Danh mục: Tin tức kinh tế

  • Bắc Giang: Các ngân hàng bàn giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp

    (BGĐT) – Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, ngày 15/9, Chi nhánh NHNN tỉnh Bắc Giang phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp, Hội Doanh nhân trẻ tỉnh tổ chức hội nghị tháo gỡ khó khăn về vốn, thanh toán cho các doanh nghiệp (DN), HTX bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. 

    Đại diện NHNN Việt Nam và lãnh đạo Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh chủ trì hội nghị.

    Đại diện NHNN Việt Nam và lãnh đạo Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh chủ trì hội nghị.

    Dự hội nghị có đại diện Vụ tín dụng (NHNN Việt Nam), đại diện lãnh đạo một số cơ quan liên quan, giám đốc các ngân hàng thương mại trên địa bàn, 50 DN, HTX bị ảnh hưởng dịch Covid-19.

    Đề xuất giãn nợ, giảm lãi suất

    Những tháng đầu năm, dịch Covid-19 bùng phát làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của phần lớn các DN trong tỉnh. Các đơn vị này chủ yếu gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm, thiếu nguyên liệu đầu vào do không nhập khẩu được trong thời gian dài.

    Theo đánh giá của ngành chức năng, toàn tỉnh hiện có 80% số DN sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ các thị trường chính như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ. Gần 160 DN gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm, các đơn hàng bị cắt giảm từ 20-40% so với cùng kỳ, trong đó có 102 DN giảm doanh thu do số lượng đơn hàng giảm.

    Quang cảnh hội nghị.

    Quang cảnh hội nghị.

    Không chỉ các DN, toàn tỉnh có khoảng 70% số các HTX nông nghiệp chịu tác động của dịch Covid-19 khiến giá bán các sản phẩm giảm 10-15% so với trước đây; sản phẩm cung ứng kéo theo đó giảm 30-50%. Trong tháng 5,6, dịch tạm lắng xuống, các DN đang tập trung phục hồi sản xuất, kinh doanh thì tháng 7, 8, dịch lại diễn biến phức tạp ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

    Thảo luận tại hội nghị, nhiều DN cho rằng, dịch xảy ra trong thời gian dài nên hoạt động sản xuất, kinh doanh phải cầm chừng, thậm chí có đơn vị tạm dừng hoạt động 1-2 tháng, doanh thu giảm đáng kể. Không ít DN đã cắt giảm giờ làm, cho công nhân nghỉ việc luân phiên.

    Thực trạng này khiến nhiều DN gặp khó khăn khi đáo hạn vốn vay và trả lãi suất cho ngân hàng. Bà Vương Thị Kim Trang, Giám đốc Công ty TNHH Máy tính Đồng Trang (TP Bắc Giang) phản ánh: “Hiện nay, Công ty đang vay vốn từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Giang. DN chủ yếu cung ứng máy tính cho khách hàng trong toàn tỉnh. Do dịch Covid-19 nên việc thu hồi vốn chậm vì nhiều khách hàng nợ từ 3 tháng đến 1 năm. Tôi đề nghị ngân hàng xem xét giãn thời gian trả nợ cho DN từ 6 tháng lên 9 tháng, tiếp tục giảm lãi suất vốn vay để có thêm vốn đầu tư khôi phục sản xuất, kinh doanh”.

    Đại diện Công ty cổ phần Quốc tế ICO (TP Bắc Giang) nêu, hiện nay DN hoạt động trong lĩnh vực du học. Thời gian qua, Công ty hầu như dừng đưa học sinh sang các nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Đức, đồng nghĩa nguồn thu gần như không có. DN đề nghị ngân hàng xem xét tiếp tục cho DN vay thêm vốn, ưu tiên nguồn tiền vay không cần tài sản bảo đảm. 

    Đại diện HTX sản xuất mỳ Chũ Tùng Chi Bắc Giang (Lục Ngạn) phản ánh, do ảnh hưởng bởi dịch nên HTX tiêu thụ sản phẩm rất chậm. Trong khi đó, đơn vị chưa được vay vốn trên danh nghĩa HTX vì không có tài sản bảo đảm mà chỉ các cá nhân tự vay rồi cùng góp vốn sản xuất, kinh doanh. Theo đó mức lãi suất cao, khó đầu tư sản xuất. 

    Nhiều DN khác như: Công ty TNHH một thành viên Cơ khí Tuyết Thành (Tân Yên), HTX Thương mại và Dịch vụ An Phát (Lục Ngạn)… cũng đề nghị các ngân hàng tiếp tục giãn nợ, giảm lãi suất tiền vay, đồng thời cho vay mới với lãi suất ưu đãi để mở rộng sản xuất, kinh doanh.

    Tập trung tháo gỡ

    Trước các đề nghị của các DN, tại hội nghị, ông Nguyễn Văn Oánh, Giám đốc Chi nhánh NHNN tỉnh Bắc Giang nhấn mạnh, tới đây Chi nhánh tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại tập trung thực hiện tốt Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 quy định về tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời gian trả nợ, miễn giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19.

    Theo đó, Chi nhánh làm việc trực tiếp với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh, Hội Doanh nhân trẻ tỉnh để tiếp tục nắm bắt danh sách các DN bị ảnh hưởng do dịch, trên cơ sở đó chỉ đạo các ngân hàng thương mại khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất.

    Nhiều ngân hàng thương mại như: Agibank Chi nhánh tỉnh, Agribank Chi nhánh Bắc Giang II đã công khai số điện thoại đường dây nóng để DN phản ánh khó khăn, vướng mắc trong công tác vay vốn, đồng thời cử cán bộ hoàn thiện hồ sơ đề nghị cơ cấu lại thời gian trả nợ, giảm lãi suất tiền vay.

    Được biết, từ đầu năm đến hết ngày 31/8/2020, các ngân hàng trong tỉnh đã cơ cấu lại thời gian trả nợ cho 1.331 khách hàng với dư nợ 1.668 tỷ đồng, thời gian giãn nợ từ 6 tháng đến một năm. Các ngân hàng giảm lãi suất tiền vay cho 3.379 khách hàng với dư nợ được giảm lãi 9.662 tỷ đồng, mức giảm 0,5-2,5%/năm so với trước đây; giải ngân hơn 17,5 nghìn tỷ đồng cho 6.793 khách hàng để tiếp tục thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh với lãi suất thấp hơn phổ biến từ 0,5-2,5%

    Điển hình như Vietcombank Bắc Giang đã giảm 3 đợt lãi suất và giảm phí giao dịch chuyển tiền Việt Nam đồng trong nước ngoài hệ thống cho khách hàng DN. Agribank Chi nhánh tỉnh Bắc Giang cơ cấu lại nguồn vốn cho vay, đã điều chỉnh giảm lãi suất và cho vay mới với lãi suất ưu đãi ngắn hạn 5 – 5,5%/năm cho các khách hàng ưu tiên. 

    Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang LGG (Lạng Giang) là một trong những doanh nghiệp được giãn nợ khoản tiền vay.

    Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang LGG (Lạng Giang) là một trong những doanh nghiệp được giãn nợ khoản tiền vay.

    Các ngân hàng Agribank Chi nhánh Bắc Giang II; Vietcombank Chi nhánh tỉnh… cũng làm tốt việc cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi suất tiền vay cho DN bị ảnh hưởng do dịch.

    Ông Nguyễn Văn Oánh cho biết thêm, từ nay đến hết năm, để tránh tình trạng bỏ lọt DN không được hưởng chính sách ưu đãi, ngân hàng khuyến cáo, DN bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 cần khẩn trương có đơn đề nghị để ngân hàng thẩm định xác minh.

    DN nào chưa nắm được quy trình, thủ tục có thể liên hệ trực tiếp theo đường dây nóng đến ngân hàng để được hướng dẫn cụ thể. Đối với các DN khó khăn về tài sản thế chấp có thể xin cấp bổ sung giấy chứng nhận tài sản trên đất để tăng nguồn vốn vay.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Minh Linh).

  • Chiến lược chăn nuôi đến 2030: Biến 100 triệu tấn chất thải thành tiền

    Ngành Chăn nuôi phải tái cơ cấu để tăng trưởng mạnh mẽ, ổn định sinh kế cho nông dân, biến 100 triệu tấn chất thải thành tiền.

    Chủ trì Hội nghị Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2020-2030, tầm nhìn đến 2040 tổ chức ngày 15/9 tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng, nhấn mạnh: Định hướng phát triển ngành chăn nuôi để ngành thực sự có sức cạnh tranh và phát triển bền vững, đóng góp cho sự tăng trưởng và phát triển đất nước. Chiến lược là công cụ rất quan trọng để kiểm soát phát triển.

    Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ chức hội nghị tập hợp ý kiến về Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi 2020-2030. 

    Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ chức hội nghị tập hợp ý kiến về Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi 2020-2030. 

    Về chiến lược phát triển ngành chăn nuôi, trước hết, phải gắn với nhu cầu thị trường trong nước và trên thế giới, phải tính toán, dự báo nhu cầu thị trường, tránh đầu tư theo phong trào, thiếu chiến lược, thiếu kế hoạch. Chúng ta phải vừa dự báo vừa điều chỉnh, bổ sung, cập nhật kịp thời để theo kịp diễn biến của thị trường.

    “Phát triển ngành chăn nuôi phải bảo đảm năng suất, chất lượng gắn với bảo vệ môi trường, muốn vậy phải phát triển chăn nuôi gắn với công nghiệp hiện đại hóa, coi trọng chăn nuôi truyền thống. Phải phát triển mạnh các doanh nghiệp chăn nuôi, coi đây là động lực để công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành chăn nuôi, để liên kết trong chuỗi giá trị. Muốn vậy phải áp dụng khoa học kỹ thuật thật tốt, phát triển kinh tế tuần hoàn” – Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nói.

    Xử lý chất thải chăn nuôi, không để ô nhiễm môi trường, biến chất thải chăn nuôi thành tiền là nhiệm vụ quan trọng trong tái cơ cấu ngành chăn nuôi. Ảnh: Cục Chăn nuôi

    Xử lý chất thải chăn nuôi, không để ô nhiễm môi trường, biến chất thải chăn nuôi thành tiền là nhiệm vụ quan trọng trong tái cơ cấu ngành chăn nuôi. Ảnh: Cục Chăn nuôi

    Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Nguyễn Xuân Cường, tái cơ cấu ngành chăn nuôi, ngoài đạt các mục tiêu về sản lượng thịt, trứng, sữa đã đề ra, không chỉ bảo đảm nhu cầu trong nước mà còn đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

    “Ngành chăn nuôi tạo sinh kế cho 6-6,5 triệu hộ trong tổng số 8,6 triệu hộ sản xuất nông nghiệp, góp phần thay đổi bộ mặt của khu vực nông thôn” – Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh.

    Biến 100 triệu tấn chất thải thành tiền

    Thông qua đổi mới và phát triển các hình thức liên kết, tổ chức sản xuất trong chăn nuôi, đời sống người dân và hạ tầng khu vực nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực. Thu nhập của đại bộ phận dân cư nông thôn không ngừng được cải thiện, nhiều hộ gia đình đã làm giàu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh lĩnh vực chăn nuôi.

    Ngày càng nhiều doanh nghiệp, nhiều thành phần kinh tế đầu tư lớn trong phát triển chăn nuôi, chế biến sản phẩm chăn nuôi theo mô hình chuỗi khép kín từ trang trại đến bàn ăn.

    Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng chỉ ra nhiều vấn đề: Chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ vẫn chiếm đa số, công tác quản trị kém làm giảm năng suất và tăng giá thành sản phẩm chăn nuôi; công tác kiểm soát dịch bệnh, an toàn thực phẩm và môi trường vẫn còn nhiều bất cập nhất là khu vực chăn nuôi nông hộ và giết mổ nhỏ lẻ, nhiều dịch bệnh nguy hiểm chưa được thanh toán, luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát trên diện rộng và làm phát sinh nhiều chi phí đầu vào của sản xuất chăn nuôi;

    Nhiều cơ sở chăn nuôi xử lý chất thải chưa đáp ứng yêu cầu vừa gây ô nhiễm môi trường vừa lãng phí nguồn phân bón hữu cơ chất lượng cho cây trồng; tổ chức sản xuất chăn nuôi theo chuỗi liên kết còn chiếm tỷ trọng thấp; nhiều vật tư chăn nuôi, nhất là nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y vẫn phải nhập khẩu với số lượng lớn làm giảm giá trị gia tăng của sản xuất chăn nuôi trong nước…“100 triệu tấn phế thải từ chăn nuôi, phải ra tiền chứ sao lại để ô nhiễm? Chúng ta hướng đến mục tiêu xuất khẩu, thì trước hết phải tự sửa làm thật tốt vấn đề này”- Bộ trưởng nêu câu hỏi.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang – Theo Lao Động.

  • Đôn đốc chủ đầu tư 33 dự án khu đô thị, khu dân cư nộp thuế đúng quy định

    (BGĐT) – Nhằm tăng thu ngân sách những tháng cuối năm, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Bắc Giang, Cục Thuế tỉnh vừa hoàn thành rà soát việc kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp của tất cả các dự án khu đô thị (KĐT), khu dân cư (KDC) trên địa bàn tỉnh.

    Cán bộ Chi cục Thuế Khu vực Lạng Giang - Lục Nam hướng dẫn chủ đầu tư dự án KĐT kê khai thuế theo quy định.

    Cán bộ Chi cục Thuế Khu vực Lạng Giang – Lục Nam hướng dẫn chủ đầu tư dự án KĐT kê khai thuế theo quy định.

    Kết quả rà soát, toàn tỉnh hiện có 43 dự án KĐT, KDC, trong đó có 35 dự án đã triển khai còn lại 8 dự án chưa triển khai nên không phát sinh thuế.

    Trong số 35 dự án trên có 2 dự án đã kê khai, nộp xong thuế, còn lại 33 dự án đã kê khai, chưa nộp xong và chưa kê khai. Cụ thể có 23 dự án chưa nộp xong; 3 dự án đã kê khai, chưa nộp; 7 dự án chưa kê khai. Đến ngày 31/8, ngành thuế đã thu gần 41 tỷ đồng thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp của chủ đầu tư 25 dự án KĐT, KDC .

    Như vậy, theo tính toán của Cục Thuế tỉnh, toàn tỉnh hiện còn 3 dự án đã kê khai, chưa nộp thuế với số tiền khoảng 4,5 tỷ đồng. 23 dự án đã kê khai, nộp thuế nhưng chưa xong với số tiền còn phải nộp theo hồ sơ khoảng 20 tỷ đồng, tập trung ở các huyện: Lục Nam, Việt Yên, Yên Thế, Hiệp Hòa, Tân Yên, Yên Dũng và TP Bắc Giang.

    Ông Phạm Văn Thịnh, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh cho biết, từ nay đến cuối năm, Cục chỉ đạo các phòng chuyên môn, các chi cục thuế khu vực yêu cầu 100% chủ đầu tư có dự án KĐT, KDC thực hiện nghiêm việc kê khai, nộp thuế theo quy định. 

    Trước mắt, trong tháng 9, Cục sẽ đôn đốc chủ đầu tư các dự án đã kê khai nộp xong số thuế còn nợ. Đồng thời yêu cầu 7 chủ đầu tư dự án chưa kê khai thuế chấp hành nghiêm pháp luật về thuế. Đơn vị nào chậm thực hiện, Cục sẽ xử phạt nghiêm theo quy định.

    Riêng các chủ đầu tư ngoại tỉnh, Cục Thuế tỉnh yêu cầu kê khai và tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp ngay theo quý vào ngân sách nhà nước.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Minh Linh).

  • Bảo vệ môi trường, giúp người dân làm giàu nhờ phát triển rừng

    (BGĐT) – Nhờ làm tốt công tác phát triển và bảo vệ rừng, nhiều hộ dân trong tỉnh Bắc Giang vươn lên làm giàu từ rừng kinh tế. Tỷ lệ che phủ rừng đạt cao, góp phần bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học.

    Cây bao núi đồi, đời sống ấm no

    Đông Hưng là một trong những xã có diện tích rừng trồng lớn của huyện Lục Nam với hơn 2,2 nghìn ha, nhiều người dân thu nhập cao, giàu lên từ rừng. Tại thôn Cai Vàng, những vạt rừng xanh biếc, phủ kín núi đồi. Điều đặc biệt là hầu hết các cánh rừng đều có những con đường lâm nghiệp, nhiều đoạn được đổ bê tông tạo thuận lợi khi chăm sóc, thu hoạch sản phẩm. 

    Cán bộ Hạt Kiểm lâm Lục Nam kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ rừng.

    Cán bộ Hạt Kiểm lâm Lục Nam kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ rừng.

    Gia đình chị Nguyễn Thị Hường ở thôn Cai Vàng có hơn 160 ha rừng. Là người năng động nên từ năm 2002, vợ chồng chị đầu tư vốn để trồng rừng, khai thác gỗ. Các khu rừng cho thu hoạch gối vụ, bình quân gia đình chị thu về hơn 300 triệu đồng/năm.

    Không chỉ ở Đông Hưng, phong trào trồng rừng kinh tế tại huyện Lục Nam phát triển mạnh tại các xã có lợi thế như: Bình Sơn, Trường Sơn, Nghĩa Phương, Vô Tranh… Đến nay, toàn huyện có hơn 13 nghìn ha rừng trồng. Giá trị từ trồng rừng kinh tế và khai thác chế biến lâm sản đạt hàng trăm tỷ đồng/năm.

    Các huyện Sơn Động, Yên Thế,  Lạng Giang cũng chú trọng phát triển kinh tế lâm nghiệp, góp phần hình thành vùng sản xuất gỗ nguyên liệu tập trung toàn tỉnh với 80 nghìn ha. Giai đoạn 2016-2020 cả tỉnh trồng được 41.052 ha rừng, tăng 64,2% so với kế hoạch. Chế biến gỗ phát triển mạnh, một số sản phẩm sau chế biến được xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… Năm nay, giá trị sản xuất lâm nghiệp ước đạt 1.088 tỷ đồng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của toàn ngành.

    Song hành với trồng rừng kinh tế, công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh được cả hệ thống chính trị vào cuộc quyết liệt; ngăn chặn và xử lý kịp thời các vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp. Nhờ vậy tỷ lệ che phủ rừng nâng lên, đạt 38%.

    Phát triển bền vững rừng trồng

    Theo đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, căn cứ chỉ đạo của tỉnh, Sở tham mưu ban hành các văn bản liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng; triển khai thực hiện Nghị quyết số 249 ngày 1/11/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kế hoạch số 12 ngày 31/1/2018 của UBND tỉnh về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.

    Giai đoạn 2016-2020, toàn tỉnh trồng 41.052 ha rừng, tăng 64,2% so với kế hoạch; sản lượng gỗ khai thác đạt hơn 3 triệu m3. Năm nay, giá trị sản xuất lâm nghiệp ước đạt 1.088 tỷ đồng, góp phần tích cực vào tăng trưởng chung toàn ngành.

    Chú trọng tạo bước đột phá về áp dụng khoa học kỹ thuật trong trồng, bảo vệ rừng qua ứng dụng phần mềm, GPS, công nghệ thông tin, thiết bị điện tử, di động và hệ thống thông tin địa lý bản đồ để điều tra, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng. 

    Cơ giới hóa khâu cuốc hố, lựa chọn giống mới có năng suất, chất lượng vào trồng rừng như: Bạch đàn UP99, UP95, UP 54, PNCT3, PN108; keo lai BV10, BV33, BV73… Năng suất bình quân rừng trồng với chu kỳ 5-7 năm đạt từ 17-20m3/ha/năm, cá biệt có nơi đạt 30m3/ha/năm, tăng 30% so với giai đoạn 2011-2015. 

    Ngay như một khoảnh rừng của hộ dân thôn Cai Vàng, xã Đông Hưng trồng bạch đàn giống mới khoảng 6 tháng đã có đường kính, chiều cao bằng cây bạch đàn giống cũ trồng hơn một năm. Anh Hà Anh Úy, cán bộ kiểm lâm địa bàn cho biết: “Giống tốt sinh trưởng, phát triển mạnh đã rút ngắn được chu kỳ khai thác. Như vậy, chỉ sau ba năm, người dân có thể thu hoạch rừng mà năng suất, chất lượng gỗ vẫn bảo đảm”.

    Thực tế cho thấy, phát triển và bảo vệ rừng không đơn thuần mang lại hiệu quả về mặt kinh tế mà còn có lợi ích về môi trường, ý nghĩa xã hội to lớn. Do đó, giai đoạn 2021-2025, ngành nông nghiệp xác định quản lý, bảo vệ tốt rừng tự nhiên hiện có, đặc biệt là diện tích được quy hoạch rừng đặc dụng, phòng hộ; sử dụng hiệu quả diện tích rừng trồng; kết hợp hoạt động bảo vệ, khai thác rừng với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái. Phát triển rừng kinh tế bền vững, tăng cường đầu tư, nâng cao hiệu quả rừng sản xuất theo hướng trồng rừng thâm canh bằng các giống mới, năng suất, chất lượng. Giữ vững tỷ lệ che phủ rừng. 

    Để thực hiện hiệu quả, ông Lê Bá Thành, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT cho rằng, cần nâng cao nhận thức cho người dân về vai trò của bảo vệ tài nguyên rừng trên đất dốc từ đó chung tay bảo vệ rừng. Các cấp, ngành triển khai hiệu quả các nghị quyết, chính sách về trồng và bảo vệ rừng; nhân rộng mô hình trồng rừng gỗ lớn, nâng chất lượng rừng để cấp chứng chỉ rừng bền vững.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Trịnh Lan – Hùng Sơn).

  • Thủ tướng chỉ đạo 3 nhóm nhiệm vụ để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, giải ngân vốn đầu tư công

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa có văn bản chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tiêu dùng và đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công.

    Công văn nêu rõ, từ đầu năm 2020 đến nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp và gặp những khó khăn, thách thức chưa từng có trong nhiều thập kỷ do tác động của đại dịch Covid-19. 

    Tăng trưởng kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng nhất kể từ cuộc Đại khủng hoảng 1929-1933; các quốc gia, đối tác lớn của ta đều bị tác động, ảnh hưởng rất nặng nề.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo 3 nhóm nhiệm vụ để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, giải ngân vốn đầu tư công.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo 3 nhóm nhiệm vụ để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, giải ngân vốn đầu tư công.

    Là nền kinh tế hội nhập sâu rộng và có độ mở lớn, nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng rất lớn của dịch bệnh, nhất là một số lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch do tác động trực tiếp của dịch bệnh và xu hướng thị trường quốc tế, trong nước.

    Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện “mục tiêu kép”: Vừa phòng, chống dịch, vừa phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội; tập trung tháo gỡ vướng mắc, hỗ trợ kịp thời các doanh nghiệp gặp khó khăn, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống cho nhân dân.

    Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước, chúng ta đã đạt được những kết quả bước đầu trong kiểm soát, phòng chống dịch và phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, khó khăn, thách thức còn rất lớn; nhiệm vụ đặt ra từ nay đến cuối năm 2020 và đầu năm 2021 là rất nặng nề.

    Để phấn đấu thực hiện đạt mức cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của năm 2020 và tạo tiền đề thuận lợi cho năm 2021 và thời gian tới, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục quán triệt, tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trên các lĩnh vực theo các nghị quyết, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tập trung thúc đẩy mạnh mẽ sản xuất kinh doanh, tiêu dùng trong nước, xuất khẩu và đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công để góp phần sớm phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới.

    Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tập trung vào một số nội dung trọng tâm sau:

    Thứ nhất, lãnh đạo các địa phương và các bộ, cơ quan Trung ương phải đi sâu, đi sát, bám sát yêu cầu thực tiễn để tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh; theo dõi sát, nắm bắt kịp thời tình hình, xác định rõ những vướng mắc, khó khăn cụ thể đối với từng ngành, lĩnh vực, từng doanh nghiệp và trên từng địa bàn để có biện pháp, đối sách cụ thể sớm khắc phục, đồng thời tạo thuận lợi, tiết giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp.

    Tiếp tục rà soát kỹ các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật để kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo hướng thuộc thẩm quyền của cấp nào thì cấp đó sửa đổi ngay; trường hợp vượt thẩm quyền kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để thống nhất giải quyết. Kiên quyết không để tình trạng còn rào cản, còn cơ chế, chính sách, quy định bất cập, không phù hợp với tình hình thực tiễn đối với đầu tư, sản xuất kinh doanh và các hoạt động kinh tế – xã hội.

    Theo dõi sát tình hình thực tiễn để có giải pháp cụ thể tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp FDI và hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể.

    Chú trọng đẩy mạnh triển khai các dự án đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, trong đó lưu ý rà soát, tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng, đất đai, tín dụng, thủ tục hành chính, nguồn nhân lực và những vấn đề liên quan. Kiên quyết xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm, làm chậm, gây phiền hà, nhũng nhiễu cho người dân, doanh nghiệp.

    Các đồng chí Bộ trưởng, Trưởng ngành, Chủ tịch UBND cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo khẩn trương tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bức xúc của người dân, doanh nghiệp thuộc lĩnh vực phụ trách và trên địa bàn; trong đó, lưu ý rà soát kỹ, có giải pháp phù hợp, thúc đẩy mạnh mẽ, tạo thuận lợi cho tất cả các khâu trong quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh, từ nguyên vật liệu, các yếu tố đầu vào, đến sản xuất, chế biến và trung gian phân phối, thị trường, tiêu thụ sản phẩm…

    Thứ hai, thúc đẩy mạnh mẽ tiêu dùng, trong đó đặc biệt chú trọng thị trường trong nước gần 100 triệu dân và có biện pháp phù hợp, hiệu quả để duy trì, phát triển các thị trường xuất khẩu, góp phần tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

    Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện các chương trình, giải pháp kích cầu tiêu dùng, phát triển mạnh thị trường trong nước dưới hình thức phù hợp như khuyến mại, giảm giá bán, tín dụng tiêu dùng, các biện pháp khác hỗ trợ người tiêu dùng trên toàn quốc.

    Các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh thương mại, tiểu thương… tổ chức tốt việc đưa hàng hóa, dịch vụ đến các khu dân cư, khu công nghiệp, các địa bàn nông thôn, miền núi…, tạo thuận lợi và đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trên cả nước.

    Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển mạnh thương mại điện tử và các mô hình kinh doanh mới phù hợp với đặc điểm tình hình và yêu cầu phát triển của từng ngành, lĩnh vực, địa bàn. Trong đó, chỉ đạo điều hành cần đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ và có chương trình, biện pháp cụ thể để kích cầu tiêu dùng, phát triển thị trường trong nước hiệu quả, bền vững. Đẩy mạnh các hình thức, phương thức kinh doanh khuyến khích tiêu dùng như kinh tế ban đêm, các hội chợ, triển lãm sản phẩm hàng hóa, dịch vụ…

    Tiếp tục rà soát, hoàn thiện và thực hiện đồng bộ, hiệu quả hơn các chính sách xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu; xây dựng, triển khai hiệu quả các chương trình cụ thể phát triển thương hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao; có biện pháp thông tin truyền thông mạnh mẽ và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tận dụng hiệu quả các cơ hội của các hiệp định thương mại tự do, trong đó có Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA.

    Triển khai hiệu quả các biện pháp phù hợp để duy trì và mở rộng, không để giảm thị phần, mất thị trường xuất khẩu, nhất là đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Đồng thời, đẩy mạnh phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, góp phần bảo vệ phù hợp sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước.

    Các bộ, ngành chức năng và các tỉnh, thành phố tập trung rà soát, có các cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp về huy động vốn, tín dụng, tài chính – ngân sách nhà nước, thuế, phí, lệ phí, thủ tục hành chính về xuất nhập khẩu, thuế, hải quan… gắn với các chương trình kích cầu tiêu dùng trong nước và thúc đẩy xuất khẩu để tạo thuận lợi, hỗ trợ hiệu quả các doanh nghiệp thực hiện các chương trình này.

    Thứ ba, quyết liệt tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy mạnh mẽ giải ngân vốn đầu tư công, nhất là nguồn vốn ODA, tạo động lực góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động theo tinh thần các nghị quyết, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    Từng bộ, ngành, địa phương tập trung rà soát kỹ danh mục các dự án đầu tư công, nắm bắt tình hình triển khai từng dự án để có biện pháp cụ thể đẩy nhanh tiến độ thực hiện hoặc điều chuyển vốn sang các công trình, dự án khác có khả năng giải ngân tốt, sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là phấn đấu giải ngân hết số vốn kế hoạch năm 2019 và những năm trước chuyển sang; tập trung tháo gỡ khó khăn, giải ngân tối đa nguồn vốn ODA được giao theo kế hoạch.

    Thực hiện nghiêm việc đánh giá cán bộ, công chức, cơ quan, đơn vị liên quan trong triển khai thực hiện nhiệm vụ; xử lý nghiêm minh các trường hợp cố tình làm chậm, gây khó khăn, nhũng nhiễu, vi phạm quy định, lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí về đầu tư công.

    Yêu cầu các bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và Văn phòng Chính phủ khẩn trương tổng hợp tình hình triển khai thực hiện, những khó khăn, vướng mắc và đề xuất kiến nghị cụ thể để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, đặc biệt là đối với các dự án ODA và các dự án quan trọng, cấp bách để đưa ra thảo luận tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc của Thủ tướng Chính phủ với các địa phương tổ chức vào cuối tháng 9 năm 2020.

    Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật và thực hiện hiệu quả các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo mọi thuận lợi để thu hút hiệu quả các nguồn vốn đầu tư xã hội, trong đó có khu vực kinh tế tư nhân và khu vực FDI phục vụ cho các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

    Trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19, các đồng chí Bộ trưởng, Trưởng ngành, Chủ tịch UBND cấp tỉnh chú trọng chỉ đạo thực hiện hiệu quả hơn nữa các chính sách hỗ trợ người lao động, tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống người dân và các nhiệm vụ phát triển văn hóa, xã hội, giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và tăng cường công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; đồng thời chuẩn bị phục vụ, tổ chức tốt Đại hội các đảng bộ trực thuộc Trung ương và thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

    Thủ tướng Chính phủ mong muốn và tin tưởng rằng, các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, tập trung quán triệt, động viên đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn thể hệ thống hành chính nhà nước tận tụy, nhiệt tâm, trách nhiệm với công việc; tập trung giải quyết, xử lý kịp thời, hiệu quả những vướng mắc, tạo thuận lợi và luôn đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức rất lớn hiện nay; kịp thời báo cáo và đề xuất, kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về những vấn đề mới phát sinh để thống nhất biện pháp xử lý.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang – Theo TTXVN.

  • Hệ thống tưới tiên tiến cho cây trồng: Giảm công chăm sóc, tiết kiệm nước

    (BGĐT) – Tiết kiệm nước, giảm công lao động và tăng hiệu quả kinh tế là những ưu điểm chính khi sử dụng hệ thống tưới tiên tiến (nhỏ giọt, phun sương) trên cây trồng cạn. Nhận rõ lợi thế đó, ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Giang tiếp tục tham mưu các giải pháp nhân rộng mô hình này trong thời gian tới. 

    Thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015-2020, Bắc Giang có nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ ứng dụng hệ thống tưới tiên tiến trên cây trồng cạn. Hàng loạt chương trình được triển khai như: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng… đã đưa diện tích tưới tiên tiến không ngừng tăng. 

    Nhà màng trồng dưa lưới của hộ dân thôn Ngọ Khổng, xã Châu Minh  (Hiệp Hòa) được lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt.

    Nhà màng trồng dưa lưới của hộ dân thôn Ngọ Khổng, xã Châu Minh (Hiệp Hòa) được lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt.

    Năm 2015, toàn tỉnh mới có hơn một ha tưới nhỏ giọt, phun sương thì đến nay con số này lên khoảng 5 nghìn ha. Trong đó, cây ăn quả hơn 4 nghìn ha còn lại là cây hàng năm, hoa, rau màu, cây dược liệu, cây lâu năm.

    Lục Ngạn là địa phương có diện tích tưới tiên tiến lớn nhất tỉnh với gần 3 nghìn ha cho cây có múi, thanh long, tập trung ở các xã Tân Quang, Hồng Giang, Tân Mộc. Đạt được kết quả này là do từ năm 2015, huyện Lục Ngạn chỉ đạo đơn vị chuyên môn phối hợp với cơ quan chuyên môn của Sở Nông nghiệp và PTNT xây dựng mô hình đầu tiên tưới nhỏ giọt cho 1,5 ha cam ngọt tại thôn Hiệp Tân, xã Hồng Giang. 

    Tiếp đến năm 2018, UBND huyện trích hơn 270 triệu đồng từ nguồn ngân sách triển khai tưới tiên tiến cho 15 ha cam tại xã Tân Mộc. Kết quả nghiệm thu các mô hình đều cho thấy nhiều lợi ích. Từ đó, dù không có hỗ trợ người dân vẫn tự dành kinh phí mở rộng cách làm mới. Ví như, năm 2018, hộ ông Vũ Công Hiến, thôn Đồng Quýt, xã Tân Mộc áp dụng tưới tiên tiến cho hơn một ha cam ngọt. Do trồng cam ở đồi cao nên tưới bằng phương pháp thông thường mất nhiều thời gian, công sức và tiêu tốn lượng nước lớn. 

    Ông Hiến nói: “Trước đây một ha cam, gia đình tôi phải bơm máy tưới mất 2-3 ngày mới xong, thậm chí còn nhiều ngày hơn nếu thời điểm cam cho quả, chuẩn bị thu hoạch trùng vào giai đoạn thời tiết khô hanh. Thế nhưng, khi tưới nhỏ giọt, gia đình tôi chỉ cần một ngày là hoàn tất việc cung cấp nước cho cam, nước ngấm lâu trong đất, độ ẩm duy trì dài”.

    Đến nay, toàn tỉnh có khoảng khoảng 5 nghìn ha cây trồng cạn được tưới bằng phương pháp tiên tiến. Trong đó, cây ăn quả hơn 4 nghìn ha còn lại là cây hàng năm, cây lâu năm, cây dược liệu, hoa và rau màu.

    Ngoài cây ăn quả, tưới nhỏ giọt, phun sương còn áp dụng khá phổ biến trên rau, màu, dược liệu. Hộ chị Đặng Thị Kim Loan, thôn Giữa Chính, xã Đoan Bái (Hiệp Hòa) trồng hơn 2 nghìn m2 dưa lưới trong nhà màng. Mỗi cây trồng trên giá thể hữu cơ đều có ống dẫn cấp nước nhỏ giọt. Khi cây cần nước, chị Loan chỉ việc bật công tắc là nước đến tận gốc. Lượng nước cung cấp được cài đặt sẵn nên không có tình trạng thừa, thiếu nước. Với hơn 6 nghìn quả dưa lưới, giá bán bình quân 45-54 nghìn đồng/kg, chị Loan có tổng thu hơn 200 triệu đồng/vụ.

    Đánh giá của ngành nông nghiệp tỉnh, tưới tiên tiến góp phần tăng năng suất nông sản, giảm chi phí công lao động, tăng thu nhập từ 20-30% so với tưới thông thường. Bên cạnh đó, hệ thống này còn tận dụng trong bón phân, phun thuốc trừ sâu, bệnh, giúp người sản xuất chủ động trong quản lý dinh dưỡng mà không phụ thuộc vào thời tiết. Tưới tiết kiệm còn không gây xói mòn, rửa trôi đất và chất dinh dưỡng như tưới nước mặt; điều chỉnh lượng nước phù hợp với nhu cầu trong các giai đoạn sinh trưởng của cây trồng, giảm từ 50%-70% lượng nước tiêu thụ so với phương pháp tưới truyền thống; phù hợp với mọi điều kiện địa hình khác nhau. 

    Ống tưới nhỏ giọt đến từng gốc dưa lưới trồng trong giá thể.

    Ống tưới nhỏ giọt đến từng gốc dưa lưới trồng trong giá thể.

    Ông Nguyễn Văn Dĩnh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT cho biết, việc áp dụng biện pháp tưới tiết kiệm nước là một trong những giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu khi hạn hán và xâm nhập mặn đang có xu hướng gia tăng như hiện nay. Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu công nghệ tưới mới còn cao nên một số hộ chưa mạnh dạn áp dụng.

    Để nhân rộng công nghệ tưới tiết kiệm trên cây trồng cạn, tăng hiệu quả kinh tế, thích ứng với biến đổi khí hậu, giai đoạn 2021-2025, Sở Nông nghiệp và PTNT đang tham mưu các giải pháp thực hiện. Theo đó, đề xuất bổ sung chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về tưới tiên tiến cho đội ngũ cán bộ quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp của các địa phương, ưu tiên cấp huyện, xã và tổ chức dùng nước, chủ trang trại và nông dân trên địa bàn. 

    Tiếp tục hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi để tạo nguồn nước tưới; đầu tư xây dựng đồng bộ các hình thức tưới tiên tiến, tiết kiệm nước trên diện rộng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng các loại cây trồng chủ lực, cây có giá trị kinh tế cao như: Rau màu, cây ăn quả (cam, bưởi, vải thiều, nho… ), hoa, cây cảnh.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Trường Sơn).

  • Bắc Giang nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư

    (BGĐT) – Giai đoạn 2015-2020, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) bình quân hằng năm của tỉnh Bắc Giang đạt 14%/năm, thuộc nhóm các tỉnh có tốc độ tăng cao nhất cả nước.  Kết quả nổi bật này có đóng góp không nhỏ của Sở Kế hoạch và Đầu tư với những nỗ lực trong tham mưu cho tỉnh tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, hấp dẫn. 

    Cắt giảm thời gian, rút ngắn quy trình

    Xác định cải cách thủ tục hành chính (TTHC) là yếu tố quan trọng góp phần cải thiện môi trường đầu tư, hằng năm, Sở Kế hoạch và Đầu tư phát động phong trào thi đua “Doanh nghiệp (DN) Bắc Giang hội nhập và phát triển” trong cán bộ, công chức, người lao động. Đơn vị xây dựng kế hoạch cụ thể, phân công nhiệm vụ cho từng bộ phận với phương châm “rõ người, rõ việc”. Chú trọng rút ngắn thời gian, quy trình giải quyết TTHC, tạo thuận lợi cho tổ chức, công dân.

    Người dân nhận kết quả giải quyết TTHC theo nguyên tắc “5 tại chỗ” tại bộ phận một cửa Sở Kế hoạch và Đầu tư.

    Bà Đoàn Thị Thanh Hương, Chánh Văn phòng Sở cho biết: “Trước hết, chúng tôi quán triệt tư tưởng, nhận thức để tạo sự chuyển biến trong đội ngũ cán bộ, công chức về trách nhiệm, tác phong trong thực hiện công vụ, hướng tới xây dựng nền hành chính phục vụ”. Hiện 59/84 TTHC của Sở thực hiện theo nguyên tắc “5 tại chỗ” (tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt, đóng dấu, trả kết quả) tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh, chủ yếu là lĩnh vực đăng ký kinh doanh. Đặc biệt, hồ sơ tổ chức, công dân nộp qua mạng đều được miễn phí, lệ phí thực hiện.

    Nhận thấy thủ tục chấp thuận đầu tư liên quan đến nhiều ngành, quy trình rườm rà khiến nhiều DN e ngại, cuối năm 2019, Sở đã tham mưu UBND tỉnh xây dựng “Sổ tay hướng dẫn quy trình đầu tư”. Với vai trò chủ trì, cán bộ chuyên môn của Sở đã tổng hợp quy trình để thực hiện các dự án đầu tư liên quan đến nhiều sở, ngành như: Kế hoạch và Đầu tư; Xây dựng; Tài nguyên và Môi trường; Lao động – Thương binh và Xã hội; Công an tỉnh… 

    Ngoài tổng hợp các TTHC, sổ tay còn sơ đồ hóa trình tự thực hiện. Nhờ vậy, nhà đầu tư có cái nhìn tổng thể từ khâu: Đăng ký thành lập DN; chủ trương đầu tư; cấp phép xây dựng; giải phóng mặt bằng; chứng nhận phòng cháy chữa cháy, giấy phép lao động. Hiện đơn vị đã phát hơn 300 cuốn cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu và đăng tải trên cổng thông tin điện tử của đơn vị. Đây là một trong những sáng kiến được Hội đồng CCHC tỉnh đánh giá cao trong năm 2019.

    Hằng năm, các phòng chuyên môn thường xuyên rà soát, đơn giản về thành phần hồ sơ, trình tự giải quyết một số TTHC. Từ năm 2016 đến nay, Sở đã cắt giảm gần 30% thời gian giải quyết đối với TTHC có thời hạn từ 15 ngày trở lên. Số TTHC đưa ra tiếp nhận và giải quyết tại bộ phận một cửa đạt 100%, vượt kế hoạch đề ra.

    Nâng chất lượng phục vụ

    Để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, DN trong giải quyết TTHC, hiện Sở đang cung cấp 76 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4. Qua thống kê, hiện 80% hồ sơ lĩnh vực thành lập và hoạt động của DN, hợp tác xã đều được nộp trực tuyến qua mạng.

    Từ năm 2016 đến nay, Sở đã cắt giảm gần 30% thời gian giải quyết đối với TTHC có thời hạn từ 15 ngày trở lên. Số TTHC đưa ra tiếp nhận và giải quyết tại bộ phận một cửa đạt 100%, vượt kế hoạch đề ra.

    Chị Nguyễn Minh Anh (TP Bắc Giang) trước đây đã hoàn thiện thủ tục thành lập công ty chuyên kinh doanh đồ gia dụng. Nay, chị mở thêm ngành nghề, cần phải bổ sung thông tin để hoàn thiện TTHC. Chị Minh Anh nói: “Việc hoàn thiện các loại giấy tờ được thực hiện nhanh gọn, kịp thời. Cán bộ, nhân viên ở đây nhiệt tình hướng dẫn”.

    Với mục tiêu tạo thuận lợi cho tổ chức, công dân trong giải quyết TTHC, đoàn viên thanh niên của Sở triển khai “Ngày thứ bảy tình nguyện”; Phòng Đăng ký kinh doanh thực hiện mô hình “Cơ quan đăng ký kinh doanh thân thiện”… Mới đây, Sở nghiên cứu cải tiến quy trình “Thẩm định hồ sơ đề nghị quyết định chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư các dự án đầu tư bên ngoài các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo quy định của Luật Đầu tư”, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh và áp dụng từ đầu tháng 9/2020. 

    Thực tế cho thấy, thời gian đầu tư là “cơ hội vàng” để DN phát triển, trong khi trước đây, quy trình xem xét, cho ý kiến thẩm định liên quan đến nhiều ngành, mất nhiều thời gian. Với sáng kiến thành lập Hội đồng thẩm định đối với từng dự án giúp việc cho ý kiến được thực hiên trực tiếp, là cơ sở để Chủ tịch UBND tỉnh kết luận.

    Để cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư của tỉnh, theo Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Cường, nhiệm vụ quan trọng được đơn vị tập trung trong thời gian tới là cải cách TTHC, nhất là lĩnh vực đăng ký kinh doanh trên cơ sở thực hiện tốt mô hình “2 con dấu”, “5 tại chỗ” tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh. Tham mưu UBND tỉnh rút ngắn thời gian thẩm định dự án đầu tư cho DN, đơn giản thành phần hồ sơ; cải thiện chỉ số PCI; hoàn thiện bộ đánh giá DDCI cho các sở, UBND cấp huyện. Nêu cao vai trò người đứng đầu; siết chặt kỷ cương, tác phong làm việc của cán bộ, công chức, nâng cao chất lượng phục vụ.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Khôi Nguyên).

  • Tăng tốc thu ngân sách những tháng cuối năm

    (BGĐT) – So với năm trước, năm nay, hoạt động thu ngân sách của tỉnh Bắc Giang gặp nhiều khó khăn bởi doanh nghiệp (DN), hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng do dịch Covid-19. Quyết tâm hoàn thành dự toán cả năm, chính quyền các cấp và ngành Thuế đang thực hiện quyết liệt các biện pháp thu ngân sách.

    Xác định rõ các khoản thu giảm

    Công ty cổ phần Tổng Công ty May Lạng Giang LGG là một trong những doanh nghiệp nộp thuế cao được biểu dương, khen thưởng năm 2019.

    Công ty cổ phần Tổng Công ty May Lạng Giang LGG là một trong những doanh nghiệp nộp thuế cao được biểu dương, khen thưởng năm 2019.

    Theo Cục Thuế tỉnh, 8 tháng qua, thu ngân sách nội địa toàn tỉnh đạt 5.490 tỷ đồng, bằng gần 62% dự toán năm, giảm gần 22% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 16 khoản thu, toàn tỉnh chỉ có 3 khoản vượt kế hoạch năm, đó là: Thu từ DN nhà nước địa phương, thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế, thu khác ngân sách. 7 khoản thu đạt thấp hơn so với cùng kỳ, trong đó một số khoản chỉ đạt 53,8% đến hơn 68% so với dự toán năm như: Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), thu xổ số kiến thiết.

    Thời điểm này, toàn tỉnh có duy nhất huyện Lục Ngạn hoàn thành dự toán với tổng số thu hơn 200 tỷ đồng, vượt gần 14% so với kế hoạch giao. Hầu hết các địa phương còn lại thu ngân sách chỉ đạt 35-67% dự toán. Huyện Yên Dũng thu được hơn 207/591 tỷ đồng; TP Bắc Giang thu gần 990/2.260 tỷ đồng. Các huyện Lạng Giang, Lục Nam thu ngân sách đạt hơn 51% dự toán năm.

    Ông Lương Văn Bình, Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực Lạng Giang – Lục Nam cho rằng, sở dĩ số thu ngân sách những tháng qua đạt thấp là do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Nhiều DN hoạt động cầm chừng, doanh thu giảm kéo theo số thuế nộp đạt thấp. Đó là chưa kể có DN gặp khó khăn, để xảy ra nợ đọng thuế.

    Tại các huyện Việt Yên, Yên Dũng và TP Bắc Giang…, hàng loạt DN, nhất là DN có vốn đầu tư nước ngoài gặp khó khăn trong việc nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, có thời điểm không xuất khẩu được để tồn kho, chậm nộp thuế. Theo rà soát của Cục Thuế tỉnh, thời gian qua, trong tỉnh có nhiều DN bị ảnh hưởng nặng nề do dịch Covid-19 được gia hạn thời gian nộp thuế, tiền thuê đất từ 3-6 tháng, có khoản được gia hạn đến ngày 31/12/2020 theo quy định tại Nghị định số 41 ngày 8/4/2020 của Chính phủ; tổng số tiền gia hạn gần 280 tỷ đồng. Việc gia hạn nhằm tạo điều kiện cho các DN khôi phục sản xuất, kinh doanh song khiến số thu ngân sách bị hụt so với dự toán.

    Nguyên nhân nữa là những tháng đầu năm nay, hầu hết các huyện, TP giảm số cuộc đấu giá quyền sử dụng đất ở do giãn cách xã hội và thị trường trầm lắng tại một số vị trí đấu giá nên số thu tiền sử dụng đất đạt thấp. Lý giải về khoản thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đạt thấp, đại diện lãnh đạo Cục Thuế tỉnh cho rằng những tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh dừng cấp giấy phép hạ độ cao cốt nền vận chuyển đất san lấp để tăng cường công tác quản lý, đồng thời rà soát các mỏ khoáng sản đưa vào quy hoạch để tổ chức đấu giá vào tháng 8 và tháng 10 nên nguồn thu này sẽ tập trung vào cuối năm.

    Khai thác triệt để các nguồn thu

    Cán bộ Chi cục Thuế khu vực Lạng Giang - Lục Nam rà soát hồ sơ kê khai thuế của các doanh nghiệp.

    Cán bộ Chi cục Thuế khu vực Lạng Giang – Lục Nam rà soát hồ sơ kê khai thuế của các doanh nghiệp.

    Mới đây, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 10 về việc thực hiện các giải pháp nhằm bảo đảm cân đối ngân sách địa phương năm 2020. Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các ngành chức năng, UBND các huyện, TP thực hiện ngay các biện pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho DN sản xuất, kinh doanh; đôn đốc DN nộp sớm hoặc đúng hạn các khoản thuế được gia hạn. 

    Tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án khu đô thị, khu dân cư để đấu giá quyền sử dụng đất, tăng thu ngân sách. Cục Thuế tỉnh, Chi cục Hải quan quản lý các khu công nghiệp tỉnh thực hiện hiệu quả các biện pháp bù đắp giảm thu do ảnh hưởng bởi dịch. Sở Tài nguyên và Môi trường tăng cường giám sát chặt chẽ sản lượng khai thác khoáng sản theo từng điểm mỏ hằng quý để chuyển cho cơ quan thuế quản lý thu…

    Theo Cục Thuế tỉnh, năm nay tỉnh giao dự toán thu ngân sách nội địa hơn 8.864 tỷ đồng. Để hoàn thành kế hoạch này, từ nay đến hết năm ngành thuế cần thu thêm hơn 3.374 tỷ đồng.

    Ông Phạm Văn Thịnh, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh cho biết, năm nay, tỉnh giao dự toán thu ngân sách nội địa hơn 8.864 tỷ đồng. Để hoàn thành kế hoạch này, từ nay đến hết năm, toàn tỉnh cần thu thêm hơn 3.374 tỷ đồng. 

    Số thu này tương đối lớn trong khi dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp. Xác định rõ khó khăn đặt ra, đơn vị đã phân tích, đánh giá các khoản thu; xây dựng kế hoạch, giao số thu cụ thể cho các phòng chuyên môn và các chi cục thuế khu vực, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm để xét thi đua cuối năm của các đơn vị; đôn đốc, thu hồi nợ thuế để bù vào khoản hụt thu.

    Nhiều giải pháp được ngành thuế thực hiện, đó là phân công cán bộ làm việc trực tiếp với tổ chức, cá nhân nợ thuế. Trong đó, Cục trưởng Cục thuế sẽ làm việc với đơn vị nợ thuế từ 3 tỷ đồng trở lên để đôn đốc thu nợ; Phó Cục trưởng làm việc với các đơn vị nợ từ 1 đến dưới 3 tỷ đồng, còn lại là giao cho các phòng chức năng. Ban hành thông báo số nợ, đôn đốc bằng điện thoại, văn bản tới hàng nghìn lượt DN nợ thuế, cưỡng chế bằng cách trích tài khoản tại ngân hàng và thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng; kịp thời xử lý các trường hợp kê khai không đúng, gian lận thuế, trốn thuế. 

    Đối với một số đơn vị nợ thuế chậm nộp sau khi đôn đốc nhiều lần mà vẫn “chây ì”, Cục Thuế công khai danh sách trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bằng các giải pháp này, từ đầu năm đến nay toàn tỉnh thu nợ đọng thuế hơn 550 tỷ đồng, trong đó có 150 tỷ đồng nợ thuế của năm ngoái, còn lại là nợ phát sinh năm nay…

    Cùng với các giải pháp trên, Cục Thuế tỉnh yêu cầu các đơn vị thường xuyên giám sát chặt chẽ các khoản thu hiện tại để đôn đốc người nộp thuế, nhất là những khoản thu không bị ảnh hưởng do dịch bệnh. Khai thác triệt để các nguồn thu thuế vãng lai trong hoạt động xây dựng, lắp đặt thiết bị, chuyển nhượng bất động sản, thuế phát sinh từ hoạt động kinh doanh vận tải, cho thuê nhà xưởng ở các khu, cụm công nghiệp…

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Minh Linh).

  • Bắc Giang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

    Những năm qua, tỉnh Bắc Giang luôn quan tâm đến cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. Việc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh được xác định là nhiệm vụ quan trọng của Bắc Giang trong những năm tiếp theo.

    Link: https://vnews.gov.vn/video/bac-giang-no-luc-cai-thien-moi-truong-dau-tu-kinh-doanh-190594.htm

     

    Nguồn: Truyền hình Thông tấn.

  • Bắc Giang: Tháng 8, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,98%

    Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Bắc Giang, chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2020 giảm 0,19% so với tháng trước và tăng 4,98% so với bình quân cùng kỳ.

    May mặc, mũ nón, giày dép là một trong những nhóm hàng hóa có chỉ số ổn định. Ảnh minh họa: BGP/Bình Minh

    Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 02 nhóm có chỉ số tăng so với tháng trước: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,71%; Hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,2%.

    Có 05 nhóm có chỉ số giảm gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,46%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,43%; bưu chính viễn thông giảm 0,21%; giao thông giảm 0,49%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,83%. Các nhóm ổn định: May mặc, mũ nón, giày dép; Đồ uống và thuốc lá; Thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục.

    Dự báo trong tháng tới, một số mặt hàng xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), giá vàng và tỷ giá đô la Mỹ sẽ tiếp tục có những biến động theo tác động của thị trường thế giới. Mặt hàng thịt lợn và các mặt hàng thiết yếu giữ ổn định.

    Dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, do đó ảnh hưởng đến tình hình thị trường và các nhóm giao thông, dịch vụ… Cùng đó, chuẩn bị giao mùa, các mặt hàng đồ uống, thiết bị, đồ dùng điện lạnh giảm theo nhu cầu tiêu dùng.

    Để bình ổn thị trường, tỉnh Bắc Giang tiếp tục theo dõi sát diễn biến tình hình thị trường, giá cả, kịp thời đề xuất với Bộ Công Thương các giải pháp bình ổn giá cả thị trường. Phối hợp với các ngành chức năng, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng; kịp thời phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm. Phối hợp với các sở, ban, ngành của tỉnh tiếp tục tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh./.

     

    Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang (Bình Minh).

  • Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái: Các địa phương đẩy mạnh các giải pháp, tăng thu ngân sách

    Ngày 31/8, Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái chủ trì Hội nghị giao ban với Chủ tịch UBND các huyện, thành phố về kết quả thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm tháng 8/2020. Cùng dự có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương và Giám đốc các sở, thủ trưởng cơ quan, đơn vị liên quan.

    Quang cảnh hội nghị. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Trong tháng 8/2020, UBND các huyện, thành phố tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc “nhiệm vụ kép” theo chỉ đạo của Chính phủ và Chủ tịch UBND tỉnh vừa thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch Covid-19, vừa đẩy mạnh các hoạt động phát triển KT-XH; nắm bắt tình hình tại cơ sở giữ ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đẩy nhanh tiến độ thu ngân sách, thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (GPMB) và thi công các dự án trọng điểm của thành phố, giải quyết đơn thư, ý kiến cử tri. Qua đó, góp phần ổn định KT- XH và giữ vững an ninh chính trị trên địa bàn tỉnh.

    Cụ thể, tháng 8, tổng thu ngân sách nội địa trên địa bàn tỉnh ước đạt 655 tỷ đồng, bằng 62,2% so với cùng kỳ năm trước. Có 9/16 khoản thu tăng so với cùng kỳ, một số khoản thu từ sản xuất kinh doanh có mức tăng cao, góp phần tăng tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh (trừ tiền sử dụng đất) đạt mức tăng 12,8%. Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh tiếp tục phục hồi, phát triển, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8 tăng 18,7% so với tháng 7/2020. Lĩnh vực văn hóa – xã hội được duy trì thực hiện tốt; chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công được thực hiện kịp thời, đầy đủ; đời sống nhân dân tiếp tục ổn định.

    Phân tích về các tồn tại, hạn chế, đại diện lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị, địa phương trong tỉnh cho biết, trong tháng, do phải tập trung cao cho công tác Đại hội Đảng bộ; mặt khác, nhiều hộ gia đình vẫn không nhất trí với phương án bồi thường, GPMB nên tiến độ bồi thường, GPMB của các huyện, thành phố còn chậm. Đối với diện tích đã GPMB xong, UBND các huyện, thành phố đang cùng chủ đầu tư hoàn thiện hồ sơ theo quy định. 

    Bên cạnh đó, dự án lắp đặt trạm cân, camera để lưu trữ, kết nối, truyền dẫn thông tin đối với các mỏ khai thác khoáng sản triển khai còn chậm do hầu hết các doanh nghiệp không muốn kết nối, truyền dẫn thông tin nhằm tránh sự kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền; kinh phí để thực hiện việc đầu tư lắp đặt trạm cân, camera, các hạng mục kỹ thuật đi kèm và kinh phí mua phần mềm kết nối lớn, trong khi đó pháp luật không quy định bắt buộc phải thực hiện.

    Về công tác xử lý rác thải trên địa bàn, các huyện chưa tiến hành cải tạo, đầu tư, xây dựng hệ thống xử lý nước thải, khí thải tại khu xử lý không bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường. Lượng rác thải thu gom chưa được xử lý tại các điểm tập kết, khu xử lý tại các địa phương trên địa bàn tỉnh còn lớn.

    Qua trao đổi, thảo luận tại hội nghị, lãnh đạo UBND các huyện, thành phố kiến nghị tỉnh tháo gỡ một số khó khăn. Đồng thời báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh về triển khai các nhiệm vụ trong thời gian tới.

    Chủ tịch UBND thành phố Bắc Giang Vũ Trí Hải cho biết, trong tháng tới, UBND thành phố sẽ triển khai các nhiệm vụ trọng tâm về đầu tư quy hoạch nhà máy rác; triển khai thủ tục đấu giá trụ sở UBND thành phố cũ; tập trung thực hiện kết luận thanh tra Chính phủ về dự án BT cầu Đồng Sơn, công viên Hoàng Hoa Thám; tập trung vào giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo; đẩy nhanh tiến độ dự án đường Minh Khai kéo dài…

    Huyện Việt Yên sẽ tiếp tục tập trung cao đẩy nhanh tiến độ các dự án về hạ tầng khu, cụm công nghiệp, giao thông… Đồng thời rà soát, thống kê các vụ việc phức tạp, có đơn thư khiếu nại tố cáo để xin ý kiến cấp trên, tham khảo ý kiến đóng góp của các sở, ngành và đưa ra biện pháp giải quyết. 

    Huyện Sơn Động tập trung giải quyết vướng mắc tại một số dự án khai thác cát sỏi, vật liệu xây dựng, tranh chấp đất lâm nghiệp và thực hiện dự án Khu du lịch tâm linh, sinh thái Tây Yên Tử.

    Bên cạnh đó, các địa phương khác trong tỉnh theo sự chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tiếp tục đề ra các giải pháp nhằm làm tốt công tác thu ngân sách; tập trung chỉ đạo công tác quy hoạch, giải quyết dứt điểm việc GPMB các dự án; đầu tư nhà máy rác, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo…; tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 17-CT/TU ngày 27/02/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về huy động toàn dân thu gom, xử lý rác thải.

    Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái kết luận hội nghị. Ảnh: BGP/Nguyễn Miền

    Phát biểu kết luận hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của các huyện, thành phố và các sở, ngành trong thực hiện nhiệm vụ được giao, tiêu biểu như các Sở: Giao thông vận tải, Y tế; các huyện: Lục Ngạn, Lục Nam, Việt Yên… Tuy nhiên, vẫn còn một số địa phương triển khai các nhiệm vụ bị chậm, muộn hoặc không đạt theo đúng tiến độ được giao. Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Văn phòng UBND tỉnh cần theo dõi sát sao và tích cực đôn đốc các sở, ngành, đơn vị, địa phương khẩn trương triển khai các nhiệm vụ theo đúng tiến độ, yêu cầu đề ra.  

    Hiện nay, các địa phương trong tỉnh cơ bản tổ chức xong Đại hội Đảng bộ; bộ máy các địa phương cũng đã dần được kiện toàn từ cấp xã đến cấp huyện. Do đó, lãnh đạo UBND các huyện, thành phố cần lựa chọn, xác định nhiệm vụ trọng tâm, cụ thể, sát với tình hình thực tế của từng địa phương để tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Trong quá trình triển khai, các địa phương phải thường xuyên báo cáo kết quả, những khó khăn, vướng mắc phát sinh và đề xuất giải pháp để tháo gỡ. 

    Tiếp tục thực hiện “mục tiêu kép” vừa đề cao công tác phòng, chống dịch bệnh, vừa đẩy mạnh phát triển KT-XH. Tăng cường thu ngân sách, đối với các khoản thu khó cần báo cáo kịp thời và tham mưu, đề xuất UBND tỉnh các biện pháp triển khai thực hiện. Các ngành cùng vào cuộc với ngành Thuế để triển khai thu ngân sách đạt hiệu quả cao.

    Bên cạnh đó, chú trọng đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác GPMB các dự án trọng điểm và cải cách thủ tục hành chính, công tác đấu giá các mỏ khoáng sản…, trong đó tiếp tục đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, các cơ quan, đơn vị, địa phương. Các sở, ngành, đơn vị, địa phương tiếp tục triển khai nghiêm túc các nội dung tại Thông báo kết luận phiên họp thường kỳ UBND tỉnh tháng 8/2020 và bám sát các văn bản chỉ đạo của Thường trực UBND tỉnh.

    Thực hiện nghiêm quy định về việc tiếp dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo. Trong tháng 9/2020, các địa phương phải giải quyết triệt để các đơn thư, khiếu nại tố cáo tồn đọng, kéo dài.

    Cùng với đó, đẩy mạnh công tác bảo đảm an toàn giao thông, an ninh trật tự trong các khu dân cư, nhất là các khu, cụm công nghiệp.

    Các ngành phối hợp với các huyện, thành phố quan tâm xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các địa phương trong triển khai nhiệm vụ./.

     

    Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang (Nguyễn Miền).

  • Tập đoàn Central Retail Việt Nam dự kiến tiêu thụ 1 nghìn tấn vải thiều Lục Ngạn

    (BGĐT)-Vụ vải năm nay, Tập đoàn Central Retail Việt Nam dự kiến sẽ tiêu thụ 1 nghìn tấn vải thiều Lục Ngạn, tăng gấp 3 lần sản lượng tiêu thụ của năm trước.

    Tập đoàn Central Retail  Việt Nam tiêu thụ vải thiều Lục Ngạn.

    Tập đoàn Central Retail  Việt Nam tiêu thụ vải thiều Lục Ngạn.

    Để thực hiện mục tiêu này, Tập đoàn Central Retail  Việt Nam đã áp dụng nhiều chương trình khuyến mãi nhằm kích cầu người tiêu dùng sử dụng sản phẩm vải thiều Lục Ngạn. Đồng thời, đơn vị đưa quả vải thiều vào bán tại hệ thống 38 siêu thị BigC và GO trên cả nước; xuất khẩu vải thiều Bắc Giang sang Thái Lan và bố trí vị trí đẹp để trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại các hệ thống siêu thị trên.

    Theo bà Nguyễn Thị Phương, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Central Retail Việt Nam, nhiều tháng qua, đơn vị cử cán bộ chuyên môn của công ty trực tiếp xuống kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất vải thiều của nhiều hộ dân trên địa bàn huyện Lục Ngạn. Quả vải được người dân chăm sóc đúng quy trình, bảo đảm chất lượng, mẫu mã tốt. Dự kiến trong tháng 6/2020, Tập đoàn tổ chức Tuần lễ quảng bá và giới thiệu vải thiều tại Hà Nội để giới thiệu sản phẩm tới người tiêu dùng. 

    Đến thời điểm này, Tập đoàn đã tiêu thụ 5 xe container (125 tấn) vải thiều vào Hệ thống Big C tại TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Sản phẩm vải thiều trưng bày và bán tại hệ thống siêu thị Big C là sản phẩm đã được chứng nhận sản phẩm OCOP 4 sao. Ngoài việc cung cấp quả vải tươi, đơn vị cũng gửi tới khách hàng một số món ăn, nước uống được chế biến từ vải thiều như: Chè vải rau câu, chè vải hạt sen, kem vải, bánh flan vải, nước ép vải, bánh rán mặn nhân vải…

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Hoàng Phương).

  • Phúc Hòa: Doanh thu từ vải thiều sớm đạt khoảng 170 tỷ đồng

    (BGĐT)- Đến thời điểm này, 600 ha vải sớm trên địa bàn xã Phúc Hòa, huyện Tân Yên (Bắc Giang) đã được người dân thu hoạch xong. 

    Một điểm thu mua vải thiều sớm tại xã Phúc Hòa (Tân Yên).

    Một điểm thu mua vải thiều sớm tại xã Phúc Hòa (Tân Yên).

    Điểm mới trong hoạt động tiêu thụ vải thiều sớm tại Phúc Hòa năm này là phần lớn sản lượng quả vải được bán sang thị trường các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia, đạt 80% tổng sản lượng tiêu thụ toàn xã. 

    Bên cạnh đó, vải sớm Phúc Hòa đã có mặt tại hầu hết các chuỗi siêu thị lớn, cửa hàng tiện ích, chợ truyền thống… thuộc các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước như: Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh… 

    Nông dân thôn Lân Thịnh, xã Phúc Hòa (Tân Yên) vui mùa vải thiều sớm.

    Nông dân thôn Lân Thịnh, xã Phúc Hòa (Tân Yên) vui mùa vải thiều sớm.

    Năm nay, bên cạnh người dân thực hiện đúng quy trình chăm sóc VietGAP, thời tiết rất thuận lợi giúp năng suất, chất lượng, mẫu mã quả vải nâng cao. Tổng sản lượng đạt hơn 8,5 nghìn tấn, tăng 1,5 nghìn tấn so với vụ trước. Giá bán vải trung bình đạt 20 nghìn đồng/kg, ước bà con thu về khoảng 170 tỷ đồng, tăng 50 tỷ đồng so với vụ trước. 

    Hiện cán bộ chuyên môn xã đang tuyên truyền, hướng dẫn người dân chăm sóc vải giai đoạn sau khi thu hoạch nhằm giúp cây hồi phục, đủ dinh dưỡng cho vụ vải năm sau.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Hoàng Phương).

  • Thu mua vải thiều xuất khẩu đi Mỹ

    (BGĐT)-Ngày 11/6, Tập đoàn Vina T&T bắt đầu thu mua vải thiều của người dân Lục Ngạn để xuất khẩu đi thị trường Mỹ.

    Thu mua vải thiều để xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

    Thu mua vải thiều để xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

    Cụ thể, tập đoàn mua 30 tấn quả của hộ các ông: Vi Văn Thanh, Phùng Văn Hoạt, xã Hồng Giang; Nguyễn Văn Hiền, xã Tân Mộc với giá 30 nghìn đồng/kg. Toàn bộ diện tích vải này được cấp mã số vùng trồng từ năm 2016, sản xuất theo quy trình GlobalGAP.

    Sau khi đóng gói tại Lục Ngạn, vải thiều được vận chuyển vào TP Hồ Chí Minh xông hơi, khử trùng, xuất khẩu sang Mỹ. Đây là chuyến vải thiều đầu tiên trong năm nay của Bắc Giang được xuất khẩu sang thị trường khó tính này.

    Vườn vải tại thôn Kép 1, xã Hồng Giang (Lục Ngạn) được cấp mã số vùng trồng, đủ điều kiện xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

    Vườn vải tại thôn Kép 1, xã Hồng Giang (Lục Ngạn) được cấp mã số vùng trồng, đủ điều kiện xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

    Được biết, từ nay đến cuối vụ, dự kiến tập đoàn Vina T&T sẽ thu mua khoảng 50 tấn vải chính vụ xuất khẩu sang Mỹ.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Trường Sơn).

  • Bắc Giang: Hàng hóa dồi dào, không có tình trạng đầu cơ, tích trữ do lo ngại dịch Covid-19

    (BGĐT) – Tính đến 9 giờ ngày 11/8, tỉnh Bắc Giang ghi nhận 6 ca nhiễm Covid-19. Tất cả những trường hợp này đang được điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới T.Ư, cơ sở Đông Anh (Hà Nội). 

    Hàng hóa thiết yếu tại các chợ bảo đảm cung ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Ảnh chụp tại chợ tạm Ngô Quyền (TP Bắc Giang, sáng 11/8. 

    Hàng hóa thiết yếu tại các chợ bảo đảm cung ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân.

     Ảnh chụp tại chợ tạm Ngô Quyền (TP Bắc Giang, sáng 11/8.

    Qua ghi nhận thực tế và đánh giá của cơ quan chức năng, thị trường hàng hóa thiết yếu trên địa bàn tỉnh bảo đảm phục vụ đủ nhu cầu tiêu dùng, không có hiện tượng đổ xô đi mua tích trữ lương thực.

    Tại TP Bắc Giang, giá bán lẻ một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu tương đối ổn định như: Gạo Khang dân giá từ 12,5-14 nghìn đồng/kg; gạo tám thơm từ 14-18 nghìn đồng/kg; giá thịt lợn mông sấn 135-145 nghìn đồng/kg, 150-160 nghìn đồng/kg thịt ba chỉ; cá chép 60-75 nghìn đồng/kg, cá rô phi 30-40 nghìn đồng/kg… 

    Giá rau, củ, quả ổn định, trong đó giá rau muống, cải, ngót 2,5- 4 nghìn đồng/mớ; cà chua 10-12 đồng/kg… Các mặt hàng thiết yếu như: Mỳ tôm, mỳ gạo, dầu ăn, nước uống đóng chai… sức mua tăng nhưng không nhiều, giá cả mặt hàng này ổn định, các đơn vị bán đúng mức giá niêm yết của nhà sản xuất.

    Tại một số huyện như Việt Yên, Lạng Giang, Tân Yên… giá các mặt hàng thiết yếu ổn định. Riêng tại huyện Sơn Động, giá một số thực phẩm tăng nhẹ so với vài tuần trước do địa phương đang thực hiện giãn cách xã hội để phòng, chống dịch Covid-19. Giá các loại thịt lợn từ 170-190 nghìn đồng/kg, tăng khoảng 10-15 nghìn đồng/kg so với thời điểm chưa có dịch Covid-19; rau xanh các loại như (đay, mùng tơi, dền) giá 5- 6 nghìn đồng/bó, tăng khoảng 1 nghìn so với trước.

    Trên địa bàn tỉnh hiện có 9 siêu thị (trong đó 4 siêu thị có kinh doanh hàng hóa thiết yếu), 133 chợ, 10 thương nhân phân phối, khoảng 3 nghìn các loại cửa hàng cửa hiệu kinh doanh thực phẩm, hàng hóa bảo đảm phục vụ đủ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trên địa bàn tỉnh.

    Thời điểm này, các doanh nghiệp phân phối trên địa bàn đã tăng lượng dự trữ so với ngày thường, đặc biệt là gạo và mỳ gói để đáp ứng nhu cầu người dân. Hiện lượng dự trữ tại kho của các doanh nghiệp đạt gần 70 nghìn thùng mỳ các loại và 400 tấn gạo, trong trường hợp cần thiết các đơn vị này có thể cung cấp và huy động đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường.

    Tính riêng hai siêu thị bán lẻ hàng hóa thiết yếu là BigC và Co.opMark, lượng hàng hóa dự trữ tăng so với ngày bình thường. Trong kho của hai đơn vị này có khoảng từ 9-11 nghìn thùng mỳ các loại, khoảng 8 tấn gạo, gần 50 tấn nhu yếu phẩm, 12-15 tấn thực phẩm đông lạnh (thịt gà, cá); hàng tươi sống (thịt lợn, gà, trâu bò, rau xanh) lượng cung ứng bảo đảm tăng gấp 2-3 lần ngày thường.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Hoàng Phương).

  • Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam vượt Thái Lan

    Đầu tháng 8, mỗi tấn gạo trắng 5% tấm của Việt Nam xuất khẩu có giá cao hơn gạo Thái Lan cùng loại khoảng 15 USD.

    Theo Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, do đồng bath Thái tăng giá so với USD, khiến giá gạo xuất khẩu nước này mất lợi thế cạnh tranh so với đối thủ. Giá FOB gạo trắng 5% tấm của Thái Lan giao dịch quanh mức 460 USD một tấn, cao hơn 90 USD mỗi tấn so với gạo Ấn Độ và 8 USD so với gạo đồng hạng của Việt Nam.

    Mỗi tấn gạo trắng 5% tấm của Việt Nam xuất khẩu có giá cao hơn gạo Thái Lan cùng loại khoảng 15 USD.

    Mỗi tấn gạo trắng 5% tấm của Việt Nam xuất khẩu có giá cao hơn gạo Thái Lan cùng loại khoảng 15 USD.

    Từ ngày 8/8 đến nay, giá gạo Việt Nam xuất bán trên thị trường thế giới dao động 478-482 USD một tấn, cao hơn giá xuất khẩu gạo Thái Lan khoảng 15 USD một tấn.

    Theo Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, Chính phủ nước này đang cân nhắc thay đổi chính sách trong xuất khẩu gạo, nhằm lấy lại đà cạnh tranh với gạo các nước xuất khẩu khác như Việt Nam, Ấn Độ. Các chính sách thay đổi sẽ tập trung vào marketing, giảm chi phí sản xuất, nghiên cứu các giống gạo mới…

    Thái Lan sẽ tập trung vào 3 phân khúc, gồm cao cấp (gạo hương, gạo hom mali), đại trà (gạo trắng, gạo đồ…) và đặc biệt (gạo đặc biệt, gạo nếp).

    Ngoài ra, Bộ Thương mại Thái Lan sẽ làm việc cùng Hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo để tìm kiếm đối tác mới nhằm mở rộng thị trường do gạo nước này vẫn được nhiều đối tác quốc tế quan tâm nhờ chất lượng. Bên cạnh đó, trưởng đại diện các cơ quan Thương vụ của Thái Lan tại nước ngoài cũng được khuyến khích quảng bá, tìm kiếm thị trường tiềm năng.

    Báo cáo của Cục chế biến và Phát triển thị trường Nông sản (Bộ Nông nghiệp và PTNT) cho thấy, khối lượng gạo xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2020 đạt gần 3,9 triệu tấn và 1,9 tỷ USD, giảm 1,4% về khối lượng nhưng tăng 10,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019. Giá gạo xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm đạt 487,6 USD một tấn, tăng 13% so với cùng kỳ năm ngoái.

     

    Nguồn: Theo VnExpress.

  • Hỗ trợ bao bì, nhãn mác: Nâng giá trị mỳ Chũ

    (BGĐT) – Những năm qua, sản phẩm mỳ Chũ, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) ngày càng được chú trọng về mẫu mã, chất lượng nên tiêu thụ thuận lợi với giá trị kinh tế cao. Có được kết quả này một phần là nhờ  sự hỗ trợ của Đề án phát triển nông sản hàng hóa đạt tiêu chí cấp tỉnh giai đoạn 2019-2021. 

    HTX Mỳ Chũ Xuân Trường sử dụng mẫu mã bao bì mới để đóng sản phẩm trước khi mang đi tiêu thụ.

    HTX Mỳ Chũ Xuân Trường sử dụng mẫu mã bao bì mới để đóng sản phẩm trước khi mang đi tiêu thụ.

    HTX mỳ Chũ Bắc Giang Tùng Chi (HTX Tùng Chi), thôn Nam Sơn, xã Nam Dương là một điển hình. Thời điểm này, các hộ thành viên của HTX luôn tất bật sản xuất và hoàn thiện các công đoạn làm mỳ để kịp giao hàng. Anh Nguyễn Văn Tùng, Giám đốc HTX Tùng Chi cho biết, đầu năm 2020, đơn vị được hỗ trợ 150 triệu đồng từ Đề án phát triển nông sản hàng hóa đạt tiêu chí cấp tỉnh để thiết kế xây dựng bao bì, nhãn mác, tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm. 

    Với số kinh phí này, HTX đã lựa chọn loại giấy cao cấp của Nhật Bản để làm túi đựng thành phẩm và thuê đơn vị thiết kế mẫu mã, logô in ấn. Tháng 5/2020, đơn vị chính thức sử dụng bao bì mới, sản phẩm nhìn đẹp, bắt mắt và phù hợp làm quà biếu, tặng, được nhiều người ưa chuộng.

    Được biết, HTX thành lập từ năm 2013 với 7 thành viên, đến nay có 80 thành viên. Trước kia, mặc dù mỳ Chũ của HTX bảo đảm về chất lượng nhưng do mẫu mã, bao bì đóng gói không đẹp nên tiêu thụ chưa thuận lợi. Từ khi chuyển sang dùng túi cao cấp của Nhật với màu sắc, hoa văn rõ ràng và có thể truy xuất nguồn gốc, mỳ tiêu thụ thuận lợi hơn. Trung bình mỗi tháng, HTX sản xuất hơn 70 tấn mỳ trắng, tăng 10 tấn/tháng, bán giá 30 nghìn đồng/kg, cao hơn 5 nghìn đồng/kg so với trước.

    Tương tự, cùng với HTX Tùng Chi, đầu năm nay, HTX Mỳ Chũ Xuân Trường, thôn Thủ Dương, xã Nam Dương cũng được Sở Công Thương hỗ trợ hơn 100 triệu đồng để thiết kế lô gô, bao bì đóng gói sản phẩm. HTX đã lựa chọn túi đựng mỳ thân thiện với môi trường thay thế túi nilon. Với chất lượng tốt, bao bì mẫu mã đẹp, mỳ Chũ Xuân Trường được tiêu thụ thuận lợi ở trong và ngoài nước.

    Ngoài hệ thống siêu thị, cửa hàng lớn, sản phẩm đang được bán sang Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Đức, Ba Lan… HTX Mỳ Chũ Xuân Trường có 30 thành viên, trung bình sản xuất 3-4 tấn mỳ/ngày. Với lượng tiêu thụ ngày một lớn, nhiều hộ thành viên trong HTX đã chủ động đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại. Các thành viên của HTX sản xuất đa dạng các sản phẩm mỳ như: Mỳ gạo trắng, mỳ chùm ngây, mỳ gạo lứt, mỳ gấc, mỳ thập cẩm củ quả, bún tươi… được khách hàng ưa chuộng.

    Năm nay, ngoài hai đơn vị trên, tại Lục Ngạn, Sở Công Thương hỗ trợ kinh phí cho các HTX sản xuất, kinh doanh mỳ như: Sản xuất và tiêu thụ mỳ Hạnh Thái; sản xuất, kinh doanh tiêu thụ mỳ Trại Lâm; Công ty cổ phần Mỳ Chũ Lục Ngạn từ Đề án phát triển nông sản hàng hóa đạt tiêu chí cấp tỉnh năm 2020.

    Đề án phát triển nông sản hàng hóa đạt tiêu chí cấp tỉnh đã hỗ trợ hầu hết các HTX sản xuất mỳ trên địa bàn huyện Lục Ngạn. Hoạt động này giúp sản phẩm đạt chất lượng tốt, có mẫu mã đạt tiêu chuẩn trong nước và nước ngoài. 

    Tùy từng năm, các đơn vị tham gia sẽ được hỗ trợ những nội dung khác để phát triển sản xuất như: Trang thiết bị máy móc, ứng dụng thương mại điện tử, cải tiến mẫu mã. Riêng năm 2020, Đề án giúp các đơn vị tham gia xây dựng, thiết kế bao bì sản phẩm, gắn tem truy xuất nguồn gốc.

    Ông Dương Văn Tuấn, Trưởng Phòng Quản lý thương mại (Sở Công Thương) thông tin, để tiếp tục hoàn thiện và phát huy hiệu quả đề án, đơn vị cùng chính quyền địa phương tích cực tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, tổ chức các buổi tập huấn tham quan, học hỏi kinh nghiệm tại các làng nghề. Sở tích cực kết nối cho các HTX, DN ký kết bao tiêu sản phẩm.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Hoàng Phương).

  • Chính thức giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp

    Theo Điều 3 của Nghị quyết số 116/2020/QH14 (Nghị quyết 116) về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác, hôm nay (3/8), Nghị quyết 116 sẽ chính thức có hiệu lực.

    Ngày 19/6, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 116/2020/QH14 giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp của năm 2020 với 442/446 đại biểu Quốc hội có mặt biểu quyết đồng ý.

    Dự kiến, việc thực hiện giảm thuế nêu trên sẽ giảm thu ngân sách nhà nước của năm 2020 khoảng 22.440 tỷ đồng. Ảnh minh họa.

    Dự kiến, việc thực hiện giảm thuế nêu trên sẽ giảm thu ngân sách nhà nước của năm 2020 khoảng 22.440 tỷ đồng. Ảnh minh họa.

    Theo Nghị quyết, Quốc hội giảm 30% thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp có doanh thu dưới 200 tỷ đồng và áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2020.

    Đối tượng được giảm thuế trong Nghị quyết gồm: Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã; đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập.

    Dự kiến việc thực hiện giảm thuế nêu trên sẽ giảm thu ngân sách nhà nước của năm 2020 khoảng 22.440 tỷ đồng.

     

    Nguồn: Theo Nhân Dân.

  • Giảm tiền thuê đất cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19

    Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 22/2020/QĐ-TTg về việc giảm tiền thuê đất của năm 2020 đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ.

    Theo đó, đối tượng áp dụng là doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo quyết định hoặc hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới hình thức trả tiền thuê đất hàng năm phải ngừng sản xuất kinh doanh từ 15 ngày trở lên do ảnh hưởng của dịch Covid-19 (người thuê đất).

    Giảm tiền thuê đất cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

    Giảm tiền thuê đất cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

    Về mức giảm tiền thuê đất, giảm 15% tiền thuê đất phải nộp của năm 2020 đối với người thuê đất nêu trên; không thực hiện giảm trên số tiền thuê đất còn nợ của các năm trước năm 2020 và tiền chậm nộp (nếu có).

    Quy định này áp dụng cho cả trường hợp người thuê đất có nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau nhưng chỉ ngừng một hoạt động sản xuất kinh doanh tại khu đất, thửa đất đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp.

    Hồ sơ giảm tiền thuê đất gồm:

    1- Giấy đề nghị giảm tiền thuê đất năm 2020 của người thuê đất.

    Người thuê đất chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của thông tin và đề nghị giảm tiền thuê đất của mình, bảo đảm đúng đối tượng được giảm tiền thuê đất theo quy định tại quyết định này.

    2- Quyết định cho thuê đất hoặc Hợp đồng thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (bản sao).

    Trình tự, thủ tục giảm tiền thuê đất

    Quyết định cũng quy định trình tự, thủ tục giảm tiền thuê đất. Cụ thể, người thuê đất nộp 1 bộ hồ sơ đề nghị giảm tiền thuê đất (bằng phương thức điện tử hoặc phương thức khác) cho cơ quan thuế, Ban Quản lý khu kinh tế, Ban Quản lý khu công nghệ cao, cơ quan khác theo quy định của pháp luật kể từ ngày 10/8/2020 đến hết ngày 31/12/2020; trường hợp nộp hồ sơ từ ngày 1/1/2021 trở về sau thì không được giảm tiền thuê đất theo quy định tại quyết định này.

    Căn cứ hồ sơ giảm tiền thuê đất do người thuê đất nộp theo quy định; không quá 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, cơ quan có thẩm quyền xác định số tiền thuê đất được giảm và ban hành Quyết định giảm tiền thuê đất theo quy định tại pháp luật về thu tiền thuê đất.

    Trường hợp người thuê đất đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định giảm tiền thuê đất theo quy định của quyết định này nhưng sau đó phát hiện qua thanh tra, kiểm tra việc người thuê đất không thuộc trường hợp được giảm tiền thuê đất theo quy định tại quyết định này thì người thuê đất phải hoàn trả ngân sách nhà nước số tiền thuê đất đã được giảm và tiền chậm nộp tính trên số tiền được giảm theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

    Trường hợp người thuê đất đã nộp tiền thuê đất của năm 2020 mà sau khi cơ quan có thẩm quyền xác định và quyết định giảm tiền thuê đất có phát sinh thừa tiền thuê đất thì được trừ số tiền đã nộp thừa vào tiền thuê đất của kỳ sau hoặc năm tiếp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan; trường hợp không còn kỳ phải nộp tiền thuê đất tiếp theo thì thực hiện bù trừ hoặc hoàn trả số tiền nộp thừa theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan.

     

    Nguồn: Theo Hà Nội mới.

  • Bắc Giang: Kinh doanh khẩu trang không rõ nguồn gốc bị phạt 4 triệu đồng

    (BGĐT)- Đội Quản lý thị trường (QLTT) số 7 (Cục QLTT tỉnh Bắc Giang) vừa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 4 triệu đồng đối với hộ kinh doanh Bích Cảnh ở thôn Đại Mão, xã Đại Thành (Hiệp Hòa) do ông Lưu Văn Cảnh làm chủ về hành vi kinh doanh khẩu trang và phụ kiện may khẩu trang không rõ nguồn gốc, xuất xứ; đồng thời tịch thu toàn bộ số tang vật vi phạm có trị giá hơn 11,7 triệu đồng.

    Lực lượng chức năng kiểm tra tang vật vi phạm.

    Lực lượng chức năng kiểm tra tang vật vi phạm.

    Tang vật vi phạm bao gồm 22 kg vải không dệt; 3,5 kg vải kháng khuẩn; 2,5 kg dây nẹp; 3,5 kg dây quai và 4.300 chiếc khẩu trang. 

    Được biết, tối 6/8/2020, đơn vị nhận được thông tin qua đường dây nóng của Ban chỉ đạo 389 tỉnh về tình hình sản xuất khẩu trang của cơ sở sản xuất kinh doanh Bính Cảnh ở thôn Đại Mão, xã Đại Thành. Ngày 7/8/2020, Đội QLTT số 7 thực hiện kiểm tra và phát hiện tại đây đang bày bán số tang vật vi phạm nêu trên.

    Toàn bộ số hàng hóa này chưa qua sử dụng và không có hóa đơn chứng từ kèm theo. Quá trình làm việc, ông Lưu Văn Cảnh cũng thừa nhận hành vi vi phạm trong kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Hoàng Phương).