

     

    Giai đoạn 2018-2020, tỉnh đã bố trí hơn 37,7 tỷ đồng chi khoán, hỗ trợ bảo vệ rừng tự nhiên, tăng hơn 19,1 tỷ đồng (203%) so với giai đoạn 2015-2017. Việc khoán, hỗ trợ bảo vệ rừng góp phần tăng thu nhập cho người dân địa phương, nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng tự nhiên…

     

    Có 7 chủ rừng lớn thành lập lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng với tổng số 144 người. Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa ba lực lượng quân đội – công an – kiểm lâm theo quy định của Chính phủ trong việc bảo vệ và phòng, chống cháy rừng được củng cố và phát huy.

    Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, Kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh, công tác kiểm tra, giám sát của HĐND tỉnh, MTTQ và các đoàn thể; sự tham mưu chỉ đạo, quản lý và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện kịp thời của các sở, ban, ngành liên quan nên rừng tự nhiên và rừng trồng của Bắc Giang ngày càng được bảo vệ tốt.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Thế Đại).

  • Hiệu quả từ dự án phát triển giống cây ăn quả mới ở Tân Yên

    (BGĐT) – Sau ba năm thực hiện dự án ứng dụng tiến bộ và khoa học công nghệ vào sản xuất một số loại cây ăn quả trên địa bàn huyện Tân Yên (Bắc Giang), đến nay, việc phát triển và nhân rộng cây ổi giống OĐL1 đã  và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân nơi đây.

    Chị Nguyễn Thị Vân, tổ dân phố Hòa Sơn, thị trấn Cao Thượng bên vườn ổi của gia đình.

    Chị Nguyễn Thị Vân, tổ dân phố Hòa Sơn, thị trấn Cao Thượng bên vườn ổi của gia đình.

    Nhằm khai thác tốt tiềm năng, lợi thế phát triển cây ăn quả ở địa phương, từ năm 2017, huyện Tân Yên đã tích cực triển khai thực hiện dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ sản xuất nhãn chín muộn PHM99-1.1, bưởi đỏ Hòa Bình và ổi OĐL1″. Dự án này sẽ kết thúc vào tháng 8/2021, với tổng kinh phí 12 tỷ đồng, trong đó, ngân sách sự nghiệp khoa học T.Ư 3,8 tỷ đồng, ngân sách sự nghiệp khoa học tỉnh 1,5 tỷ đồng, ngân sách huyện 1,7 tỷ đồng và nguồn khác là 5 tỷ đồng.

    Sau ba năm thực hiện, đến nay, các loại cây trồng thuộc dự án cơ bản sinh trưởng, phát triển tốt. Trong đó, nổi bật là giống ổi OĐL1 đã và đang cho thu hoạch, đem lại hiệu quả kinh tế cao, được nhân rộng tại địa phương. Đây là giống cây ăn quả mới, nhập nội từ Đài Loan (Trung Quốc) do Viện Nghiên cứu Rau quả T.Ư tuyển chọn.

     

    Thực tế, trồng giống ổi OĐL1 ở huyện Tân Yên đã cho năng suất từ 20- 30kg/cây 3 năm tuổi và đạt khoảng 20 – 30 tấn/ha. Đây là giống ổi có năng suất cao, chất lượng rất tốt, đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của thị trường.

     

    Được lựa chọn tham gia dự án, qua tham quan thực tế một số mô hình và được tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, năm 2017, gia đình chị Nguyễn Thị Vân, tổ dân phố Hòa Sơn, thị trấn Cao Thượng đã dành toàn bộ 8 sào đất nông nghiệp để trồng ổi OĐL1. Nhờ thực hiện đúng quy trình trồng, chăm sóc, ngay năm đầu tiên ổi đã cho trái ngọt. 

    Chị Vân phấn khởi: “Mấy năm nay, tiếp cận với cây trồng này tôi thấy không khó chăm như một số loại cây khác. Năng suất tăng hàng năm. Vườn ổi cho thu hoạch rải vụ quanh năm, giá cả ổn định nên tôi yên tâm sản xuất”.

    Cũng như gia đình chị Vân, ngoài đất đồi bãi, anh Trần Mạnh Hoạch, tổ dân phố Tân Lập, thị trấn Cao Thượng dành 5 sào đất nông nghiệp chuyển đổi sang trồng ổi OĐL1. Theo anh Hoạch, trồng ổi không vất vả, chỉ cần duy trì chăm bón theo đúng quy trình. 1 sào trồng ổi trừ chi phí mỗi năm cho thu từ 25-30 triệu đồng.

    Năm 2017, khi triển khai thực hiện dự án, người dân nơi đây đã hồ hởi đón nhận. Tham gia dự án, bà con được hỗ trợ cây giống, phân bón và khoa học kỹ thuật nên đã có hơn 100 hộ thuộc các tổ dân phố: Hòa Sơn, Tân Lập, Trong Hạ, Ngoài Hạ… tham gia. Hiện nay, cơ bản các hộ dân đã thành thạo quy trình trồng, chăm sóc ổi OĐL1.

    Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, thực tế sản xuất ổi OĐL1 cho năng suất đạt từ 20- 30kg/cây 3 năm tuổi; khoảng 20 – 30 tấn/ha. Đây là giống ổi có năng suất cao, chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của người tiêu dùng. Từ hiệu quả cây ổi giống OĐL1, người dân nhiều địa phương mặc dù không nằm trong diện thực hiện dự án song đã chủ động tiếp cận cây trồng này. Điển hình như các xã: Phúc Hòa, Hợp Đức… đã trồng hàng chục ha ổi OĐL1.

    Được biết, khi xây dựng dự án, đơn vị chủ trì thực hiện là Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Tân Yên đã có kế hoạch phấn đấu đến năm 2020 toàn huyện trồng 130 ha ổi OĐL1. Thực tế đến thời điểm này, toàn huyện đã đạt hơn 210 ha trồng ổi. Qua đây cho thấy sự lan tỏa mô hình của dự án đến người dân địa phương là rất lớn.

    Theo bà Đào Thu Phương, Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Tân Yên- Chủ nhiệm dự án, cơ sở xây dựng dự án của đơn vị là nhằm hình thành vùng cây ăn quả tập trung đa dạng, chất lượng và hiệu quả. Quá trình triển khai cây ổi OĐL1 đã khẳng định hiệu quả của dự án. 

    Theo nội dung dự án, còn 2 loại cây ăn quả nữa là nhãn chín muộn PHM99-1.1 và bưởi đỏ Hòa Bình cũng đang được triển khai, hiện cây sinh trưởng và phát triển tốt và tiếp tục được theo dõi, đánh giá năng suất, hiệu quả. Theo kế hoạch, tháng 8/2021, dự án sẽ kết thúc. Những kết quả ban đầu của dự án là tín hiệu tích cực để Tân Yên tập trung phát triển vùng cây ăn quả.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Phương Thảo).

  • Bắc Giang: Doanh nghiệp, doanh nhân thi đua sản xuất, phát triển KT-XH

    (BGĐT) – Cách đây 75 năm, ngày 13/10/1945, Bác Hồ gửi Thư cho giới công thương (tức doanh nhân ngày nay) để động viên họ tham gia cứu quốc đoàn. Bức thư của Bác tuy ngắn gọn nhưng có ý nghĩa to lớn. Trong Thư Bác đã khẳng định giới công thương là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc, là thành viên của mặt trận Việt Minh, có nhiệm vụ tham gia xây dựng kinh tế đất nước.  

    Dây chuyền sản xuất thiết bị điện thoại của Công ty TNHH Sameun Electronics Vina, Khu công nghiệp Song Khê - Nội Hoàng (TP Bắc Giang). Ảnh: Hoàng Phương

    Dây chuyền sản xuất thiết bị điện thoại của Công ty TNHH Sameun Electronics Vina, Khu công nghiệp Song Khê – Nội Hoàng (TP Bắc Giang). Ảnh: Hoàng Phương

    Với ý nghĩa to lớn đó, năm 2004 Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã ký Quyết định số 990/2004/ QĐ-TTg lấy ngày 13/10 hằng năm là Ngày Doanh nhân Việt Nam. Suốt 16 năm qua, ngày 13/10 hằng năm đã thực sự trở thành ngày hội truyền thống của cộng đồng doanh nghiệp (DN) ở khắp các địa phương trong cả nước, nhằm tôn vinh các DN, doanh nhân.

    Năm nay, kỷ niệm 51 năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ, chúng ta càng thấy rõ ý nghĩa sâu sắc bức thư mà Bác gửi cho giới công thương vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự để DN, doanh nhân học tập, rèn luyện, phấn đấu vươn lên. Đó cũng là kim chỉ nam cho sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới đất nước. 

    Cộng đồng DN, doanh nhân tiếp tục đón nhận sự quan tâm, tin tưởng to lớn của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Hội nghị BCH T.Ư Đảng lần thứ 5 khóa 12 đã ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. 

    Chính phủ đang tập trung chỉ đạo không ngừng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của DN, giảm bớt thủ tục hành chính; đồng thời cắt giảm các giấy phép kinh doanh có điều kiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho DN tập trung vào đầu tư sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động hội nhập thị trường quốc tế.

     

    Đồng hành cùng với sự phát triển của DN, Hiệp hội DN tỉnh ngày càng chú trọng và phát triển mạnh về cơ cấu tổ chức. Tại 10 huyện, TP đều hình thành Hội DN; đặc biệt Hiệp hội đã thành lập Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ DN đang hoạt động rất hiệu quả. Số lượng hội viên ngày một lớn mạnh, tính đến hết tháng 9/2020 toàn tỉnh có 877 DN hội viên, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2019.

     

    Tại tỉnh Bắc Giang, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh xác định toàn hệ thống chính trị đồng hành cùng DN để xây dựng tỉnh phát triển nhanh và bền vững, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện Nghị quyết số 73/ NQ-TU của Tỉnh ủy về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. 

    Lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh cùng các sở, ngành, cấp ủy, chính quyền các cấp thường xuyên gần gũi, gắn bó với DN thông qua mọi hoạt động của Hiệp hội DN tỉnh để lắng nghe, kịp thời giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN.

    Năm 2020 là năm các DN cả nước nói chung, Bắc Giang nói riêng gặp nhiều khó khăn do đại dịch Covid-19 tác động đến tất cả mọi mặt của cộng đồng DN. Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt vừa thực hiện phòng, chống dịch Covid -19, vừa đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh. 

    Hiệp hội DN tỉnh đã đề ra một số giải pháp nắm bắt kịp thời những vướng mắc, khó khăn của hội viên để phối hợp với các ngành, các cấp tháo gỡ, động viên cộng đồng DN quyết tâm thực hiện mục tiêu kép phát triển sản xuất, bảo đảm phòng, chống dịch an toàn.

    Với vai trò là “cầu nối” giữa chính quyền với DN, đại diện bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của DN hội viên, Hiệp hội DN tỉnh đã phát huy vai trò của tổ chức hội hỗ trợ hội viên vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đồng hành cùng DN đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, làm chủ thị trường trong nước, vươn ra nước ngoài một cách vững chắc.

    Từ những nỗ lực trên, cộng đồng DN trên địa bàn tỉnh đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Số lượng DN thành lập mới tuy có giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 song quy mô được nâng lên. Đến thời điểm này, toàn tỉnh có hơn 10 nghìn DN. Trong 9 tháng năm 2020, Bắc Giang có 790 DN được thành lập mới.

    Đồng hành cùng với sự phát triển của DN, Hiệp hội DN tỉnh ngày càng chú trọng và phát triển mạnh về cơ cấu tổ chức. Tại 10 huyện, TP đều hình thành Hội DN. Đặc biệt, Hiệp hội đã thành lập Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ DN đang hoạt động rất hiệu quả. Số lượng hội viên ngày một tăng, tính đến hết tháng 9/2020 toàn tỉnh có 877 DN hội viên, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2019.

    Cùng với việc phát triển tổ chức, các hoạt động của Hội đã và đang đi vào chiều sâu và hoạt động thiết thực. Trong năm, Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ DN đã tư vấn, hỗ trợ cho hơn 50 lượt DN thành lập mới, thuế, hải quan… 

    Hiệp hội DN tỉnh phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Bắc Giang, Sở Công Thương… tổ chức 10 cuộc đào tạo, tập huấn, tọa đàm giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho DN sau đại dịch Covid-19; Hiệp hội DN tỉnh được UBND tỉnh giao phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ và Phát triển DN thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư lấy phiếu khảo sát của các DN để phục vụ đánh giá nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành, UBND huyện, TP (DDCI) giúp UBND tỉnh nắm được những hạn chế, yếu kém của các đơn vị để kịp thời chấn chỉnh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và nâng hạng chỉ số PCI năm 2020.

    Những kết quả đạt được nêu trên đã minh chứng vai trò to lớn của các DN, doanh nhân Bắc Giang trong việc góp phần hoàn thành các chỉ tiêu phát triển KT-XH của tỉnh. Để ghi nhận sự đóng góp của cộng đồng DN, doanh nhân, nhân Kỷ niệm lần thứ 16 Ngày Doanh nhân Việt Nam, tỉnh Bắc Giang đã vinh danh tại Đại hội thi đua yêu nước lần thứ 5: Tặng 4 cờ thi đua, 4 Bằng khen cho DN tiêu biểu và tặng Bằng khen cho 8 cá nhân, DN; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội DN nhỏ và vừa Việt Nam tặng 36 Bằng khen cho tập thể, 28 Bằng khen cho cá nhân; Hiệp hội DN tỉnh tặng 9 Giấy khen cho các DN, doanh nhân tiêu biểu có nhiều thành tích xuất sắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chấp hành tốt các quy định pháp luật, đóng góp ngân sách cao, tích cực đổi mới sáng tạo không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập thành công thị trường trong nước và quốc tế.

     

    Nguồn: Nguyễn Đức Kha, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội DN tỉnh Bắc Giang (Báo Bắc Giang).

  • Bắc Giang: Đẩy nhanh tiến độ sản xuất vụ đông 2020

    (BGĐT) – Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang, tính đến nay, toàn tỉnh đã thu hoạch được hơn 18 nghìn ha lúa mùa, gieo trồng cây vụ đông được gần 2,5 nghìn ha, đạt trên 38,2% kế hoạch.

    Quản lý chặt mã số vùng trồng nông sản

    Tiếp tục phát triển nghề trồng hoa, cây cảnh, nâng cao thu nhập cho người dân

    Hệ thống tưới tiên tiến cho cây trồng: Giảm công chăm sóc, tiết kiệm nước

    Thời điểm tháng 9 vừa qua, thời tiết có mưa rào liên tục gây ảnh hưởng đến tiến độ thu hoạch lúa mùa và gieo trồng cây vụ đông, đặc biệt là cây vụ đông ưa ấm như lạc, ngô, rau sớm.

    Nông dân xã Quỳnh Sơn, huyện Yên Dũng thu hoạch lúa vụ mùa, chuẩn bị xuống giống vụ đông. 

    Nông dân xã Quỳnh Sơn, huyện Yên Dũng thu hoạch lúa vụ mùa, chuẩn bị xuống giống vụ đông. 

    Để sản xuất vụ đông năm 2020 đạt kết quả cao, hoàn thành kế hoạch đề ra, Sở Nông nghiệp và PTNT đề nghị UBND các huyện, TP chỉ đạo thực hiện một số nội dung bao gồm:

    Chỉ đạo thu hoạch nhanh gọn diện tích lúa mùa đã chín để giải phóng đất gieo trồng cây vụ đông bảo đảm đúng thời vụ. Đối với diện tích lúa chưa đến thời kỳ thu hoạch cần thường xuyên kiểm tra, phòng trừ kịp thời các đối tượng sâu bệnh gây hại trong giai đoạn cuối vụ như: Dâu đục thân, bệnh đen lép hạt, rầy nâu, chuột hại…

    Sau mưa rào, thực hiện buộc dựng lại diện tích lúa bị đổ; đối với diện tích rau màu đã trồng cần tiêu nước ruộng, xới phá váng nhẹ quanh gốc, có thể phun thuốc phòng ngừa bệnh lở cổ rễ cây con kết hợp với tưới nhử bằng nước phân loãng để cây nhanh phục hồi.

    Đẩy nhanh tiến độ gieo trồng cây vụ đông, đặc biệt là cây vụ đông ưa ấm. Do điều kiện mưa nhiều, đất ướt, chỉ đạo đẩy mạnh gieo trồng ngô theo phương pháp làm bầu; lựa chọn những diện tích đất cao, thoát nước để trồng lạc bảo đảm kịp thời vụ và hoàn thành kế hoạch giao.

    Nhóm cây rau đậu cần bố trí trồng thành nhiều trà, rải vụ nhằm khai thác tối đa điều kiện đất đai, công lao động, tránh dư thừa sản phẩm khi thu hoạch tập trung.

    Khuyến khích các mô hình tích tụ ruộng đất để sản xuất tập trung, áp dụng cơ giới hóa và tiến bộ kỹ thuật để giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất; đồng thời phải có hợp đồng liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm, nhất là nhóm cây rau quả chế biến.

    Chủ động kiểm tra, tu sửa, nạo vét hệ thống kênh mương bảo đảm tưới, tiêu thoát nước tốt nhất để phục vụ sản xuất; rà soát điều chỉnh cơ cấu cây trồng vụ đông cho phù hợp với điều kiện thời tiết và thực tiễn sản xuất của địa phương.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Minh Phúc).

  • Doanh nghiệp, doanh nhân tăng cường liên kết, hỗ trợ cùng phát triển

    (BGĐT) – Ngày 10/10, Hiệp hội Doanh nghiệp (DN) tỉnh tổ chức gặp mặt kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10). 

    Đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trao Kỷ niệm chương cho các đồng chí có nhiều đóng góp cho  sự nghiệp phát triển DN.

    Đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trao Kỷ niệm chương cho các đồng chí có nhiều đóng góp cho  sự nghiệp phát triển DN.

    Tham dự có Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lê Thị Thu Hồng; Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái; Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Lâm Thị Hương Thành; Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Từ Minh Hải; các Phó Chủ tịch UBND tỉnh: Phan Thế Tuấn, Lê Ô Pích.

    Cùng dự có nguyên Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh, Chủ tịch Hiệp Hội DN tỉnh Bùi Văn Hạnh; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy; đại diện lãnh đạo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội DN nhỏ và vừa Việt Nam; các sở, ban, ngành tỉnh, huyện, TP cùng các DN, doanh nhân tiêu biểu. 

    Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái trao Bằng khen của VCCI cho các cá nhân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển KT-XH cũng như xây dựng và phát triển cộng đồng DN tại Bắc Giang.

    Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái trao Bằng khen của VCCI cho các cá nhân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển KT-XH cũng như xây dựng và phát triển cộng đồng DN tại Bắc Giang.

    Tại đây, các đại biểu cùng ôn lại truyền thống Ngày Doanh nhân Việt Nam. Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 990/2004/ QĐ-TTg lấy ngày 13/10 hằng năm là Ngày Doanh nhân Việt Nam nhằm tôn vinh các DN, doanh nhân. 

    Những năm qua, với vai trò “cầu nối” giữa chính quyền với DN, đại diện bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của DN hội viên, Hiệp hội DN tỉnh đã phát huy vai trò của tổ chức Hội hỗ trợ hội viên vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đồng hành cùng DN đổi mới sáng tạo. 

    Cộng đồng DN trên địa bàn tỉnh không ngừng lớn mạnh cả về số lượng, chất lượng. Đến thời điểm này, toàn tỉnh có hơn 10 nghìn DN. Trong 9 tháng năm 2020, Bắc Giang có 790  DN được thành lập mới. 

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn tặng hoa chúc mừng Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10).

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn tặng hoa chúc mừng Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10).

    Phát biểu tại đây, các đồng chí lãnh đạo VCCI và UBND tỉnh ghi nhận, biểu dương, đánh giá cao nỗ lực cố gắng và những thành tích Hiệp hội DN tỉnh, các DN, doanh nhân trên địa bàn đạt được trong thời gian qua; góp phần to lớn vào sự phát triển KT-XH. 

    Các đồng chí khẳng định, cộng đồng DN ngày càng phát huy vai trò trụ cột, là động lực quan trọng của nền kinh tế. Đội ngũ doanh nhân ngày càng trở thành lực lượng tiên phong trên mặt trận kinh tế. 

    Chủ tịch Hiệp hội DN tỉnh Bùi Văn Hạnh trao chứng nhận kết nạp hội viên mới tại buổi gặp mặt.

    Chủ tịch Hiệp hội DN tỉnh Bùi Văn Hạnh trao chứng nhận kết nạp hội viên mới tại buổi gặp mặt.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn khẳng định, thời gian qua, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh thường xuyên quan tâm, hỗ trợ phát triển DN với phương châm “DN phát tài, địa phương phát triển”. 

    Thời gian tới, để các DN, doanh nhân tiếp tục có bước phát triển hơn nữa, đóng góp tích cực vào thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển KT-XH của tỉnh, đồng chí đề nghị Hiệp hội DN tỉnh phát huy vai trò cầu nối giữa DN với cấp ủy, chính quyền; quan tâm làm tốt việc tổng hợp thông tin, phản hồi từ phía DN nhằm giúp cấp ủy, chính quyền nắm chắc tình hình, có giải pháp kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ vướng mắc cho DN.

    Các tập thể có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển KT-XH tại địa phương cũng như xây dựng và phát triển cộng đồng DN tại Bắc Giang nhận Bằng khen của VCCI. 

    Các tập thể có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển KT-XH tại địa phương cũng như xây dựng và phát triển cộng đồng DN tại Bắc Giang nhận Bằng khen của VCCI. 

    Các DN, doanh nhân chủ động khắc phục khó khăn, tận dụng tốt thời cơ để đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh. Chấp hành nghiêm, đầy đủ quy định của pháp luật, đặc biệt là trách nhiệm với người lao động và nghĩa vụ với Nhà nước. 

    Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất. Đặc biệt, các DN trong khối tăng cường liên kết, cộng tác, hỗ trợ lẫn nhau, lấy lợi thế của DN này bù cho hạn chế của đơn vị khác để cùng nhau phát triển. Tích cực tham gia công tác an sinh xã hội; xóa đói giảm nghèo trên địa bàn.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn phát biểu tại buổi gặp mặt kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thế Tuấn phát biểu tại buổi gặp mặt kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam.

    Nhân dịp này, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp phát triển DN” cho các cá nhân có nhiều đóng góp cho sự phát triển DN; đồng thời trao Bằng khen cho 22 tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển KT-XH tại địa phương cũng như xây dựng và phát triển cộng đồng DN tại Bắc Giang. 

    Hiệp hội DN nhỏ và vừa Việt Nam, Hiệp Hội DN tỉnh Bắc Giang khen thưởng 51 tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. 

    Tại đây, đại diện lãnh đạo Hiệp hội DN tỉnh đã trao giấy chứng nhận kết nạp hội viên với cho 1 tập thể và 9 DN; đồng thời tiếp nhận ủng hộ quỹ từ thiện của 26 DN trên địa bàn tỉnh, tổng số tiền hơn 1 tỷ đồng.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Hoàng Phương).

  • Bắc Giang: Chung sức xây dựng nông nghiệp, nông thôn hiện đại, văn minh

    (BGĐT) – 90 năm qua, giai cấp nông dân và Hội Nông dân (HND) Việt Nam luôn một lòng theo Đảng, đóng góp to lớn sức người, sức của cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, nhất là trong công cuộc kiến thiết, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Bắc Giang, giai cấp nông dân và HND đang thực sự trở thành trung tâm, nòng cốt của các phong trào thi đua, chung sức xây dựng nông nghiệp, nông thôn hiện đại, văn minh.

    Trải qua 9 kỳ đại hội, những đóng góp vào công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước của giai cấp nông dân và HND tỉnh từng bước được khẳng định. Các cấp HND trong tỉnh đã thực sự vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; đại diện cho ý chí, nguyện vọng của hội viên và chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân. Với phương châm hướng về cơ sở, xây dựng tổ chức hội cơ sở là nền tảng, xây dựng chi hội là địa bàn hành động, là cầu nối giữa Đảng với nông dân, giữa nông dân với Đảng, HND tỉnh đã tập trung xây dựng các mô hình hoạt động; đa dạng hình thức tập hợp, kết nạp hội viên mới và nâng cao chất lượng hội viên. Đến nay, toàn tỉnh có 204 cơ sở hội, 2.058 chi hội với gần 256 nghìn hội viên.

    Ông Nguyễn Văn Hào, thôn Đồng Bục, xã An Thượng - hội viên nông dân sản xuất kinh doanh giỏi huyện Yên Thế thu hoạch thanh long ruột đỏ. 

    Ông Nguyễn Văn Hào, thôn Đồng Bục, xã An Thượng – hội viên nông dân sản xuất kinh doanh giỏi huyện Yên Thế thu hoạch thanh long ruột đỏ. 

    Tổ chức Hội xác định lấy lợi ích kinh tế làm trọng tâm để tổ chức, tập hợp hội viên nông dân thông qua các mô hình chi tổ hội nghề nghiệp, các hoạt động dịch vụ hỗ trợ, tư vấn, hướng dẫn nông dân phát triển sản xuất theo mô hình kinh tế tập thể. Tập trung và mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa, bảo đảm chất lượng, hiệu quả cao, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi… Các phong trào thi đua của Hội được triển khai rộng khắp với trọng tâm là phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi (SXKDG), đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững được lan tỏa, tạo khí thế sôi nổi, góp phần cổ vũ, động viên tinh thần nông dân trong tỉnh vượt khó vươn lên làm giàu.

    Đến nay, toàn tỉnh có 204 cơ sở hội, 2.058 chi hội với gần 256 nghìn hội viên. Hằng năm, toàn tỉnh có hơn 109 nghìn hộ đạt danh hiệu hộ SXKDG các cấp.

    Hằng năm, toàn tỉnh có hơn 109 nghìn hộ đạt danh hiệu hộ SXKDG các cấp. Các hộ đạt danh hiệu hộ SXKDG đã giúp hàng nghìn lượt hội viên khó khăn về vốn, cây con giống, ngày công lao động vươn lên thoát nghèo. Hội vận động cán bộ, hội viên nông dân tích cực thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM). Các cấp hội tuyên truyền, vận động nông dân hiến hàng chục nghìn m2 đất, đóng góp hàng trăm tỷ đồng, hàng vạn ngày công lao động để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; xây dựng hàng trăm mô hình nông dân tự quản về an ninh trật tự, tự quản về bảo vệ môi trường và tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao nông thôn.

    Bên cạnh các phong trào thi đua, các cấp HND trong tỉnh tích cực tổ chức các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nông dân để phát triển sản xuất kinh doanh. Bình quân các cấp hội đã phối hợp tổ chức gần 3,5 nghìn lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật cho hơn 210 nghìn lượt nông dân/năm. Từ những việc làm cụ thể, thiết thực đó, vị thế, uy tín của tổ chức Hội ngày càng được nâng lên, tạo niềm tin và thu hút đông đảo hội viên tham gia, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị và mục tiêu phát triển KT-XH của địa phương.

    Phát huy truyền thống 90 năm xây dựng và phát triển của giai cấp nông dân và HND Việt Nam, trong thời gian tới, các cấp HND trong tỉnh sẽ tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm như: Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền để mỗi cán bộ, hội viên nông dân nắm chắc và thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của các cấp hội. Trong đó, tập trung tuyên truyền các chủ trương, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; xây dựng củng cố tổ chức Hội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đẩy mạnh đổi mới nội dung và phương thức hoạt động Hội. Tập trung hỗ trợ thành lập các HTX nông nghiệp để tổ chức lại sản xuất và phát huy vai trò các HTX làm cầu nối, giúp nông dân liên kết với các doanh nghiệp để tổ chức sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa theo chuỗi giá trị. Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh. Các cấp hội đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, dịch vụ, hỗ trợ nông dân, khuyến khích và hỗ trợ nông dân ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ mới vào sản xuất và chế biến nông sản; hỗ trợ nông dân tiếp cận các nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, bảo đảm an toàn thực phẩm gắn với truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường. Tăng cường chỉ đạo thực hiện tốt các phong trào thi đua ở nông thôn, nhất là phong trào nông dân thi đua SXKDG đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững. Vận động nông dân tích cực tham gia cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh.

    Tự hào về những kết quả đã đạt được, giai cấp nông dân và các cấp HND tỉnh Bắc Giang phát huy truyền thống vẻ vang, tiếp tục xây dựng, củng cố tổ chức Hội vững mạnh, đẩy mạnh các phong trào thi đua, góp phần phát triển nền nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh, hiện đại trên địa bàn tỉnh.

     

    Nguồn: Nguyễn Văn Thi, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Bắc Giang (Báo Bắc Giang).

  • Bắc Giang: 1 tập thể và 6 hội viên nông dân được T.Ư khen thưởng

    (BGĐT) – Ngày 11/10, Hội Nông dân (HND) Việt Nam tổ chức kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập 14/10 (1930-2020); đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh; tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ V giai đoạn 2020-2025 và tuyên dương Chi hội trưởng xuất sắc.

    Bà Nguyễn Thị Chiếm vinh dự được nhận phần thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. Ảnh: Hưng Phạm (NTNN)

    Bà Nguyễn Thị Chiếm vinh dự được nhận phần thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. Ảnh: Hưng Phạm (NTNN)

    Nhân dịp này, Bắc Giang có 1 tập thể là HND xã Xuân Phú (Yên Dũng) được nhận Bằng khen của Trung ương HND Việt Nam vì có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng và hoạt động Hội, giai đoạn 2015-2020.

    Bà Nguyễn Thị Chiếm, thôn Đồng Quýt, xã Tân Mộc (Lục Ngạn) được nhận Huân chương Lao động hạng Ba. Bà Chiếm là hội viên nông dân tiêu biểu với mô hình trồng cây ăn quả có múi, nhiều năm liền đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp tỉnh và cấp Trung ương. 

    Gia đình bà Chiếm hiện có 8 ha cây ăn quả, canh tác theo quy trình VietGAP và GlobalGAP. Thu nhập ổn định từ 2-3 tỷ đồng/năm, tạo việc làm thường xuyên cho 10 lao động địa phương. Hằng năm, bà Chiếm giúp đỡ hàng trăm hội viên, nông dân về kỹ thuật, giống, vốn (cho vay hàng tỷ đồng không lấy lãi) để phát triển sản xuất;  tham gia ủng hộ các phong trào nhân đạo, từ thiện, xây dựng nông thôn mới với tổng số tiền  hơn 150 triệu đồng.

    5 cá nhân khác có thành tích xuất sắc trong các phong trào hoạt động Hội cũng vinh dự được T.Ư HND Việt Nam tặng Bằng khen đợt này, gồm: Ông Trần Văn Minh, Chủ tịch HND huyện Lục Ngạn-cán bộ hội; Nguyễn Văn Khương, hội viên thôn Danh Thượng 3, xã Danh Thắng (Hiệp Hòa) – sáng tạo khoa học với giải pháp “Chế phẩm sinh học diệt ruồi vàng”; ông Nguyễn Văn Khương, Chủ tịch HND xã Ngọc Lý (Tân Yên) – cán bộ cơ sở hội tiêu biểu; ông Hoàng Văn Thân, Chi hội trưởng Chi hội Nông dân bản Ven, xã Xuân Lương (Yên Thế) – cán bộ chi hội tiêu biểu; bà Phạm Thị Loan, hội viên thôn Am, xã Xuân Hương (Lạng Giang) – điển hình trong xây dựng nông thôn mới.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Đại La).

  • 124 doanh nghiệp đạt Thương hiệu quốc gia năm 2020

    Hội đồng Thương hiệu quốc gia Việt Nam (Bộ Công Thương) vừa ban hành Quyết định công nhận 124 doanh nghiệp với tổng số 283 sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2020.

    Mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn do dịch Covid-19 bùng phát, kỳ xét chọn Thương hiệu quốc gia lần thứ 7, năm 2020, vẫn thu hút được sự quan tâm tham gia của hơn 1.000 doanh nghiệp trên cả nước.

    Các hồ sơ đăng ký xét chọn được đánh giá, thẩm định theo các tiêu chí quy định tại Quyết định số 30-2019/QĐ-TTg ngày 8/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 33/2019/TT-BCT ngày 22/11/2019 của Bộ Công Thương. Đồng thời, tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp cũng được xác nhận thông qua các cơ quan chức năng.

    124 doanh nghiệp đạt Thương hiệu quốc gia năm 2020. Ảnh minh họa.

    124 doanh nghiệp đạt Thương hiệu quốc gia năm 2020. Ảnh minh họa.

    Sau hơn 9 tháng phát động, Hội đồng Thương hiệu quốc gia Việt Nam đã ban hành Quyết định số 2534/QĐ-BCT công nhận 124 doanh nghiệp với tổng số 283 sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2020.

    So với năm 2018, năm nay cả nước có thêm 27 doanh nghiệp có sản phẩm đạt danh hiệu này. Đây là minh chứng cho sức hút và tầm ảnh hưởng của chương trình đối với doanh nghiệp trong việc xúc tiến xuất nhập khẩu sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cũng như phát triển thị trường nội địa.

    Năm nay chương trình đã thu hút được một số thương hiệu có tiếng trên thị trường lần đầu đăng ký tham gia như: Dược Nam Hà, Pan, VnPay, Xuân Hòa, Mobifone, BRG, Cholimex, Vinawind…

    Thương hiệu quốc gia là chương trình xúc tiến thương mại đặc thù, dài hạn và duy nhất của Chính phủ nhằm xây dựng, phát triển thương hiệu quốc gia thông qua thương hiệu sản phẩm.

    Dự kiến, lễ công bố các sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2020 sẽ được tổ chức vào cuối tháng 11/2020 tại Nhà hát Lớn Hà Nội.

     

    Nguồn: Theo Hà Nội mới (Báo Bắc Giang).

  • Hội Nữ doanh nhân tỉnh gặp mặt kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam

    (BGĐT)- Ngày 12/10, Hội Nữ doanh nhân tỉnh tổ chức buổi gặp mặt Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10) hướng tới kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10). Tham dự có đại diện lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh; cán bộ Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh và hơn 200 hội viên Hội Nữ doanh nhân.

    Đại biểu tặng hoa chúc mừng Hội Nữ doanh nhân tỉnh.

    Đại biểu tặng hoa chúc mừng Hội Nữ doanh nhân tỉnh.

    Tại buổi gặp mặt, các đại biểu đã cùng ôn lại truyền thống Ngày Doanh nhân Việt Nam và Ngày thành lập Hội Nữ doanh nhân tỉnh. Được biết, Hội Nữ doanh nhân tỉnh được thành lập năm 2011 với 142 hội viên, đến nay Hội có 206 hội viên.

    Năm 2020, mặc dù ảnh hưởng của dịch Covid-19, Hội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trọng tâm đề ra. Trong đó, Hội tổ chức nhiều hoạt động tham quan học tập kết nối giao thương, đào tạo, bồi dưỡng, chia sẻ kỹ năng, giúp đỡ nhau sản xuất, kinh doanh, xây dựng gia đình hạnh phúc. 

    Hội Nữ Doanh nhân tỉnh tặng giấy khen cho các cá nhân có nhiều đóng góp và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác Hội năm 2020.

    Hội Nữ Doanh nhân tỉnh tặng giấy khen cho các cá nhân có nhiều đóng góp và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác Hội năm 2020.

    Hội vận động hội viên tích cực tham gia các chương trình, sự kiện, tập huấn nâng cao hiểu biết về chính sách pháp luật của nhà nước; thực hiện tốt các công tác an sinh xã  hội như hỗ trợ kinh phí, vật tư ủng hộ phòng, chống dịch Covid-19; xây dựng nhà mái ấm tình thương cho người nghèo, tặng 461 suất quà Tết… Với kết quả đạt được, năm 2020, nhiều hội viên Hội Nữ doanh nhân tỉnh được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam khen thưởng. 

    Thảo luận tại đây, các nữ doanh nhân trao đổi kiến thức khởi nghiệp, kinh nghiệm trong quản trị doanh nghiệp, quảng bá giới thiệu sản phẩm; đề xuất nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng phát triển cũng như nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội.

    Nhân dịp này,  Hội Nữ doanh nhân  tỉnh đã tặng Giấy khen cho 4 tập thể và 19 cá nhân có nhiều đóng góp và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác Hội năm 2020; tổ chức kết nạp 33 hội viên mới.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Hoàng Phương).

  • Tân Yên liên kết sản xuất theo chuỗi, tăng giá trị nông sản

    (BGĐT) – Với mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, huyện Tân Yên (tỉnh Bắc Giang) đã quan tâm tổ chức lại sản xuất. Huyện chú trọng phát huy vai trò chủ đạo của các hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp (DN) trong liên kết sản xuất gắn với thu mua, chế biến, tiêu thụ nông sản cho người dân. Nhờ vậy, giá trị bình quân trên diện tích đất canh tác, thu nhập của người dân nâng lên. 

    Tân Yên (Bắc Giang): Xây dựng 6 chuỗi liên kết, sản xuất tiêu thụ nông sản

    Doanh nghiệp, doanh nhân tăng cường liên kết, hỗ trợ cùng phát triển

    Củng cố liên kết “4 nhà”

    Hình thành chuỗi sản xuất

    HTX Sản xuất kinh doanh nông nghiệp Minh Quang, xã Ngọc Thiện thành lập, đi vào hoạt động từ 3 năm trước. Từ đó đến nay, HTX luôn là cầu nối liên kết giữa người dân ở các xã: Ngọc Vân, Việt Ngọc, Lan Giới, Phúc Sơn, Ngọc Thiện… với Công ty cổ phần Chế biến nông sản xuất khẩu Hải Dương (Hải Dương) và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Toàn Cầu (Lục Ngạn) để sản xuất ngô ngọt Việt Thái. 

    Nông dân xã Ngọc Thiện (Tân Yên) chăm sóc ngô ngọt.

    Nông dân xã Ngọc Thiện (Tân Yên) chăm sóc ngô ngọt.

    Theo ông Vũ Văn Lượng, Giám đốc HTX, trước mỗi vụ sản xuất, đơn vị ký hợp đồng với DN cung ứng trước giống, phân bón, bao tiêu ngô ngọt cho người dân. Để cây trồng bảo đảm năng suất, chất lượng, HTX phối hợp chặt chẽ với DN tập huấn quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc cho bà con tại các vùng tập trung quy mô 20-50 ha/vùng. Với cách làm này, từ đầu năm đến nay, HTX thu mua toàn bộ sản phẩm theo hợp đồng đã ký khoảng 2 nghìn tấn, trị giá khoảng 1,5 tỷ đồng.

    Mỗi năm, gia đình bà Phan Thị Tuyến, thôn Đồng Lạng, xã Ngọc Thiện liên kết với DN, HTX trồng 1 ha ngô ngọt, mỗi năm thu hoạch 3 vụ, năng suất 500 – 600 kg/sào, với giá bán bình quân 7 nghìn đồng/kg, thu nhập khoảng 300 triệu đồng/năm. Nhiều hộ khác như: Nguyễn Hữu Thiện, thôn Đồng Lạng; Nguyễn Văn Quyết, thôn Thọ Điền 2, xã Ngọc Thiện trồng 0,5 ha ngô ngọt cũng có thu nhập hàng trăm triệu đồng. 

    Được biết, ở Tân Yên mỗi năm người dân trồng gần 1,3 nghìn ha ngô ngọt, cơ bản diện tích này đều được thu mua theo hợp đồng đã ký kết. Tương tự, HTX Sản xuất và tiêu thụ Lâm Sinh, xã Ngọc Châu liên kết với DN hỗ trợ người dân ở xã Ngọc Châu, Lan Giới… sản xuất 30 ha măng lục trúc, bình quân mỗi ha trị giá hơn 1,7 tỷ đồng/năm.

    Toàn huyện có 20 HTX nông nghiệp và HTX dịch vụ nông nghiệp đứng ra liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản cho người dân. Thay vì sản xuất nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm như trước đây, nay người dân liên kết với HTX, DN sản xuất nông sản quy mô lớn, tạo ra vùng nguyên liệu tập trung. Hoạt động sản xuất dần thực hiện theo chuỗi liên kết với các loại cây chủ lực như: Ngô ngọt, khoai tây, dưa chuột, ớt… 

    Bà Đào Thu Phương, Trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện cho biết, việc hình thành mô hình liên kết giữa DN với nông dân thông qua các HTX không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, mang lại giá trị kinh tế cao mà còn xây dựng được chuỗi giá trị từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, qua đó giải bài toán “được mùa, mất giá”.

    Khuyến khích nhân rộng

    Từ những mô hình liên kết sản xuất, đến nay huyện Tân Yên đã hình thành 78 vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung với các loại cây thế mạnh, quy mô từ 5 đến vài chục ha/vùng. Năm nay, các nông sản chủ lực đặc trưng của huyện được trồng trên diện tích khoảng 2 nghìn ha, tăng 700 ha so với 5 năm trước. 

    Việc nhân rộng các mô hình liên kết sản xuất đã góp phần nâng thu nhập bình quân trên đơn vị diện tích đất canh tác năm 2020 của huyện ước đạt 155 triệu đồng/ha, tăng 62 triệu đồng/ha so với năm 2015.

    Việc nhân rộng các mô hình liên kết sản xuất đã góp phần nâng thu nhập bình quân trên đơn vị diện tích đất canh tác năm 2020 của huyện ước đạt 155 triệu đồng/ha, tăng 62 triệu đồng/ha so với năm 2015. Theo đó, giá trị sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp đạt 3,7 nghìn tỷ đồng, tăng gần 900 tỷ đồng so với 5 năm trước đây.

    Có được kết quả trên là do căn cứ lợi thế của từng xã, thị trấn và tập quán canh tác của người dân, địa phương quy hoạch thành các vùng sản xuất tập trung. Để người dân sản xuất thuận lợi, đưa giống cây trồng có năng suất vào sản xuất, huyện chỉ đạo các xã, thị trấn tích cực vận động người dân dồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu. Các phòng chuyên môn chuyển giao kỹ thuật sản xuất an toàn cho nông dân.

    Đặc biệt, để thu hút các hộ dân cùng tham gia sản xuất thành vùng, huyện tạo điều kiện thuận lợi cho các HTX thành lập mới để làm tốt vai trò cầu nối trong liên kết sản xuất, ký hợp đồng bao tiêu nông sản. Giai đoạn 2017 – 2020, UBND huyện bố trí hơn 6 tỷ đồng hỗ trợ các DN, HTX, chủ trang trại, gia đình ứng dụng công nghệ cao, xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung. 

    Theo đó, địa phương hỗ trợ mỗi HTX thành lập mới, ứng dụng công nghệ cao 20 triệu đồng; mỗi mô hình sản xuất nông nghiệp trong nhà lưới 70 triệu đồng; vùng cây ăn quả hỗ trợ từ 35-70 triệu đồng/vùng để lắp đặt hệ thống tưới tự động nhỏ giọt, phân bón… 

    Ngoài ra, địa phương hỗ trợ Ban điều hành thôn chỉ đạo sản xuất tại cánh đồng mẫu, vùng sản xuất rau quả chế biến từ 5 ha trở lên, vùng sản xuất rau quả thực phẩm từ 7 ha trở lên mức từ 3-5 triệu đồng/vụ/năm.

    Điểm mới năm nay đó là bằng nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ, huyện đang thực hiện 6 mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị như trồng ngô ngọt; rau quả chế biến ở xã Ngọc Thiện; khoai tây tại xã Đại Hóa; măng lục trúc, xã Lan Giới quy mô 10-60 ha/mô hình và hoa công nghệ cao ở xã Phúc Sơn. Tại những mô hình này đều có HTX ký hợp đồng với DN cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và bao tiêu nông sản cho người dân.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Minh Linh).

  • Kinh tế tư nhân – Động lực tăng trưởng

    (BGĐT) – Sau 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Ban Chấp hành T.Ư Đảng (khóa XII) về phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực KTTN của tỉnh Bắc Giang đang dần khởi sắc.

    Thủ tướng làm việc cùng các tập đoàn kinh tế tư nhân

    Sức sống kinh tế tư nhân

    Khắc phục khó khăn trong kết nạp đảng viên ở đơn vị kinh tế tư nhân

    Ngay sau khi được ban hành, Nghị quyết số 10 đã nhanh chóng được tổ chức học tập, quán triệt, phổ biến và thể chế hóa, cụ thể hóa với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ T.Ư tới địa phương và doanh nghiệp (DN). Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị đã thiết thực để Nghị quyết bước đầu đi vào cuộc sống.

    Kiểm định chất lượng sản phẩm tại Công ty cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn (Yên Dũng).

    Kiểm định chất lượng sản phẩm tại Công ty cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn (Yên Dũng).

    Trong chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, tỉnh Bắc Giang đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp và lộ trình cụ thể. Cải cách hành chính; cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh; nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được thực hiện quyết liệt từ tỉnh đến cơ sở.

    Kết quả đã cải thiện đáng kể môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh với sự ghi nhận của cộng đồng DN và người dân; tinh thần khởi nghiệp và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đang dần trở thành phong trào rộng khắp, nhất là giới trẻ; nhiều DN tư nhân đang điều chỉnh chiến lược đầu tư kinh doanh theo hướng bền vững hơn; doanh nhân đang ngày càng được xã hội coi trọng và tôn vinh…

    Sau ba năm thực hiện Nghị quyết, khu vực KTTN ở Bắc Giang đã có bước phát triển mới cả về số lượng, chất lượng và đóng góp ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của nền KT-XH địa phương như góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; huy động các nguồn vốn trong nhân dân và xã hội vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nước; tạo môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam…

    Đến nay, KTTN mà đại diện là doanh nghiệp tư nhân (DNTN) phát triển nhanh và mạnh, có mặt ở hầu hết các ngành, lĩnh vực và vùng, miền. Số lượng DN tăng nhanh, từ 3.000 DN năm 2015 đến năm 2020 đã có trên 10.500 DN với nhiều loại hình đa dạng. 

    Trong đó, hầu hết là DN nhỏ và vừa chiếm 97%- 98%. Hiệu quả, sức cạnh tranh của DN tư nhân dần nâng lên, có tỷ trọng đóng góp GRDP khoảng gần 40%; các DN chiếm trên 51% lao động đang làm việc của nền kinh tế; thu hút khối lượng vốn khá lớn từ nền kinh tế để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh (năm 2015 tổng nguồn vốn đăng ký hoạt động của các DN khoảng 20.000 tỷ đồng, năm 2019 trên 50.000 tỷ đồng); thu ngân sách của tỉnh liên tục tăng, năm 2019 đạt 12.000 tỷ đồng. 

    Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân chiếm trên 30% tổng thu ngân sách cả tỉnh. Ấn tượng nhất là từ năm 2017 đến nay, số DN tư nhân đăng ký thành lập mới đạt cao với bình quân trên 1.200 DN thành lập mới mỗi năm, tăng 40% so với năm 2015, 2016 khi chưa có Nghị quyết. 

    Đặc biệt, năm 2019 số DN thành lập mới là 1.400, năm 2020 mặc dù do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng số DN mới thành lập vẫn đạt trên 1000, góp phần đưa tổng số DN của tỉnh lên trên 10.500 DN và hơn 1.000 chi nhánh và văn phòng đại diện, vốn bình quân trên 10,7 tỷ đồng/DN, gấp 2,6 lần giai đoạn 2011- 2015, tỷ lệ DN hoạt động cũng tăng lên đạt gần 60% DN đăng ký. 

    Nhờ vậy, KTTN không ngừng lớn mạnh, trở thành một trong những nhân tố chính tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh. Năm 2019 tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh đạt 16,1%, đứng thứ 3 cả nước.

    Bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường trong nước và quốc tế; đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh. Số lượng DN của tư nhân tăng nhanh với nhiều loại hình đa dạng; phong trào khởi nghiệp được đẩy mạnh… Ðáng chú ý là nhiều DN tư nhân đang điều chỉnh chiến lược đầu tư và kinh doanh theo hướng bền vững hơn, gắn nhiều hơn với công nghệ và đổi mới sáng tạo.

    Tuy nhiên, đa số DNTN là các DN nhỏ và siêu nhỏ. Tỷ trọng của các DN siêu nhỏ đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Do quy mô vốn nhỏ, năng lực tài chính hạn chế nên sức cạnh tranh của các DNTN thường thấp hơn các DN nhà nước và DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). 

    Nhiều DNTN chưa có tầm nhìn và chiến lược kinh doanh dài hạn; ý thức tự giác chấp hành pháp luật còn hạn chế. Đội ngũ doanh nhân trong các DNTN chưa thực sự lớn mạnh, còn thiếu kinh nghiệm trên thương trường quốc tế và chưa được đào tạo sâu về quản lý sản xuất, kinh doanh. Năng lực công nghiệp của khu vực KTTN ở tỉnh ta trên thực tế là rất nhỏ và yếu, mới chỉ đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển. 

    Phần lớn sản xuất công nghiệp của các DNTN là gia công lắp ráp, chủ yếu sử dụng máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu, trung bình và nguyên liệu nhập khẩu. Do trình độ công nghệ thấp, các DNTN không có khả năng kết nối cũng như tham gia ngành công nghiệp hỗ trợ cho các DN lớn, nhất là không thể tận dụng được hiệu ứng lan tỏa từ các DN FDI đang tăng trưởng nhanh. 

    Trình độ quản trị, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm, cạnh tranh yếu; khả năng liên kết và tham gia chuỗi giá trị còn nhiều hạn chế, chủ yếu tập trung ở các công đoạn có giá trị gia tăng thấp; tình trạng gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh… vẫn phổ biến.

    Ðể khu vực KTTN thực sự là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cần kiên trì thực hiện và thực hiện có hiệu quả năm nhóm giải pháp đã được đặt ra trong Nghị quyết. Cùng với đó, cần có những chính sách hỗ trợ phát triển KTTN ở địa phương tập trung vào phát triển DN nhỏ và vừa, trọng tâm vào các lĩnh vực công nghiệp chế tạo, nông nghiệp… nhằm chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong khu vực KTTN.

    Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển KTTN là một nhân tố không chỉ bảo đảm cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao, tạo nguồn thu cho ngân sách mà còn tham gia vào giải quyết những vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực… 

    Trong bối cảnh thực tế của địa phương ngân sách nhà nước gặp khó khăn, nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt thì những chính sách khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư là rất cần thiết.

    Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh và bền vững buộc phải đạt hiệu quả cao với nhiều giá trị gia tăng, trong đó KTTN giữ vai trò rất quan trọng. Bắc Giang hiện nay là một trong những tỉnh đang phát triển nằm trong khu vực Trung du và miền núi phía Bắc. 

    Vì vậy cần phát huy sức mạnh và khả năng sáng tạo của khu vực tư nhân để KTTN thực sự trở thành nhân tố quan trọng góp phần đưa tỉnh ta sớm hoàn thành mục tiêu trở thành tỉnh có thu nhập trung bình cao trong giai đoạn 2021-2030.

     

    Nguồn: TS. Phùng Văn Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội DN tỉnh Bắc Giang (Báo Bắc Giang).

  • Hơn 314 tỷ đồng xây dựng đường trục thị trấn Vôi

    (BGĐT) – Dự án xây dựng đường trục thị trấn Vôi (Lạng Giang) được thực hiện theo hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT) có tổng mức đầu tư hơn 314 tỷ đồng.

    Thi công phần cầu vượt đường sắt và quốc lộ 1.

    Thi công phần cầu vượt đường sắt và quốc lộ 1.

    Theo thiết kế, dự án xây dựng mới đường, cầu vượt đường sắt, đường bộ và cầu qua kênh Thảo; điểm đầu tuyến Km0+00 giao với đường Trường Chinh, thôn An Mỹ, thị trấn Vôi tuyến cắt qua đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng, đường cao tốc Bắc Giang – Lạng Sơn tại Km101+787 và kết thúc tại điểm giao với đường Đại Lâm – An Hà địa phận thôn Nam Tiến, xã Xương Lâm; tổng chiều dài tuyến 3,88km.

    Tuyến gồm hai đoạn: Đoạn đầu tuyến dài 1,867km, mặt cắt ngang 40m, tiêu chuẩn đường đô thị cấp khu vực; đoạn cuối tuyến dài 2,1km, chiều rộng nền đường 12m, mặt đường 11m theo tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng. Cầu vượt đường sắt và quốc lộ 1 dài 208,5m, rộng 16m; cầu qua kênh Thảo dài 23,1m, rộng 36m.

    Nhà đầu tư là Công ty cổ phần Cơ khí xây dựng Đại Mỗ (Hà Nội), dự kiến thực hiện trong thời gian theo hợp đồng 24 tháng (2018-2020) nhưng đã được UBND tỉnh chấp thuận gia hạn thời gian thực hiện đến 31/01/2021.

    Thanh toán dự án BT bằng quỹ đất thuộc khu vực phía Đông thị trấn Vôi, với diện tích quy hoạch 56,05ha, trong đó diện tích đất ở (phân lô bán nền) khoảng 15ha.

    Hiện nay, phần đường đã thi công hoàn thiện đắp nền, cấp phối đá dăm loại I, II và cống thoát nước, thảm nhựa, lắp đặt bó vỉa hè, bó vỉa dải phân cách giữa, hệ thống chiếu sáng… Cầu kênh Thảo cơ bản đã hoàn thành.

    Hạng mục cầu vượt đường sắt đã thi công xong 5/6 mố trụ; đúc được 14/35 phiến dầm Supper -T, chuẩn bị thi công lao dầm; thi công tấm tường chắn có cốt đúc sẵn, khối lượng đúc đạt 750 tấm/1.004 tấm; đang triển khai đắp đất đường dẫn mố A1 với 80% khối lượng.

    Trong thời gian tới, chủ đầu tư sẽ đẩy nhanh việc khắc phục vướng mắc, hoàn thành việc cấp phép và tổ chức thi công trụ P2 trong hành lang an toàn đường sắt; tập trung nhân lực, máy móc thi công hoàn thiện dự án.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Quốc Phương).

  • Doanh nghiệp thi đua sản xuất, tăng doanh thu

    (BGĐT) – Những ngày này, các doanh nghiệp trong tỉnh đang phát động nhiều phong trào thi đua lao động sản xuất, kinh doanh thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

    Một góc xưởng sản xuất linh kiện nhựa của Công ty TNHH nhựa S-Dragon Bắc Giang.

    Một góc xưởng sản xuất linh kiện nhựa của Công ty TNHH nhựa S-Dragon Bắc Giang.

    Công ty TNHH Linh kiện nhựa S-Dragon Bắc Giang, Khu công nghiệp Vân Trung (Việt Yên) là đơn vị chuyên sản xuất linh kiện nhựa máy in, máy phô tô cung ứng cho một số doanh nghiệp ở các tỉnh, TP như: Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nam, Hưng Yên, Hà Nội để xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. 

    Thời gian gần đây, để bảo đảm số lượng hàng phục vụ thị trường, hàng trăm công nhân trong các phân xưởng đang miệt mài làm việc, người vận hành máy, người đóng hàng, phân thành từng lô riêng biệt. Ông Phạm Ngọc Hạnh, Giám đốc Công ty cho biết, mặc dù bị ảnh hưởng bởi dịch Covid -19 những tháng đầu năm song Công ty từng bước khắc phục khó khăn để tạo việc làm ổn định cho hơn 200 lao động, thu nhập 9 -10 triệu đồng/người/tháng, tăng hơn 1 triệu đồng/người/tháng so với năm ngoái.

    Để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, từng bước khôi phục sản xuất, ngoài đầu tư một số máy móc hiện đại, từ cuối tháng 8 đến nay Công ty phát động phong trào thi đua sản xuất giỏi tới tất cả người lao động. Doanh nghiệp có cơ chế khen thưởng cho công nhân tiêu biểu có sáng kiến áp dụng vào sản xuất, tăng năng suất sản phẩm. Vì vậy, người lao động trong doanh nghiệp đều phấn khởi hưởng ứng với mong muốn góp sức đưa doanh nghiệp vượt qua khó khăn, doanh thu tăng trưởng mạnh sau đợt dịch Covid-19 vừa qua để lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX.

    Với cách làm đó, 9 tháng qua, doanh thu của Công ty đạt gần 60 tỷ đồng, tăng gần 30 tỷ đồng so với tổng doanh thu của năm 2019. Từ nay đến hết năm, doanh nghiệp tiếp tục tìm kiếm, mở rộng thị trường, tạo việc làm ổn định cho công nhân, phấn đấu nâng doanh thu năm nay lên 80 tỷ đồng.

    Công nhân Công ty TNHH May Nhật Mỹ (Việt Yên) hoàn thiện sản phẩm quần áo theo đơn hàng. 

    Công nhân Công ty TNHH May Nhật Mỹ (Việt Yên) hoàn thiện sản phẩm quần áo theo đơn hàng.

    Tương tự, Công ty TNHH May Nhật Mỹ, xã Hương Mai (Việt Yên) chuyên gia công quần áo để xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc. Hiện doanh nghiệp đang tập trung phát động phong trào thi đua tăng năng suất lao động. Thu nhập của người lao động từ 7,5-8 triệu đồng/tháng, ngoài ra Công ty hỗ trợ tiền xăng xe 400 nghìn đồng/người/tháng. Bà Trần Thị Hương Hảo, Giám đốc Công ty cho biết, thời điểm này, Công ty đang tuyển thêm khoảng 100 lao động để khôi phục sản xuất, kinh doanh, tăng doanh thu vào dịp cuối năm.

    Không chỉ doanh nghiệp trong nước, thời điểm này, dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát nên nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khuyến khích công nhân hăng say lao động, tăng năng suất, thu nhập. 

    Công ty TNHH Diabell Vina là doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư tại Khu công nghiệp Vân Trung (Việt Yên). Công ty chuyên sản xuất linh kiện điện thoại cung cấp cho hãng LG và Vsmart. Thời gian qua, dịch Covid -19 đã tác động không nhỏ tới sản xuất và doanh thu của doanh nghiệp song đơn vị vẫn duy trì sản xuất, kinh doanh ổn định, bảo đảm việc làm cho gần 150 lao động, thu nhập bình quân 8 triệu đồng/người/tháng. Hay tại Công ty TNHH Điện tử Mimi Teck, xã Việt Tiến (Việt Yên), công nhân dồn lực thi đua sản xuất linh kiện điện phục vụ xuất khẩu.

    Công nhân Công ty TNHH Diabell Vina (Việt Yên) tập trung cao hoàn thiện đơn hàng chuẩn bị xuất khẩu. 

    Công nhân Công ty TNHH Diabell Vina (Việt Yên) tập trung cao hoàn thiện đơn hàng chuẩn bị xuất khẩu.

    Được biết, thời điểm này toàn tỉnh có hơn 10 nghìn doanh nghiệp, giải quyết việc làm cho hàng trăm nghìn lao động. Đến hết tháng 9, kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh ước đạt 7,6 tỷ USD. Theo Cục Thuế tỉnh, hết tháng 9 năm nay, thu ngân sách toàn tỉnh đạt gần 6 nghìn tỷ đồng. Trong đó, các doanh nghiệp đóng góp ngân sách chiếm 60% trong tổng số thu này.

    Những ngày này, hầu hết các doanh nghiệp tập trung thi đua đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh bù đắp doanh thu bị sụt giảm do dịch bệnh những tháng đầu năm, phấn đấu hoàn thành mục tiêu đề ra của năm 2020. Đồng thời nhằm thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Minh Linh – Hoàng Phương).

  • Vinh danh 63 nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2020

    Nhân kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam 14/10 (1930-2020), tối 13/10, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Công Thương tổ chức Lễ tôn vinh và trao danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2020.

    Tham dự buổi Lễ có: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình; Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung; Trung tướng Vũ Hải Sản, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương và địa phương.

     Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình trao danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2020 cho các cá nhân. 

     Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình trao danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2020 cho các cá nhân. 

    Tại buổi Lễ, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam Thào Xuân Sùng cho biết, đây là hoạt động thường niên của Hội Nông dân Việt Nam nhằm tôn vinh những tấm gương nông dân điển hình tiên tiến, có nhiều sáng tạo, cống hiến trong lao động sản xuất, xây dựng nông thôn mới và bảo vệ an ninh Tổ quốc, chủ quyền quốc gia.

    Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam Thào Xuân Sùng khẳng định: Vinh danh Nông dân Việt Nam xuất sắc là vinh danh công đức, tài năng, sáng tạo của những hội viên nông dân đã dấn thân vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam vững mạnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Đồng thời tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ về “Mẫu hình người nông dân thế hệ mới” trong thời kỳ đẩy mạnh phát triển nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh, hiện đại theo lời dạy ân cần của Bác Hồ: “Nông dân giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp thịnh thì nước ta thịnh”, vì khát vọng “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của dân tộc ta”.

    Ông Thào Xuân Sùng cho biết, năm 2020, tình hình thế giới và Việt Nam có nhiều biến động, phức tạp do tác động của đại dịch Covid-19 gây nên. Tuy nhiên, các hội viên nông dân và nông dân cả nước vẫn hăng say lao động, tham gia các phong trào thi đua của Hội Nông dân Việt Nam, cùng các cấp Hội; qua đó đã xuất hiện nhiều gương nông dân điển hình tiên tiến. Trong bối cảnh đó, việc tôn vinh các nông dân xuất sắc càng có ý nghĩa quan trọng, góp phần cổ vũ, động viên và khuyến khích nông dân tiếp tục nỗ lực sản xuất, kinh doanh để làm giàu cho bản thân, đóng góp cho kinh tế đất nước.

    Theo Ban Tổ chức, thông qua nhiều vòng bình chọn khách quan, công tâm, nhiều gương nông dân điển hình tiên tiến trong 3 phong trào thi đua lớn của Hội Nông dân được các địa phương đề cử để Hội đồng Chung khảo bình chọn danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2020”.

    Tại buổi Lễ, Trưởng ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình và Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam Thào Xuân Sùng cùng lãnh đạo các bộ, ngành đã trao Bằng khen tặng những nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2020 vì có nhiều đóng góp cho hoạt động, sản xuất nông nghiệp…

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang – Theo TTXVN.

  • Thành công nhờ đưa giống cây lâm nghiệp mới vào sản xuất

    “Mục tiêu của chúng tôi là tăng sản lượng gỗ trên cùng một diện tích đất rừng. Đồng thời nhân rộng các giống cây lâm nghiệp mới phục vụ người trồng rừng trong và ngoài tỉnh”- đó là chia sẻ của Giám đốc Công ty TNHH hai thành viên Lâm nghiệp Yên Thế (Công ty Lâm nghiệp Yên Thế) Phạm Tiến Vĩnh khi nói về định hướng trồng rừng của Công ty.

    Nâng cao trách nhiệm của chính quyền, chủ rừng và người dân

    Toàn dân bảo vệ rừng

    Bảo vệ môi trường, giúp người dân làm giàu nhờ phát triển rừng

    Nâng giá trị rừng trồng

    Nhiều năm qua, người dân và nhiều doanh nghiệp (DN) nơi đây đang làm giàu từ rừng. Trong đó có Công ty Lâm nghiệp Yên Thế.

    Cùng cán bộ Công ty vượt qua nhiều cung đường lâm nghiệp khúc khuỷu, gồ ghề để lên các ngọn đồi, núi cao thuộc bản Trại Nấm, xã Đồng Tiến (Yên Thế). Khuất sau những khu rừng gỗ lớn 10 năm tuổi của DN này là cánh rừng keo đang vươn cành, thân đều thẳng tắp. Các thân keo có gắn những tấm biển nhỏ, đánh số cẩn thận. Diện tích này lá và cành ngang nhỏ, thân thẳng, cao, chắc khỏe. 

    Cán bộ Công ty đánh giá sức sinh trưởng của cây keo lai BV10 tại khu rừng gỗ lớn ở bản rừng Chiềng, xã Tiến Thắng (Yên Thế).

    Cán bộ Công ty đánh giá sức sinh trưởng của cây keo lai BV10 tại khu rừng gỗ lớn ở bản rừng Chiềng, xã Tiến Thắng (Yên Thế).

    Đại diện lãnh đạo Công ty giới thiệu, đây là khu rừng keo tam bội 3 năm tuổi với 6 dòng keo lai gồm: X11, X101, X102, X201, X204 và X1100. Diện tích rừng thuộc đề tài khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu chọn tạo giống keo tam bội sinh trưởng nhanh phục vụ trồng rừng gỗ lớn”. Đề tài do Viện Nghiên cứu giống và Công nghệ sinh học lâm nghiệp thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chủ trì, phối hợp với Công ty Lâm nghiệp Yên Thế trồng khảo nghiệm. 

    Cùng với huyện Cam Lộ (Quảng Trị) và Xuân Lộc (Đồng Nai) – Yên Thế là địa phương thứ ba đại diện cho tiểu vùng khí hậu và thổ nhưỡng miền Bắc để trồng khảo nghiệm các dòng keo lai này.

    Thực tế cho thấy, dòng keo lai tam bội sinh trưởng nhanh, hợp khí hậu, thổ nhưỡng của Bắc Giang. Năng suất đạt 30m3/năm, vượt từ 15% – 25% so với nhiều giống đang trồng đại trà (tăng khoảng hơn 20 m3 gỗ/ha rừng sau một chu kỳ khai thác 5 năm; tương ứng với hơn 25 triệu đồng) và thích ứng rộng với ít nhất 3 vùng sinh thái trở lên (miền Bắc, miền Trung và miền Nam). 

    Nhờ các kết quả trồng khảo nghiệm này, cuối tháng 4 vừa qua, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có quyết định công nhận giống keo lai tam bội mới với các dòng: X101, X102, X201 và X205 để nhân ra diện rộng.

    Theo ông Phạm Tiến Vĩnh, đây chỉ là một số dòng cây mới trong hàng chục giống cây lâm nghiệp mà đơn vị đã liên kết, nghiên cứu và trồng khảo nghiệm thành công từ năm 2011 đến nay. Trong đó có nhiều giống cây hiệu quả cao như: Các dòng bạch đàn UP, bạch đàn PNCT3; các dòng keo hạt và keo lai thế hệ 1,5; keo lai BV10, BV16… 

    Nhờ tích cực đưa các giống cây mới vào thâm canh, đến nay, với hơn 2,3 nghìn ha rừng sản xuất tại huyện Yên Thế, mỗi năm Công ty Lâm nghiệp Yên Thế khai thác và trồng mới hơn 200 ha rừng trồng. Doanh thu năm sau cao hơn năm trước. Đơn cử, năm 2018 đạt 24 tỷ đồng; năm 2019 đạt 30,8 tỷ đồng. 

    Mặc dù bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nhưng doanh thu cả năm nay của đơn vị dự kiến vẫn tương đương năm 2019. Thu nhập bình quân của người lao động đạt 8 triệu đồng/người/tháng; nộp ngân sách từ 2-3 tỷ đồng/năm.

    Nhân rộng sản xuất, thâm canh giống mới

    Sau khi trồng khảo nghiệm thành công, được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận, Công ty Lâm nghiệp Yên Thế đã được Viện Nghiên cứu giống và Công nghệ sinh học lâm nghiệp chuyển giao quy trình kỹ thuật sản xuất các loại giống cây mới này và nhân rộng ngay trên diện tích đất rừng của DN. Hiện Công ty đã xây dựng khu sản xuất giống có hệ thống tưới nước tự động, giàn che hiện đại với nhiều loại cây đầu dòng có năng suất chất lượng cao… 

    Nhờ tích cực đưa các giống cây mới vào thâm canh, đến nay, với hơn 2,3 nghìn ha rừng sản xuất tại địa bàn Yên Thế, mỗi năm Công ty Lâm nghiệp Yên Thế khai thác và trồng mới hơn 200 ha rừng trồng. Doanh thu năm sau cao hơn năm trước, đơn cử: Năm 2018 đạt 24 tỷ đồng; năm 2019 đạt 30,8 tỷ đồng.

    Quy mô sản xuất khoảng 2 triệu cây giống các loại/năm. Ngoài đáp ứng nhu cầu trồng rừng của Công ty, DN còn cung ứng giống cho người dân và các đơn vị trồng rừng trong và ngoài tỉnh. Tiên phong đưa các loại giống cây lâm nghiệp mới vào sản xuất thành công nên nhiều DN, hộ gia đình kinh doanh rừng ở trong và ngoài tỉnh đã đến tham quan, học tập mô hình trồng rừng của Công ty.

    Không dừng lại ở việc sản xuất và cung ứng cây giống, Ban lãnh đạo Công ty Lâm nghiệp Yên Thế còn cử cán bộ kỹ thuật hỗ trợ, hướng dẫn nhiều DN trong và ngoài tỉnh cách sản xuất các giống cây lâm nghiệp và quy trình trồng, chăm sóc rừng sản xuất. 

    Bà Hoàng Kim Nam, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Toản Nam, thị trấn Bố Hạ (Yên Thế) cho biết, nhiều năm trước bà đã tới Công ty Lâm nghiệp Yên Thế để học hỏi và phối hợp gieo ươm một số loại giống mới. Hiện tại, khi nhận các giống cây mới về gieo ươm, phía Công ty Lâm nghiệp Yên Thế đều mời đơn vị chia sẻ kỹ thuật và phối hợp sản xuất.

    Ông Nguyễn Văn Hậu, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm chia sẻ, Bắc Giang có diện tích rừng trồng lớn với hơn 94 nghìn ha. Việc Công ty Lâm nghiệp Yên Thế được Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam chọn, phối hợp trồng khảo nghiệm, nghiên cứu các loại giống cây mới và đưa vào nhân rộng trong thực tế có ý nghĩa rất lớn. Kết quả này là căn cứ để Bắc Giang nói riêng, các chủ rừng trong cả nước nói chung học tập và làm theo, nâng cao hiệu quả kinh tế rừng.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Thế Đại).