Danh mục: Tin tức kinh tế

  • Huyện nông thôn mới ở Bắc Giang: Thành công từ nhiều cách làm hay

    (BGĐT) – Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đề ra mục tiêu đến năm 2020, toàn tỉnh có 30-40% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM) và một huyện NTM. Nhờ quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, đến nay Bắc Giang có hơn 67% số xã đạt chuẩn NTM, vượt xa mục tiêu. Ba huyện: Việt Yên, Tân Yên và Lạng Giang cán đích NTM trước kế hoạch.

    Nâng cao chất lượng cuộc sống người dân

    Sau hơn 10 năm thực hiện, Bắc Giang là tỉnh dẫn đầu khu vực Trung du và miền núi phía Bắc về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM. Trong đó, dù chưa có tiền lệ nhưng việc xây dựng huyện NTM được quan tâm, bám sát các tiêu chí của T.Ư, có lộ trình thực hiện, xác định rõ tiêu chí ưu tiên, sự đột phá trong cách làm, tập trung cao chỉ đạo, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, 3 huyện đã sớm cán đích NTM. 

       Một góc thị trấn Bích Động (Việt Yên). 

    Một góc thị trấn Bích Động (Việt Yên). 

    Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Dương Thanh Tùng, Chánh Văn phòng Điều phối NTM tỉnh đánh giá, các huyện căn cứ vào điều kiện thực tiễn để phát huy lợi thế, xây dựng mô hình phù hợp, không giống nhau nhưng đều có mục tiêu chung là nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân. Khi xác định rõ mục tiêu và tạo được sự đồng thuận của nhân dân trong suốt quá trình thực hiện, mô hình huyện NTM lộ diện. Huyện Việt Yên lấy công nghiệp làm nội lực, Tân Yên xác định phát triển nông nghiệp hàng hóa là nền tảng và Lạng Giang xây dựng NTM trong quá trình đô thị hóa.

    Khi huyện đạt chuẩn NTM, không chỉ bộ mặt nông thôn đổi mới, cơ cấu và cách tổ chức sản xuất từng bước thay đổi, an ninh trật tự xã hội được bảo đảm mà cốt lõi là đời sống tinh thần và thu nhập của người dân nâng cao. Năm 2018, Việt Yên là huyện đầu tiên của tỉnh đạt chuẩn NTM, thu nhập bình quân của người dân nông thôn là 36 triệu đồng/năm. Sau đó, huyện Lạng Giang và Tân Yên cũng cán đích NTM với chỉ tiêu này ở mức cao hơn, tăng 2 đến 3 lần so với năm 2011.

    Khai thác tiềm năng, lợi thế riêng cho mục tiêu chung

    Là huyện trọng điểm công nghiệp của tỉnh, Việt Yên có các khu, cụm công nghiệp (CCN) với nhiều doanh nghiệp hoạt động; các làng nghề truyền thống và dịch vụ phát triển mạnh. Đây là nguồn lực thúc đẩy chuyển dịch lao động, cơ cấu kinh tế sang công nghiệp và dịch vụ, đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn. Trong 8 năm (2011-2018), huyện huy động gần 3 nghìn tỷ đồng xây dựng 940 công trình, mô hình sản xuất; cứng hóa đường nông thôn, xây mới phòng học, trạm y tế, nhà văn hóa… Đáng quan tâm là huyện tập trung cao cho giải pháp về bảo đảm an ninh trật tự, ô nhiễm môi trường, đào tạo nghề cho lao động chuyển sang phi nông nghiệp. Đơn cử việc thực hiện tiêu chí “khó” về môi trường, huyện chỉ đạo các xã, thị trấn thành lập mỗi thôn, tổ dân phố một tổ vệ sinh môi trường và điểm thu gom rác thải, hỗ trợ toàn bộ phương tiện thu gom, đẩy mạnh tuyên truyền chung tay bảo vệ môi trường, nhất là ở các xã, thị trấn ven khu, CCN. Vì thế huyện không còn điểm ô nhiễm nghiêm trọng, sớm đạt 9/9 tiêu chí NTM.

    Với mô hình NTM trong quá trình đô thị hóa, huyện Lạng Giang đã lập quy hoạch xây dựng vùng đến năm 2040, chú trọng các khu dân cư, cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp, tạo môi trường và dịch vụ để từng bước hình thành đô thị. Đến nay, 2 khu đô thị mới đang hiện diện tại thị trấn Vôi cùng 25 khu dân cư tập trung. Hệ thống vỉa hè, cây xanh, cấp thoát nước, đèn đường được đầu tư khoảng 17,5 tỷ đồng. Huyện có 4/7 CCN tỷ lệ lấp đầy 90% trở lên, môi trường thuận lợi cho hơn 6.500 cơ sở TTCN hoạt động, tạo việc làm cho 18 nghìn lao động. Các trung tâm dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp từng bước hình thành tạo đà phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Hệ thống dịch vụ thương mại như: Chợ nông thôn, siêu thị mini, cửa hàng được xây dựng kiên cố đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa, thúc đẩy KT-XH phát triển. Trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT Bùi Đức Hùng cho biết, từ năm 2017, ngay khi T.Ư có quyết định, tỉnh ban hành kế hoạch, huyện sớm chỉ đạo và giao các ban, ngành thực hiện hiệu quả nhiệm vụ xây dựng mô hình huyện NTM trong quá trình đô thị hóa.

    Ở Tân Yên, nhận rõ thế mạnh về nông nghiệp, huyện chú trọng đầu tư làm đường nông thôn, kênh mương nội đồng, chợ nông thôn… nhằm thúc đẩy sản xuất, tạo dấu ấn riêng cho huyện NTM. Bộ mặt nông thôn đổi thay rõ nét, hình thành những vùng cây ăn quả nổi tiếng như: Vải thiều sớm Phúc Hòa, ổi lê Tân Yên, vú sữa Hợp Đức. Chăn nuôi lợn, thủy sản đứng đầu tỉnh. Đặc biệt, huyện đã xây dựng 7 nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm chủ lực, 2 sản phẩm OCOP cấp tỉnh. Giá trị sản xuất/ha đất canh tác đạt 152 triệu đồng/năm, tăng 102 triệu đồng so với năm 2011. Hộ nghèo giảm còn 1,68%…

    Khởi đầu cho quá trình không có kết thúc

    Diện mạo ở huyện NTM cũng như cuộc sống của người dân nơi đây đổi thay rõ nét. Cũng theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Dương Thanh Tùng, xây dựng NTM là chương trình có khởi đầu nhưng không có điểm kết thúc, bởi “thước đo” hiệu quả chính là đời sống người dân tiếp tục nâng lên. Khi đã cán đích NTM, các huyện Việt Yên, Tân Yên và Lạng Giang đã đề ra lộ trình để củng cố, nâng chất lượng tiêu chí, trong đó xây dựng nhiều thôn, xã NTM nâng cao và kiểu mẫu.

    Không bằng lòng với những gì đang có, các huyện đang ra sức thi đua chung sức xây dựng NTM, thu hút nhiều hơn các nguồn lực cho nông thôn và nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất gắn với bảo vệ môi trường bền vững. Bên cạnh đó, quan tâm hơn nữa đến việc xây dựng con người văn hóa trong huyện NTM đặc trưng, có nông nghiệp trù phú với những “miền quê đáng sống”.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Cao Minh Ngọc – Khuất Thanh Phong).

  • Nông nghiệp Bắc Giang – Khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế

    (BGĐT) – Thực hiện tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, Bắc Giang đã tạo bước chuyển mạnh mẽ về giống, kỹ thuật chăm sóc cây trồng, vật nuôi, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Những thành quả đạt được trong sản xuất nông nghiệp đã khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp.

    Tăng trưởng ấn tượng

    Thành quả nổi bật, dễ thấy nhất của ngành nông nghiệp trong năm nay là chăn nuôi lợn. Chưa bao giờ người dân lại thu nhập cao từ nuôi lợn như hiện tại và thời gian qua. Vừa xuất lứa lợn thương phẩm hơn 50 con, gia đình anh Hoàng Văn Thuận, thôn Ngòi Lan, xã Lan Giới (Tân Yên) thu về hơn 300 triệu đồng sau khi trừ chi phí. Anh Thuận phấn khởi: “Gia đình tôi nuôi 60 con lợn nái nên chủ động được con giống. Thức ăn chăn nuôi hiện ổn định, giá thành giảm, mỗi con lợn (nặng 1,2 tạ) lãi hơn 6 triệu đồng”. 

    Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT thăm mô hình cấy lúa - nuôi cua tại xã Bắc Lũng (Lục Nam).

    Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT thăm mô hình cấy lúa – nuôi cua tại xã Bắc Lũng (Lục Nam).

    Hiện nay, gia đình anh Thuận còn hơn 130 con lợn thịt, dự kiến được bán vào cuối năm nay. Được biết, anh Thuận là một trong những người có kinh nghiệm chăn nuôi lâu năm trong xã song đợt dịch tả lợn châu Phi xảy ra vào năm ngoái, đàn lợn của gia đình anh vẫn bị chết hàng loạt, thiệt hại kinh tế nặng nề. Nhận định tình hình thị trường, ngay khi dịch lắng xuống, anh vệ sinh chuồng trại, vào đàn lứa mới. Do tuân thủ quy trình phòng bệnh, đàn lợn lớn nhanh, khỏe mạnh.

    * Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp bình quân đạt 1,9%/năm.

    * Giá trị sản xuất bình quân/1 ha đất nông nghiệp ước đạt 110 triệu đồng.

    * Xây dựng được 766 mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao theo Nghị quyết 130 của Tỉnh ủy.

    Lợi nhuận lớn, người dân tiếp tục mở rộng, yên tâm tái đàn nên tổng đàn lợn của tỉnh tăng nhanh. Hết tháng 9 năm nay, toàn tỉnh có 915 nghìn con lợn, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Đặc biệt, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng mạnh, đạt 123,6 nghìn tấn. Giá lợn cao kéo theo giá các vật nuôi như: Gà, cá, vịt tăng lên do người tiêu dùng sử dụng các thực phẩm này bù vào lượng thịt lợn thiếu hụt hoặc để tiết kiệm chi phí sinh hoạt. Tổng đàn gia cầm vì thế tăng mạnh, hiện đạt hơn 18 triệu con (tăng hơn 2,6 triệu con so với cùng kỳ năm 2019), trong đó đàn gà hơn 15,7 triệu con; đàn thủy cầm hơn 2,3 triệu con.

    Năm 2020 cũng đánh dấu sự sáng tạo, đổi mới trong tiêu thụ vải thiều để có một mùa quả thành công. Do ảnh hưởng của dịch bệnh, tỉnh đã chuyển sang hình thức xúc tiến thương mại trực tuyến, vải thiều nhờ đó tiêu thụ thuận lợi ở tất cả các thị trường. Đặc biệt, đã xuất khẩu thành công vào thị trường khó tính Nhật Bản và được người tiêu dùng sở tại đón nhận, tạo tiền đề cho những vụ vải tới. Sau mùa vải, Bắc Giang lại nối tiếp mùa na, nhãn “ngọt” bởi sản phẩm tiếp tục được mùa, được giá. Vụ lúa mùa cũng bội thu, năng suất tăng. Cùng đó, cây có múi đang cho thu hoạch với nhiều tín hiệu vui. Theo Cục Thống kê, với kết quả trên, giá trị ngành nông nghiệp 9 tháng năm nay ước đạt hơn 14,4 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 5,89% so với cùng kỳ. Dự kiến, cả năm 2020, tăng trưởng lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 7,2%, cao nhất từ trước đến nay.

    Phát triển theo trục chủ lực

    Những kết quả trên thể hiện rõ vai trò trụ đỡ của nông nghiệp đối với nền kinh tế. Những tháng đầu năm 2020, trong bối cảnh dịch vụ, công nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 thì tốc độ tăng giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp vẫn tăng. Để có kết quả trên, ngành thực hiện nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ.

    Ngay những ngày đầu năm, trong tỉnh xuất hiện mưa đá; tiếp đến, dịch tả lợn châu Phi vẫn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến việc tái đàn… Theo đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, nắm rõ những bất lợi, ngành đã chủ động giải pháp bình ổn lương thực, thực phẩm. Sản lượng nông sản dồi dào, đa dạng, bảo đảm cung cấp đủ nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài tỉnh. Đời sống người dân ổn định, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền.

    Tuy nhiên, thời gian tới, dự báo vẫn còn nhiều thách thức, để giữ vững mục tiêu tăng trưởng, ngành nông nghiệp tiếp tục tái cơ cấu mạnh mẽ và tháo gỡ những khó khăn nội tại. Bắc Giang là tỉnh nông nghiệp đặc thù, đó là đa dạng sản phẩm trên cơ sở khai thác tối đa lợi thế địa phương nhưng vẫn có trục chủ lực gồm: Lợn, gà, cây ăn quả, đặc sản địa phương. Vì vậy, tỉnh luôn định hướng theo hướng này, duy trì đi theo trục. Trước mắt, ngành nông nghiệp khuyến cáo người dân khẩn trương thu hoạch lúa mùa; đẩy nhanh tiến độ trồng cây vụ đông, bảo đảm khung thời vụ. Mặt khác, thực hiện tốt tháng tiêu độc khử trùng đợt 2, tạo “lá chắn” an toàn bảo vệ đàn vật nuôi. Tuy vậy, đây cũng là thời điểm chuẩn bị sản phẩm phục vụ cho trước và sau Tết Nguyên đán, người dân tập trung tái đàn lợn, gia cầm song không được chủ quan với dịch bệnh. Chuẩn bị tốt hội nghị xúc tiến thương mại cho cam, bưởi. Làm tốt những nhiệm vụ trên cũng là tiếp tục thực hiện hiệu quả Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Trịnh Lan).

  • Những tháng cuối năm: Duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu

    (BGĐT) – Năm nay, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19 song tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp (DN) trên địa bàn tỉnh Bắc Giang vẫn tăng trưởng ở mức cao. Từ nay đến cuối năm, các cơ quan chức năng và DN tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu, phấn đấu đạt chỉ tiêu đề ra.

    Doanh nghiệp nỗ lực

    Dây chuyền sản xuất của Công ty cổ phần May xuất khẩu Hà Phong (Hiệp Hòa).

    Dây chuyền sản xuất của Công ty cổ phần May xuất khẩu Hà Phong (Hiệp Hòa).

    Theo thống kê của Sở Công Thương, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh tháng 9 ước đạt 1.140 triệu USD, cộng dồn 9 tháng ước đạt 7.657 triệu USD; đạt 80,6% so với kế hoạch. Trong đó, thị trường xuất khẩu lớn nhất là: Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Tây Ban Nha và một số nước khác. Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là hàng dệt may, da giày, máy tính, sản phẩm điện tử, điện thoại và linh kiện các loại…

    Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng mạnh là do thời gian qua các DN vẫn chủ động những biện pháp, kế hoạch bảo đảm sản xuất phục vụ đơn hàng xuất khẩu. Tiêu biểu là Công ty cổ phần May xuất khẩu Hà Phong (Hiệp Hòa), một trong hai đơn vị may mặc dẫn đầu toàn tỉnh trong hoạt động xuất khẩu. 

    Ông Nguyễn Văn Khanh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty cho biết: “Từ đầu năm đến nay, mặc dù bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu của Công ty tăng trưởng khá, đạt hơn 200 triệu USD sang thị trường các nước: Mỹ, Canada, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc… Trong đó, 90% là thị trường Mỹ”. Có được kết quả đó là do đơn vị đã đầu tư gần 120 tỷ đồng mua máy móc, thiết bị hiện đại; chủ động nhập nguyên liệu dự trữ từ đầu năm. Hiện đơn vị đang phấn đấu đạt hoặc vượt mục tiêu xuất khẩu hơn 250 triệu USD so với năm ngoái.

    Tương tự, cũng nhờ nỗ lực trong sản xuất kinh doanh, Công ty TNHH Việt Nam Dae Shin Electronics (TP Bắc Giang) chuyên sản xuất linh kiện điện thoại cung cấp cho hãng Sam Sung vẫn duy trì thu nhập ổn định cho người lao động. Được biết, trong mấy tháng ảnh hưởng của dịch Covid-19, để tăng năng suất lao động mỗi khi nhận được đơn hàng mới, Công ty đều phát động phong trào thi đua sản xuất giỏi tại các tổ, nhóm, có tổng kết khen thưởng. 

    Bà Nguyễn Thị Trang, Chủ tịch Công đoàn Công ty cho biết, với cách làm này, trong 9 tháng năm nay, đơn vị xuất khẩu khoảng 12 triệu sản phẩm, bảo đảm mục tiêu đề ra; duy trì việc làm cho hơn 200 lao động, thu nhập từ 6,5-7,5 triệu đồng/người/tháng.

    Tiếp tục tháo gỡ khó khăn

    Theo ông Trần Quang Tấn, Giám đốc Sở Công Thương, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh tăng trưởng khá là do một số DN đã có nhiều sáng tạo trong sản xuất, tái cơ cấu ngành hàng, đặc biệt là ngành may mặc. Thay vì may thời trang thì DN chuyển đổi sang may khẩu trang, đồ dùng bảo hộ lao động để xuất khẩu. Bên cạnh đó, một số DN chủ động tìm kiếm thị trường nhập nguyên liệu và xuất khẩu hàng mới khi các nước EU, Mỹ, Nhật, Hàn, Trung Quốc… dừng xuất, nhập khẩu hàng hóa để phòng, chống dịch bệnh.

    Từ nay đến cuối năm, các DN đang phát động các phong trào thi đua sản xuất với nhiều hình thức khác nhau nhằm tăng tốc hoàn thiện hợp đồng với đối tác đã ký kết từ đầu năm. Đồng hành cùng DN suốt thời gian qua, các cấp chính quyền, ngành chức năng trong tỉnh đã tích cực vào cuộc tháo gỡ khó khăn trong sản xuất. Trong đó, nhiều chính sách hỗ trợ về thuế, vay vốn, xúc tiến thương mại, cải cách thủ tục hành chính… được ban hành.

    Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Công Thương phối hợp với các sở, ngành, địa phương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh cho các DN. Cụ thể như: Sử dụng hiệu quả nguồn quỹ khuyến công hỗ trợ sản xuất tại các đơn vị; tổ chức các hoạt động tư vấn, xúc tiến thương mại. Thường xuyên rà soát, nắm tình hình sản xuất, sản lượng, thời vụ thu hoạch nông sản trên địa bàn để có phương án tiêu thụ phù hợp.

    Chi cục Hải quan quản lý các KCN tỉnh bố trí nhân lực làm việc 24/24 giờ tất cả các ngày trong tuần để giải quyết nhanh nhất thủ tục thông quan cho các DN. Cục Thuế tỉnh đã rà soát, hướng dẫn hơn 1 nghìn DN bị ảnh hưởng do dịch Covid -19 làm thủ tục gia hạn thời gian nộp thuế, với tổng số tiền khoảng 280 tỷ đồng. 

    Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Bắc Giang chỉ đạo hệ thống các ngân hàng thương mại giãn nợ cho hàng trăm khách hàng bị ảnh hưởng từ dịch Covid-19 được kéo dài thêm thời gian trả nợ từ 6 tháng đến 1 năm; đồng thời áp dụng chính sách giảm lãi suất vay vốn từ 1 đến 1,5%/năm.

    Bên cạnh đó, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã chính thức có hiệu lực cũng là cơ hội mới đối với hoạt động xuất khẩu trong những tháng cuối năm. Nắm lấy thời cơ này, các cơ quan chức năng đã và đang cùng DN chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết, chủ động triển khai kế hoạch, giải pháp hỗ trợ hoạt động xuất khẩu hàng hóa một cách thuận lợi nhất sang thị trường các nước EU.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Hoàng Phương).

  • Bắc Giang: Giảm lãi suất cho vay từ 0,5-2,5%/năm cho gần 6,8 nghìn khách hàng

    (BGĐT) – Thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Bắc Giang, các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang như: Agribank Chi nhánh Bắc Giang, Agribank Chi nhánh Bắc Giang II, Vietinbank Chi nhánh Bắc Giang, Vietcombank Chi nhánh Bắc Giang… đã rà soát số lượng khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 để giảm lãi suất cho vay.

    Khách hàng giao dịch tại Vietcombank Chi nhánh Bắc Giang.

    Khách hàng giao dịch tại Vietcombank Chi nhánh Bắc Giang.

    Theo đó, toàn tỉnh có gần 6,8 nghìn khách hàng được giảm lãi suất tiền vay mới với tổng dư nợ gần 18 nghìn tỷ đồng. Lãi suất cho vay đối với các khách hàng này đồng loạt giảm, thấp hơn mức phổ biến từ 0,5-2,5%/năm. 

    Nhiều doanh nghiệp sau khi được vay vốn với lãi suất ưu đãi đã có điều kiện để khôi phục, ổn định sản xuất, kinh doanh, tăng doanh thu như: Công ty TNHH Việt Thắng, Công ty cổ phần Tổng Công ty May Bắc Giang BGG, Công ty cổ phần Xây dựng Thành Đô Bắc Giang (TP Bắc Giang)……

    Được biết, từ nay đến hết năm, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại ưu tiên lãi suất tiền vay cho doanh nghiệp, cá nhân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 để khôi phục sản xuất.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Minh Linh).

  • TP Bắc Giang phấn đấu đứng thứ nhất trong xếp hạng bộ chỉ số DCCI của tỉnh

    (BGĐT)- Ngày 6/10, UBND TP Bắc Giang tổ chức hội nghị triển khai giải pháp nâng cao các chỉ số thành phần năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và bộ chỉ số đánh giá chất lượng năng lực điều hành các sở, ban, ngành và địa phương thuộc tỉnh (DDCI) năm 2020. 

    Chủ tịch UBND TP Bắc Giang Vũ Trí Hải phát biểu tại hội nghị.

    Chủ tịch UBND TP Bắc Giang Vũ Trí Hải phát biểu tại hội nghị.

    Tham dự có đại diện lãnh đạo: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp hội doanh nghiệp (DN) tỉnh; Thường trực Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ TP, các cơ quan, đơn vị thuộc UBND TP, UBND xã, phường, DN, hợp tác xã, các hộ kinh doanh tiêu biểu trên địa bàn.

    Tại hội nghị, đại diện lãnh đạo UBND TP báo cáo khái quát kết quả cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của địa phương, quan điểm, định hướng về thực hiện cải cách hành chính trong thời gian tới. Trong đó, nêu rõ những kết quả đã đạt được như: Tạo điều kiện thuận lợi cho DN, nhà đầu tư tiếp cận đất đai và ổn định trong sử dụng đất; nâng cao chất lượng công tác quản lý quy hoạch; hỗ trợ pháp lý cho DN phục vụ thu hút đầu tư, kinh doanh; thay đổi nhận thức của lãnh đạo TP và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của TP… 

    Tuy nhiên, công tác này vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định ở các mặt gồm: Một số quy hoạch chưa thực sự đồng bộ nên ảnh hưởng đến thu hút đầu tư; nhà đầu tư phải tự thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các hộ dân trong phạm vi dự án nên tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng chậm; công tác hỗ trợ DN, nhà đầu tư chưa cụ thể, kịp thời; tính chuyên nghiệp, thái độ phục vụ và hiệu quả giải quyết công việc của một số công chức chưa cao. 

    Quang cảnh hội nghị.

    Quang cảnh hội nghị.

    Nhằm mục tiêu phấn đấu đứng thứ nhất trong xếp hạng bộ chỉ số DDCI của tỉnh, thời gian tới TP Bắc Giang sẽ tập trung xây dựng, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thực sự thông thoáng, minh bạch, thuận lợi và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tạo động lực thu hút đầu tư và phát triển DN. Tăng cường đối thoại, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN, tạo sự thân thiện và hài lòng đối với nhà đầu tư. 

    Đẩy mạnh cải cách hành chính, từng bước khắc phục hạn chế các chỉ tiêu đạt mức thấp trong chỉ số PCI và bộ chỉ số DDCI. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử và đô thị thông minh; cung cấp sử dụng bưu chính công ích, dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4. Thực hiện tốt công tác lập và quản lý quy hoạch; hỗ trợ đầu tư sản xuất, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại…

    Các đại biểu dự hội nghị cũng được nghe đại diện lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư truyền đạt một số nội dung quan trọng về chỉ số PCI và bộ chỉ số DDCI. Cùng đó, các đại biểu tập trung thảo luận những vấn đề liên quan tới giải quyết khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của DN; giải pháp để TP Bắc Giang nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành chính; chi phí để thực hiện chỉ số PCI và bộ chỉ số DDCI, nâng cao chất lượng nguồn lao động…

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Hoàng Phương).

  • Đầu tư 1,6 tỷ đồng chăn nuôi thủy sản theo tiêu chuẩn VietGAP

    (BGĐT)- Thông tin từ Chi cục Thủy sản (Sở Nông nghiệp và PTNT), năm nay, kinh phí thực hiện đề án phát triển vùng nuôi thủy sản tập trung đạt tiêu chuẩn VietGAP trên địa bàn tỉnh Bắc Giang là 1,6 tỷ đồng triển khai trên diện tích 41 ha thuộc địa bàn các huyện: Tân Yên, Yên Dũng và Việt Yên.

    Phát triển chăn nuôi thủy sản theo tiêu chuẩn VietGAP được nhiều hộ dân xã Quế Nham (Tân Yên) áp dụng vào sản xuất.

    Phát triển chăn nuôi thủy sản theo tiêu chuẩn VietGAP được nhiều hộ dân xã Quế Nham (Tân Yên) áp dụng vào sản xuất.

    Theo đó, 52 hộ dân thuộc các xã: Quế Nham (Tân Yên); Đức Giang, Xuân Phú (Yên Dũng) và Minh Đức (Việt Yên) bảo đảm điều kiện có diện tích nuôi thủy sản thâm canh từ 0,5 ha trở lên tạo thành vùng nuôi thủy sản tập trung có diện tích tối thiểu 5 ha tham gia đề án. 

    Ngành chức năng đã hỗ trợ các hộ tham gia dự án 60% kinh phí cá giống gồm: rô phi đơn tính, chép lai, trắm cỏ; 50 % chi phí mua máy sục khí tạo ô xy và giải phóng khí độc trong ao nuôi. Đồng thời, hỗ trợ thuốc thú y, chế phẩm sinh học, chi phí tập huấn, tuyên truyền, tư vấn, chứng nhận quy trình nuôi thủy sản theo tiêu chuẩn VietGAP, vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn sử dụng thuốc kháng sinh, đào tạo đánh giá nội bộ, tập huấn cho người lao động về quy trình sản xuất và hướng dẫn cập nhật hồ sơ sản xuất…

    Nhìn chung, các hộ tham gia đều thực hiện bảo đảm các nội dung theo kế hoạch đề ra, góp phần đưa chất lượng và giá trị thủy sản của tỉnh ngày càng tăng.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Ngọc Hân).

  • GDP Việt Nam năm 2020 dự kiến tăng 2,5-3%

    Đánh giá kinh tế Việt Nam đã qua đáy chữ V và đang dần hồi phục, Chính phủ dự kiến GDP năm 2020 tăng 2,5-3%.

    Thông tin tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 9 chiều 2/10, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết, trong phiên họp sáng nay, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá Việt Nam đã vượt qua đáy chữ V và đang dần phục hồi.

    Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng phát biểu tại cuộc họp báo thường kỳ tháng 9 của Chính phủ.

    Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng phát biểu tại cuộc họp báo thường kỳ tháng 9 của Chính phủ.

    Trong khủng hoảng Covid-19, tăng trưởng ba quý liên tiếp của Việt Nam giảm so với cùng kỳ các năm nhưng vẫn đạt dương. Trong đó, quý I đạt 3,68%, quý II đạt 0,39%, quý III đạt 2,62%.

    Ông Dũng dẫn lời Thủ tướng cho biết, mục tiêu kép (vừa chống dịch vừa tăng trưởng kinh tế) đã được “tổ chức thực hiện nghiêm túc và đạt kết quả tốt”. Trước các kết quả đã ghi nhận, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến GDP cả năm đạt 2,51%. Dù vậy, tại phiên họp, Thủ tướng nêu quyết tâm tăng trưởng năm nay đạt 2,5-3%.

    Với kết quả chống dịch thành công, nền kinh tế có nhiều điểm sáng trong 9 tháng. Đơn cử xuất siêu đạt kỷ lục với 17 tỷ USD, trong đó, khu vực kinh tế trong nước có mức tăng trưởng xuất khẩu trên 20%. 30 mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD và 5 mặt hàng trên 10 tỷ USD. Thu hút FDI đã đạt trên 21 tỷ USD. Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) đã tăng lên 52,2 điểm trong tháng 9, cao nhất ASEAN.

    Ngoài ra, các chỉ số vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước. Giải ngân đầu tư công cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua với tổng mức thực hiện đạt trên 300.000 tỷ đồng, tương đương 60% kế hoạch năm.

     

    Nguồn: Theo VnExpress – Báo Bắc Giang.

  • Bảo vệ môi trường trong doanh nghiệp: Đầu tư hạ tầng, kiểm soát nguồn xả thải

    (BGĐT) – Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường (BVMT) trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhiều doanh nghiệp (DN) trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã đầu tư kinh phí xây dựng, lắp đặt hệ thống xử lý chất thải ứng dụng công nghệ tiên tiến. Nhờ đó, nước và khí thải từ các đơn vị này thải ra môi trường đều đạt tiêu chuẩn theo quy định.

    Xử lý nước, chất thải đạt chuẩn

    Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Bắc Giang (TP Bắc Giang) chuyên sản xuất giấy Tissue như: Giấy ăn, khăn lau bếp, giấy vệ sinh… xuất khẩu là một trong những đơn vị điển hình về công tác BVMT. Trước đây, để xử lý nước thải tại Nhà máy Giấy Xương Giang, Khu công nghiệp (KCN) Song Khê – Nội Hoàng, DN đã dành hàng tỷ đồng lắp đặt dây chuyền tuyển nổi bột giấy sau đó sử dụng hóa chất xử lý, bảo đảm đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra môi trường theo quy định.

    Công trình xử lý nước thải cho các doanh nghiệp thứ cấp của Công ty cổ phần Phát triển Hạ tầng KCN tỉnh tại KCN Song Khê  - Nội Hoàng.

    Công trình xử lý nước thải cho các doanh nghiệp thứ cấp của Công ty cổ phần Phát triển Hạ tầng KCN tỉnh tại KCN Song Khê – Nội Hoàng.

    Cùng với mở rộng quy mô sản xuất, năm 2018 DN tiếp tục đầu tư 15 tỷ đồng lắp đặt mới dây chuyền xử lý nước thải công nghiệp ứng dụng công nghệ hóa sinh. Ông Ngô Văn Khanh, Chủ tịch HĐQT Công ty cho biết, dây chuyền này là hệ thống liên hoàn gồm các bể điều hòa, bể lắng, bể lọc, bể keo tụ, bể xử lý vi sinh và ép bùn trong nước thải… Kể từ khi vận hành đến nay, toàn bộ nước thải của DN đều được xử lý đạt tiêu chuẩn loại A trước khi xả ra bên ngoài. 

    Ngoài ra, Công ty còn dành 5 tỷ đồng lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động để kịp thời điều chỉnh sự cố bất thường. DN cũng lắp đặt dây chuyền xử lý khí thải bằng cách phun nước vôi dập bụi. Bằng cách làm này, nhiều năm qua Công ty được ngành chức năng đánh giá chấp hành nghiêm quy định của pháp luật về BVMT. Được biết, mấy năm gần đây doanh thu của đơn vị tăng mạnh, đạt 1,5- 1,6 nghìn tỷ đồng/năm, đóng góp cho ngân sách nhà nước hơn 230 tỷ đồng, tạo việc làm ổn định cho khoảng 500 lao động.

    Tương tự, Công ty cổ phần Phát triển Hạ tầng KCN tỉnh xử lý nước thải cho gần 80 DN thứ cấp trong KCN Đình Trám và Song Khê – Nội Hoàng cũng có chuyển biến rõ nét trong hoạt động BVMT. Để xử lý toàn bộ lượng nước thải cho các DN thứ cấp tại KCN Song Khê – Nội Hoàng đạt tiêu chuẩn, cách đây hơn 3 năm, bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước phân bổ, DN bố trí gần 41 tỷ đồng xây dựng trạm xử lý nước thải ứng dụng cộng nghệ hóa lý kết hợp sinh học, công suất hơn 2 nghìn m3/ngày đêm. Trước đó, năm ngoái Công ty dành gần 25 tỷ đồng từ nguồn vốn của DN nâng cấp trạm xử lý nước thải tại KCN Đình Trám. Các công trình trên đã hoàn thành đưa vào vận hành bảo đảm nước thải đạt tiêu chuẩn loại A.

    Các DN có lượng nước, khí thải xả thải lớn như: Công ty cổ phần May xuất khẩu Hà Bắc; Công ty TNHH Siflex Việt Nam; Công ty TNHH Ethertronics Vina 2; Công ty TNHH FuGiang (Việt Yên); Công ty Nhiệt điện Sơn Động (Sơn Động)… cũng đầu tư hàng tỷ đồng lắp đặt hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn.

    Đồng hành cùng doanh nghiệp

    Xác định BVMT là nhiệm vụ quan trọng, góp phần ổn định sản xuất, nhiều DN đã quan tâm xây dựng công trình, lắp đặt hệ thống xử lý nước, khí thải trị giá từ vài trăm triệu đến hàng chục tỷ đồng. Đồng thời dành kinh phí mua hóa chất xử lý chất thải đúng quy trình.

    Đến nay, toàn tỉnh có 13 DN đầu tư khoảng 25 tỷ đồng lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, trong đó có một số DN lớn như: Công ty TNHH E-Parks (Hiệp Hòa); Công ty cổ phần KCN Sài Gòn – Bắc Giang; Công ty TNHH Fuhong Precision Component Bắc Giang; Công ty cổ phần Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc…

    Ông Vũ Văn Tưởng, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) cho biết, để các DN chấp hành nghiêm pháp luật về môi trường, căn cứ báo cáo đánh giá tác động môi trường, kế hoạch BVMT được phê duyệt, hằng năm Sở tổ chức tập huấn, hướng dẫn DN xây dựng công trình xử lý nước, khí thải; đồng thời kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình BVMT cho DN để vận hành chính thức, bình quân 40 công trình/năm. 

    Điểm mới trong thời gian gần đây đó là, Sở TN&MT tích cực rà soát, đôn đốc các DN có lượng nước xả thải lớn lắp đặt hệ thống quan trắc tự động và truyền số liệu về các thông số độc hại trong nước, khí thải về Sở để kịp thời quản lý. Hệ thống quan trắc tự động còn giúp DN kiểm soát và kịp thời điều chỉnh các thông số, tránh gây ô nhiễm môi trường. Đến nay, toàn tỉnh có 13 DN đầu tư khoảng 25 tỷ đồng lắp đặt hệ thống này như: Công ty TNHH E-Parks (Hiệp Hòa); Công ty cổ phần KCN Sài Gòn – Bắc Giang; Công ty TNHH Fuhong Precision Component Bắc Giang; Công ty cổ phần Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc…

    Cùng với các giải pháp trên, Sở TN&MT, Sở Công Thương tích cực phối hợp với các địa phương tạo điều kiện cho nhà đầu tư hạ tầng xây dựng công trình xử lý nước thải tại các KCN, cụm công nghiệp để xử lý nước thải cho DN thứ cấp. Nhờ vậy, đến nay toàn tỉnh có 9/28 cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung; các KCN đều có trạm xử lý nước thải đạt chuẩn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác BVMT.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Minh Linh).

  • Việt Nam, Thái Lan có thể thành công xưởng laptop hàng đầu thế giới

    Khu vực Đông Nam Á, trong đó chủ lực là Việt Nam và Thái Lan, được dự báo vượt Trung Quốc thành công xưởng laptop lớn nhất thế giới.

    Nikkei trích dự báo của Market Intelligence & Consulting Institute (MIC) – một tổ chức tư vấn của chính quyền Đài Loan (Trung Quốc) – cho biết Đông Nam Á sẽ sản xuất một nửa số máy tính cá nhân trên thế giới vào năm 2030. Trong đó, Việt Nam và Thái Lan sẽ là các địa điểm chủ lực.

    Việt Nam có nhiều điều kiện để trở thành công xưởng sản xuất máy tính cá nhân trên thế giới.

    Việt Nam có nhiều điều kiện để trở thành công xưởng sản xuất máy tính cá nhân trên thế giới.

    MIC dự báo Đông Nam Á thay thế Trung Quốc để trở thành trung tâm sản xuất máy tính xách tay. Chi phí lao động tại Trung Quốc tăng cao và mong muốn giảm sự phụ thuộc vào một khu vực dự kiến thúc đẩy làn sóng dịch chuyển sản xuất về Đông Nam Á.

    Năm ngoái, thị trường máy tính xách tay trên toàn cầu đạt 160 triệu chiếc. Trong đó, số máy sản xuất tại Trung Quốc chiếm đến 90% và phần lớn do các doanh nghiệp Đài Loan giám sát. Trong khi đó, Đông Nam Á chỉ cung cấp một lượng rất nhỏ.

    Tuy nhiên, sau khi phỏng vấn các nhà sản xuất, MIC dự báo thị phần sản xuất laptop của Trung Quốc sẽ giảm từ 90% xuống 40% vào năm 2030. Ví dụ, nhà sản xuất hợp đồng Wistron (Đài Loan) sẽ sản xuất các máy tính thương hiệu Mỹ tại Việt Nam.

    Các doanh nghiệp cùng ngành của Đài Loan khác cũng đang cân nhắc xây nhà máy tại Việt Nam. Foxconn – nhà sản xuất hợp đồng lớn nhất thế cũng có thể ra mắt một nhà xưởng lắp ráp laptop tại Việt Nam. Trong khi, nhà sản xuất hợp đồng lớn thứ ba thế giới Compal Electronics dự kiến sản xuất laptop tại Thái Lan.

    Năm nay, doanh số laptop dự kiến tăng 6% lên 170 triệu chiếc. Đại dịch đã thúc đẩy nhu cầu sử dụng laptop để học cũng như làm việc từ xa.

     

    Nguồn: Theo VnExpress (Báo Bắc Giang).

  • Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao ở TP Bắc Giang: Tăng hiệu quả kinh tế

    (BGĐT) – Thực hiện Nghị quyết số 130 của Ban Thường vụ (BTV) Tỉnh ủy Bắc Giang về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao (CNC) vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016- 2020, BTV Thành ủy Bắc Giang (Bắc Giang) đã xây dựng kế hoạch và tập trung lãnh đạo thực hiện, tạo bước đột phá mới trong sản xuất nông nghiệp.

    Năng suất cao, ổn định

    Trong quá trình thực hiện, BTV Thành ủy chỉ đạo các chi, đảng bộ cơ sở, MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội quán triệt đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên nội dung Nghị quyết số 130 và một số nghị quyết, kế hoạch của UBND tỉnh, TP về ứng dụng CNC trong sản xuất nông nghiệp. UBND TP phối hợp với cơ quan chức năng của tỉnh tổ chức điều tra, đánh giá, đề xuất và được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch ba vùng sản xuất hoa, rau an toàn tập trung và tại ba phường, xã: Song Mai, Đa Mai, Dĩnh Trì với tổng diện tích gần 140 ha.

    Chủ cơ sở sản xuất rau mầm phường Xương Giang giới thiệu mô hình.

    Chủ cơ sở sản xuất rau mầm phường Xương Giang giới thiệu mô hình.

    Đến nay, trên địa bàn đã hình thành hai khu trồng hoa chuyên canh chất lượng cao và một khu sản xuất rau an toàn. Hiện các đơn vị chức năng của TP tiếp tục đề xuất quy hoạch mới một khu sản xuất hoa, cây cảnh quy mô 10 ha tại xã Song Mai, hai vùng nuôi thủy sản tập trung quy mô 60 ha tại xã Song Mai, phường Đa Mai, thực hiện trong giai đoạn 2021 – 2030.

    Nhằm phát triển, thu hút đầu tư ứng dụng CNC vào sản xuất, TP đã thực hiện Đề án hỗ trợ sản xuất rau, hoa ứng dụng CNC trên địa bàn TP giai đoạn 2018 – 2020. Trong đó giao UBND xã Dĩnh Trì thực hiện dự án đầu tư hạ tầng khu sản xuất hoa, nông sản quy mô 26 ha tại khu Đồng Mẫu, Sau Núi. Từ nguồn ngân sách TP đã hỗ trợ gần 25 tỷ đồng để xây dựng các giếng khoan, nhà sơ chế, kho lạnh bảo quản nông sản, nhà lưới, nhà màng phục vụ sản xuất.

    Qua đánh giá, có 10 mô hình sản xuất sản phẩm chủ lực (rau, hoa) ứng dụng CNC hiệu quả, thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị; năng suất các sản phẩm lợi thế của TP (hoa, rau) tăng 30% so với năm 2016; giá trị gia tăng cao hơn 28% so với năm 2016 (đạt mục tiêu đề ra).

    Đến năm 2020, TP xây dựng 12 mô hình sản xuất rau, hoa với tổng diện tích nhà lưới, nhà màng hơn 25 nghìn m2 tập trung tại các phường, xã: Đa Mai, Song Mai, Dĩnh Trì và Tân Mỹ. Những mô hình này sản xuất theo hướng hiện đại, bền vững dựa trên nền tảng ứng dụng CNC, an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường. Các chủ mô hình áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến; sử dụng công nghệ tưới tiết kiệm; giống năng suất cao, chất lượng tốt, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học; có hợp đồng liên kết, tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX).

    Việc ứng dụng CNC vào sản xuất mang lại hiệu quả cao, giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích nhà lưới, nhà màng trồng rau, hoa đạt từ 700 triệu đồng đến 1,2 tỷ đồng/ha/năm, tăng từ 6 – 11 lần so với sản xuất thông thường; tạo thêm nhiều việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho người lao động từ 2 – 3 lần.

    Do sản xuất trong nhà lưới, nhà màng, áp dụng phương thức canh tác mới nên đã hạn chế tối đa sâu bệnh hại, khắc phục được điều kiện bất lợi của thời tiết giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cao, ổn định, sản phẩm đồng đều, mẫu mã đẹp, năng suất tăng từ 30 đến 35% so với sản xuất thông thường. Điển hình như mô hình trồng hoa đồng tiền, hoa ly, một số loại dưa của HTX Dịch vụ nông nghiệp Phương Nam và HTX Nông nghiệp Dĩnh Trì.

    Thu hút đầu tư, nhân rộng mô hình

    Ngoài chính sách, cơ chế hỗ trợ của HĐND tỉnh và TP, một số chủ mô hình như HTX Nông nghiệp Dĩnh Trì, HTX Sản xuất dịch vụ nông sản sạch Bắc Giang, hộ ông Nguyễn Văn Dương tại phường Đa Mai đã đầu tư vốn đối ứng để tích tụ đất đai, mở rộng diện tích canh tác, hình thành khu sản xuất tập trung quy mô lớn (từ 2 đến 8 ha), xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất hiệu quả. So với làm nông nghiệp truyền thống, sản xuất nông nghiệp CNC tốn ít đất, sử dụng ít lao động trong khi hiệu quả kinh tế cao gấp từ ba đến bốn lần.

    Nhà màng trồng dưa lê Hàn Quốc của gia đình chị Nguyễn Thị Luân ở thôn Núi, xã Dĩnh Trì.     Ảnh: Hải Yến.

    Nhà màng trồng dưa lê Hàn Quốc của gia đình chị Nguyễn Thị Luân ở thôn Núi, xã Dĩnh Trì. Ảnh: Hải Yến.

    Bên cạnh kết quả đạt được, sản xuất nông nghiệp CNC trên địa bàn còn có khó khăn, hạn chế như: Chưa thu hút được doanh nghiệp có năng lực về tài chính, khoa học – công nghệ đầu tư vào vùng quy hoạch trồng rau, hoa. Nguồn lực đầu tư về CNC trong sản xuất nông nghiệp của doanh nghiệp, HTX, người dân còn hạn chế; một số mô hình còn mang tính thử nghiệm.

    Để nâng cao hiệu quả các khu, vùng sản xuất nông nghiệp tập trung theo quy hoạch giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 của TP với việc trồng các loại hoa, quả giống mới cho chất lượng, năng suất cao đáp ứng nhu cầu thị trường, rất cần TP tiếp tục quan tâm thực hiện một số giải pháp. Trong đó tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, chính quyền trong chỉ đạo thực hiện; làm tốt công tác quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp; chủ động rà soát các quy hoạch về nông nghiệp để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp; tiếp tục thu hút đầu tư. 

    Cùng đó thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. Quan tâm bố trí vốn từ ngân sách để hỗ trợ đầu tư hạ tầng sản xuất chung bảo đảm tính đồng bộ, tạo tiền đề phát triển nông nghiệp thông minh ở một số vùng sản xuất rau, hoa, thủy sản tập trung trên địa bàn. Nâng cao hiệu quả các mô hình liên kết sản xuất trong nông nghiệp; vận động nông dân thành lập HTX nông nghiệp CNC, tích tụ đất đai, đầu tư hạ tầng chung.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Hà Ngọc Hoa, Phó trưởng phòng Kinh tế TP Bắc Giang).

  • Hiệp Hoà: Khai trương điểm giới thiệu nông sản

    (BGĐT)- Ngày 26/9, UBND huyện Hiệp Hòa tổ chức khai trương điểm giới thiệu và ra mắt website hiephoaocop.vn về truy xuất nguồn gốc nông sản tiêu biểu của huyện.

    Các đại biểu cắt băng khai trương điểm giới thiệu nông sản.

    Các đại biểu cắt băng khai trương điểm giới thiệu nông sản.

    Đến nay, trên địa bàn huyện Hiệp Hoà có nhiều sản phẩm tiêu biểu như: Rau cần Hoàng Lương, bưởi Hiệp Hòa, gạo nếp cái hoa vàng, bánh chưng Vân, dưa lưới, nho Hạ đen, trám đen Hoàng Vân, đông trùng hạ thảo, thịt lợn thảo dược… Trong đó, một số sản phẩm được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và được nhiều người tiêu dùng biết đến. 

    Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, phát huy lợi thế và tiềm năng của địa phương, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện chỉ đạo triển khai xây dựng Đề án “Quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và xúc tiến thương mại nông sản sạch và an toàn huyện Hiệp Hòa” với hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp và điểm trưng bày, giới thiệu sản phẩm. Điểm trưng bày được đặt tại tổ dân phố Đức Thịnh, thị trấn Thắng.

    Đại biểu tham quan các gian trưng bày sản phẩm đặc trưng của huyện Hiệp Hòa.

    Đại biểu tham quan các gian trưng bày sản phẩm đặc trưng của huyện Hiệp Hòa.

    Phát biểu tại lễ khai trương, Chủ tịch UBND huyện Hiệp Hoà Hoàng Công Bộ nhấn mạnh, cùng với ra mắt website truy xuất nguồn gốc, UBND huyện tiếp tục chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn thực hiện việc giám sát, cập nhật dữ liệu, thông tin đầy đủ, kịp thời về nguồn gốc sản phẩm trên website hiephoaocop.vn và tại điểm trưng bày, bảo đảm duy trì và phát triển trang thông tin Hiephoaocop.vn, điểm trưng bày nông sản. 

    Đồng thời, đề nghị các doanh nghiệp, HTX, người sản xuất trên địa bàn huyện sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí hỗ trợ của Trung ương, tỉnh, huyện, đầu tư hỗ trợ hạ tầng cơ sở, đường giao thông, kênh mương, nhà lưới, nhà màng; hỗ trợ giống cây, con chất lượng cao; quy trình chăm sóc, chuyển giao khoa học, kỹ thuật; đăng ký nhãn hiệu sản phẩm… 

    Các doanh nghiệp, HTX, người sản xuất chủ động đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới quy trình kỹ thuật theo hướng sản xuất hữu cơ, sản phẩm sạch, sản phẩm an toàn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.. Tạo cơ sở thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển và góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế, xã hội của địa phương.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Phương Thảo).

  • Lục Ngạn: Đầu tư xây dựng 22 công trình hạ tầng theo Chương trình 135

    (BGĐT)- Theo Phòng Dân tộc huyện Lục Ngạn (Bắc Giang), năm 2020, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo Chương trình 135 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững là hơn 14,4 tỷ đồng. 

    Đường giao thông thôn Nam Điện, xã Nam Dương được cứng hóa phong quang, sạch đẹp.

    Đường giao thông thôn Nam Điện, xã Nam Dương được cứng hóa phong quang, sạch đẹp.

    Theo đó, địa phương đã đầu tư 22 công trình xây dựng mới với số tiền hơn 11 tỷ đồng; 8 công trình chuyển tiếp với tổng số tiền hơn 3,1 tỷ đồng và 1 công trình đã phê duyệt quyết toán với số tiền hơn 229 triệu đồng.

    Trong số 22 công trình có 16 công trình đã hoàn thành, bàn giao và đưa vào sử dụng; các công trình còn lại đang được thực hiện, giá trị xây lắp đạt từ 10-80% khối lượng, bảo đảm theo kế hoạch đề ra. Ngành chức năng đã tiến hành nghiệm thu, làm hồ sơ thanh quyết toán và giải ngân vốn được hơn 9 tỷ đồng.

    Thực tế cho thấy, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo Chương trình 135 thời gian qua có ý nghĩa thiết thực giúp nhân dân vùng khó khăn có thêm điều kiện phát triển KT – XH; từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng ở địa phương.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Phương Thảo).

  • GDP 9 tháng tăng 2,12%

    Tăng trưởng kinh tế 9 tháng năm nay thấp nhất trong một thập kỷ qua, nhưng Tổng cục Thống kê đánh giá đây vẫn là “thành công lớn”.

    Sáng nay (29/9), Tổng cục Thống kê họp báo công bố tình hình kinh tế – xã hội. Theo đó, tăng trưởng GDP quý III ước tính đạt 2,62%, con số này cao hơn quý II (0,39%) nhưng vẫn thấp hơn quý I (3,68%). Kết quả này giúp GDP 9 tháng tăng 2,12%.

    “Trong bối cảnh Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh tế – xã hội của các quốc gia trên thế giới, đây là một thành công lớn của nước ta trong việc phòng chống dịch, khôi phục và phát triển kinh tế”, báo cáo của Tổng cục Thống kê viết.

    GDP 9 tháng tăng 2,12%

    GDP 9 tháng tăng 2,12%

    Theo đánh giá của cơ quan thống kê, nền kinh tế đang từng bước hoạt động trở lại trong điều kiện “bình thường mới”.

    Trong quý III, các khu vực kinh tế có dấu hiệu khởi sắc hơn quý II. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,93%; công nghiệp và xây dựng tăng 2,95%; còn dịch vụ tăng 2,75%. Tính chung 9 tháng đầu năm, các khu vực kinh tế tăng lần lượt 1,84%; 3,08% và 1,37%.

    Ngoài ảnh hưởng từ Covid-19, tốc độ tăng thấp của khu vực nông nghiệp còn do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và dịch tả lợn châu Phi. Với khu vực công nghiệp, những lĩnh vực trọng tâm đều tăng thấp nhất giai đoạn 10 năm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ tăng 4,6%, còn ngành khai khoáng giảm 5,35% do sản lượng khai thác dầu thô và khí tự nhiên giảm.

    Khu vực dịch vụ cũng tăng thấp nhất nhiều năm do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đại dịch, tuy nhiên vẫn có những lĩnh vực duy trì tăng trưởng dương. Trong đó, bán buôn và bán lẻ tăng gần 5%, hoạt động tài chính – ngân hàng – bảo hiểm tăng 6,68%. Ngược lại, ngành vận tải, kho bãi giảm 4%, dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm hơn 17%.

    Về tình hình hoạt động của khu vực doanh nghiệp, số đơn vị thành lập mới và quay trở lại hoạt động 9 tháng vẫn tăng 2,9% so với cùng kỳ năm ngoái.

    Ngược lại, chịu ảnh hưởng từ đại dịch nhưng đa số doanh nghiệp chọn tạm ngừng kinh doanh, thay vì rời khỏi thị trường. Theo cơ quan thống kê, số doanh nghiệp thuộc trường hợp này tăng tới 82%, đạt 38.700 doanh nghiệp. Tuy nhiên, số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ thủ tục giải thể giảm 2,4%, còn số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể chỉ tăng 0,1%.

    Theo khảo sát, gần 46% doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá xu hướng quý cuối năm sẽ tốt hơn, 19% dự báo khó khăn và 35,4% dự báo ổn định.

    Ngoài ra, CPI bình quân 9 tháng tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong 5 năm gần đây. Theo cơ quan thống kê, ba nguyên nhân khiến chỉ số tiêu dùng tăng là việc điều chỉnh tăng học phí trong tháng 9, sản lượng và doanh thu điện sinh hoạt tăng trong tháng 8 và giá gạo đi lên do nhu cầu tiêu dùng trong nước.

     

    Nguồn: Theo VnExpress (Báo Bắc Giang).

  • Phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường cho doanh nghiệp trong khu công nghiệp

    (BGĐT) – Ngày 30/9, Ban Quản lý các khu công nghiệp (KCN) tỉnh Bắc Giang phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), Sở Tư pháp tổ chức hội nghị tập huấn phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường năm 2020 cho hơn 100 doanh nghiệp (DN) hoạt động trong KCN trên địa bàn tỉnh. 

    Quang cảnh buổi tập huấn

    Quang cảnh buổi tập huấn

    Tại hội nghị, đại diện Sở TN&MT giới thiệu tóm tắt nội dung chính của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Trong đó nhấn mạnh về các nguyên tắc bảo vệ môi trường; hành vi gây tổn hại môi trường bị nghiêm cấm; các hoạt động bảo vệ môi trường được khuyến khích; đối tượng hưởng ưu đãi, hỗ trợ khi thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường…

    Các DN được hướng dẫn những quy định để lập mới và lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường. 

    Cụ thể DN phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường khi không triển khai dự án trong thời gian 24 tháng kể từ thời điểm được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; thay đổi địa điểm thực hiện dự án; tăng quy mô, công suất, thay đổi công nghệ làm tăng tác động xấu đến môi trường so với phương án trong báo cáo đánh giá tác động môi trường ban đầu.

    Ngoài ra, Sở TN&MT phổ biến về các trường hợp buộc phải xin cấp phép xả nước thải; thời gian quan trắc môi trường định kỳ và lưu giữ chất thải nguy hại trong DN và quy định khi thực hiện hợp đồng vận chuyển loại chất thải này để kiểm soát chặt chẽ, tránh tình trạng gây ô nhiễm…

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Minh Linh).

  • Thị trường những tháng cuối năm: Kích cầu tiêu dùng hàng Việt

    (BGĐT) – Năm nay, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhu cầu mua sắm của người dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Để thúc đẩy tiêu dùng nội địa, khôi phục sản xuất khi dịch được kiểm soát, các cấp, ngành và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp.

    Nhiều chương trình khuyến mại

    Theo Sở Công Thương, chỉ tính tháng 9/2020, toàn tỉnh có hơn 300 doanh nghiệp (DN) đăng ký tham gia chương trình khuyến mại trực tiếp tại Sở với nhiều hình thức, nội dung khác nhau như: Khuyến mại giờ vàng, giảm từ 0,1 đến 50% giá trị hàng hóa so với giá bán ban đầu, mua một tặng một, mua hàng tặng quà… nhằm kích cầu tiêu dùng. Bằng các hình thức này, sức mua của người dân, đơn vị trong tháng 8 và 9 tăng hơn so với trước đó. 

    Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Dũng Tiến (TP Bắc Giang) lên kế hoạch nhập hàng bán vào dịp Tết.

    Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Dũng Tiến (TP Bắc Giang) lên kế hoạch nhập hàng bán vào dịp Tết.

    Theo lãnh đạo Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Dũng Tiến (TP Bắc Giang), do ảnh hưởng của dịch nên ngoài phương thức kinh doanh truyền thống, đơn vị bán hàng gián tiếp và chạy chương trình khuyến mại cho nhiều sản phẩm. Nhờ vậy, doanh thu bán hàng đối với các sản phẩm: Bánh kẹo, nước mắm, dầu ăn, mì tôm… vẫn đạt chỉ tiêu; riêng mặt hàng sữa, rượu, bia và nước ngọt giảm một nửa so với cùng kỳ năm ngoái.

    Tại các Siêu thị BigC, Co.op Mart Bắc Giang (TP Bắc Giang), để thu hút người tiêu dùng, các đơn vị đang áp dụng nhiều chương trình khuyến mại với các hình thức khác nhau, nhất là mặt hàng trái cây, rau, củ, quả, thực phẩm… Đại diện Siêu thị BigC Bắc Giang thông tin, năm nay, so với năm trước sức mua giảm hơn nhưng nhờ áp dụng các chương trình giảm giá, khuyến mại nên sức mua hàng hóa trong tháng 9 tăng từ 10%-15% so với tháng 7.

    Ở một số chợ truyền thống, nhiều DN thực hiện biện pháp bán hàng di động, mở điểm trưng bày nông sản đặc trưng, chủ lực giúp người dân dễ tiếp cận và mua bán thuận lợi hơn. Bằng nhiều biện pháp kích cầu trên, tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 9 đạt 2.385,8 tỷ đồng, tăng nhẹ so với tháng trước. Những đơn vị sản xuất kinh doanh mặt hàng thiết yếu trở lại hoạt động bình thường nhằm bảo đảm nhu cầu của người dân.

    Đẩy mạnh sử dụng hàng nội

    Theo Sở Công Thương, trong bối cảnh hiện nay, dù sức mua bước đầu có chuyển biến song nhận định vẫn giảm hơn so với những năm trước. Để kích cầu tiêu dùng, Sở vừa có văn bản đề nghị UBND các huyện, TP; DN phân phối hàng Việt Nam trên địa bàn tỉnh đẩy mạnh chương trình kích cầu tiêu dùng nội địa từ nay đến cuối năm. 

    Trong đó, tập trung tạo điều kiện cho DN phân phối hàng Việt Nam tổ chức chương trình khuyến mại, đưa hàng về tiêu thụ ở mọi địa bàn, nhất là khu vực nông thôn, miền núi và khu, cụm công nghiệp… Hỗ trợ xây dựng điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP, chủ lực, đặc trưng, tiềm năng, lợi thế của địa phương… bảo đảm cung cấp đủ hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng của người dân.

    Sở Công Thương đã có văn bản đề nghị các địa phương, đơn vị đẩy mạnh chương trình kích cầu tiêu dùng nội địa từ nay đến cuối năm. Trong đó, tập trung tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phân phối hàng Việt tổ chức các chương trình khuyến mại, đưa hàng Việt về tiêu thụ ở mọi địa bàn, nhất là khu vực nông thôn, miền núi và khu, cụm công nghiệp…

    Cùng với cơ quan chức năng, các DN cũng chủ động phương án để sản xuất, kinh doanh ổn định. Được biết, toàn tỉnh hiện có 15 thương nhân phân phối và hàng trăm đơn vị bán lẻ hàng hóa tiêu dùng thiết yếu. Thời điểm này, các DN đang chuẩn bị các mặt hàng phục vụ Tết Nguyên đán. 

    Bà Nguyễn Thị Kim Thoa, Giám đốc Công ty TNHH Thoa Thịnh, phường Lê Lợi (TP Bắc Giang) chia sẻ: “Năm nay dự kiến sức mua sẽ chững hơn so với năm ngoái song để bảo đảm hàng hóa cung cấp cho các đơn vị bán lẻ cấp dưới, Công ty dự kiến nhập khoảng 10 tỷ đồng tiền hàng; trong đó chủ yếu là bánh kẹo, dầu ăn, mỳ tôm… Các mặt hàng được công ty phân phối đều là sản phẩm sản xuất trong nước”.

    Một số đơn vị sản xuất đang tổ chức khảo sát, tìm kiếm đối tác. Ví như, Công ty TNHH Bánh kẹo thực phẩm Tích Sỹ Giai, xã Tân Dĩnh (Lạng Giang), nhiều lao động phải nghỉ việc liên tục hoặc luân phiên trong khoảng thời gian dài do dịch Covid-19. Lao động mới trở lại làm việc bình thường được mấy tháng trở lại đây. Đơn vị đang đàm phán với các đối tác về nhu cầu đặt hàng, từ đó lên kế hoạch sản xuất.

    Ông Trần Quang Tấn, Giám đốc Sở Công Thương cho biết, để bảo đảm cung ứng hàng hóa, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng dịp cuối năm, cùng với triển khai thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo, kế hoạch của T.Ư, các cấp, ngành trong tỉnh cũng có chương trình kế hoạch riêng thúc đẩy tiêu dùng, sản xuất hàng nội địa. Ban Chỉ đạo Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” tỉnh đã yêu cầu các cơ quan, đơn vị, DN đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động này. Sở tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện, có biện pháp xử lý những hành vi găm hàng, tăng giá, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Hoàng Phương).

  • Nâng cao kiến thức về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

    (BGĐT) – Ngày 30/9, Sở Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hội nghị tập huấn cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tỉnh Bắc Giang năm 2020. Tham dự có toàn thể cán bộ, công chức, viên chức của đơn vị.

    Quang cảnh hội nghị.

    Quang cảnh hội nghị.

    Phát biểu khai giảng lớp tập huấn, đại diện lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư đã nhấn mạnh đến quyết tâm của tỉnh Bắc Giang trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). 

    Trong đó, tỉnh phấn đấu năm 2020 cải thiện 10 bậc trên bảng xếp hạng PCI, thuộc nhóm các địa phương có chất lượng điều hành khá. Để buổi tập huấn hiệu quả, Sở quán triệt các cán bộ, công chức, viên chức của đơn vị nghiêm túc lắng nghe trên tinh thần cầu thị; từ đó tiếp thu kiến thức thực hiện tốt công việc nhằm đạt mục tiêu đề ra của tỉnh.

    Tại hội nghị, Tiến sĩ Nguyễn Phương Bắc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Bắc Ninh chia sẻ những kinh nghiệm và giảng giải nội dung, kiến thức cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Tại đây, Tiến sĩ đã trao đổi về các nội dung trọng tâm như: Phân tích bối cảnh phát triển mới, chỉ số đo lường chất lượng quản trị địa phương; phương pháp hình thành hành vi tích cực, cải thiện môi trường kinh doanh, hướng tới hài lòng của người dân, doanh nghiệp; xây dựng và ứng dụng bộ chỉ số đánh giá năng lực điều hành cấp tỉnh (DDCI); giải pháp thúc đẩy cải thiện chỉ số  PCI.  

    Thông qua hội nghị này sẽ giúp đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của sở Kế hoạch và Đầu tư thống nhất về nhận thức trong việc thực hiện nhiệm vụ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh. Bên cạnh đó còn giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Sở nâng cao kỹ năng trong tiếp xúc với công dân, thái độ lịch sự, thân thiện; khi có nhu cầu chính đáng cần được trả kết quả sớm hơn so với thời gian quy định giải quyết công việc liên quan đến người dân, doanh nghiệp.

     

    Nguồn: Báo Bắc Giang (Hoàng Phương).

  • Tập trung hoàn thiện Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050

    Chiều 25/9, Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái – Trưởng Ban Chỉ đạo lập Quy hoạch tỉnh tổ chức cuộc làm việc triển khai công tác lập Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cùng dự có Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Ánh Dương – Phó Trưởng Ban Chỉ đạo lập Quy hoạch tỉnh; các thành viên Ban Chỉ đạo lập Quy hoạch tỉnh.

    Quang cảnh cuộc làm việc. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

    Theo dự thảo Quy hoạch tỉnh được trình bày tại cuộc làm việc, Quy hoạch tỉnh Bắc Giang được lập cho thời kỳ 2021 – 2030 (có phân kỳ theo hai giai đoạn 2021 – 2025; 2026 – 2030), tầm nhìn đến năm 2050.

    Quy hoạch tỉnh thực hiện nghiên cứu vai trò tỉnh Bắc Giang trong mối quan hệ phát triển với các tỉnh lân cận có tác động trực tiếp đến tỉnh, thành phố bao gồm Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương; vùng Trung du và miền núi phía Bắc; vùng kinh tế – xã hội theo Luật Quy hoạch; vùng Thủ đô Hà Nội; vùng Đồng Bằng sông Hồng; vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và cả nước.

    Phạm vi lập quy hoạch bao gồm toàn tỉnh Bắc Giang với diện tích tự nhiên 3.895,48 km2, 10 đơn vị hành chính cấp huyện gồm thành phố Bắc Giang và 9 huyện, trong đó có 6 huyện miền núi (Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Yên Dũng, Tân Yên), 01 huyện vùng cao (Sơn Động) và 02 huyện trung du, đồng bằng (Hiệp Hòa, Việt Yên).

    Ranh giới lập quy hoạch bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính tỉnh Bắc Giang với diện tích tự nhiên 3.895,48 km2. Phía Đông giáp với tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Quảng Ninh; phía Tây giáp với tỉnh Thái Nguyên, thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp với tỉnh Hải Dương và Quảng Ninh; phía Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn và một phần tỉnh Thái Nguyên.

    Theo đánh giá của Sở Kế hoạch và Đầu tư, việc nghiên cứu và xây dựng Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là rất cần thiết theo yêu cầu của hướng tiếp cận mới, có tầm nhìn dài hạn nhằm phát huy hiệu quả các lợi thế của tỉnh, làm căn cứ khoa học và thực tiễn cho việc tổ chức không gian lãnh thổ KT-XH và xây dựng các kế hoạch phát triển 5 năm và hàng năm, đáp ứng yêu cầu phát triển chung của cả nước, đồng thời nâng cao hiệu quả KT-XH để xây dựng Bắc Giang trở thành tỉnh phát triển năng động và có đóng góp ngày càng quan trọng vào sự phát triển chung của vùng và cả nước.

    Đại diện Viện Chiến lược Phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tỉnh Bắc Giang là một trong những tỉnh đầu tiên
    trong toàn quốc triển khai lập Quy hoạch tỉnh. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

    Tại buổi làm việc, các thành viên Ban Chỉ đạo lập quy hoạch tỉnh đã nêu ý kiến, thảo luận đánh giá về dự thảo Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tập trung vào một số nội dung cụ thể như: định hướng về không gian phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; phương án phát triển các đô thị, khu vực nông thôn; hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, cấp thoát nước; quy hoạch phát triển các lĩnh vực xã hội; hạn mức chuyển đổi đất.

    Theo đại diện Viện Chiến lược Phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tỉnh Bắc Giang là một trong những tỉnh đầu tiên trong toàn quốc triển khai lập Quy hoạch tỉnh để trình Trung ương thẩm định và phê duyệt. Hiện nay, các hồ sơ thủ tục đã cơ bản được hoàn thành, tỉnh Bắc Giang cần nghiên cứu thêm, bám sát vào Luật Quy hoạch, làm sâu thêm những nội dung quan trọng trong quy hoạch tỉnh, bổ sung các nội dung chưa rõ ràng, qua đó hoàn thiện dự thảo báo cáo trình Trung ương.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Ánh Dương phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

    Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Ánh Dương đề nghị Sở Kế hoạch và Đầu tư cần thống nhất các chỉ tiêu trong dự thảo báo cáo Quy hoạch tỉnh theo các chỉ tiêu trong báo cáo KT-XH 5 năm của tỉnh để thuận tiện cho việc so sánh và đánh giá.

    Đồng thời cần xem lại các chỉ tiêu đến năm 2030, cụ thể về cơ cấu kinh tế có một số nội dung chưa rõ ràng. Cùng đó, cần làm rõ nội dung quy hoạch tập trung vào định hướng phát triển công nghiệp và đặc biệt là phát triển giao thông ra sao và có tầm nhìn cụ thể về toàn tỉnh vào thời điểm 2030, định hướng đến 2050. Qua đó, nâng tầm quy hoạch giao thông, đáp ứng được yêu cầu cho phát triển KT-XH của tỉnh trong tương lai.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cũng làm rõ một số nội dung cụ thể trong dự thảo báo cáo như vấn đề tiêu thoát nước, đây là vấn đề còn nan giải, nhất là ở các khu công nghiệp hay ở thành phố Bắc Giang và huyện Việt Yên. Do đó, việc quy hoạch tiêu thoát nước cần được quan tâm hơn, cần quy hoạch những hệ thống tiêu thoát nước lớn hơn, phải là những kênh thoát nước hở, vừa làm cảnh quan nhân tạo vừa đáp ứng được yêu cầu tiêu thoát nước.

    Về quy hoạch các khu công nghiệp hiện nay đã cơ bản đã khai thác được những tuyến đường lớn hiện có, đảm bảo vị trí gần sông, đảm bảo tiêu thoát nước và vấn đề môi trường. Tuy nhiên ở đây, cần chú ý thêm về việc quy hoạch phát triển công nghiệp nên lui dần về phía Đông, để tạo điều kiện phát triển dịch vụ cho thành phố Bắc Giang.

    Bên cạnh đó, cần tránh việc tập trung quá mức các khu công nghiệp vào một nơi, vào cùng một thời điểm, sẽ gây ra nhiều vấn đề ảnh hưởng đến văn hóa xã hội. Đồng thời không nên mở quá nhiều cụm công nghiệp, nên tập trung hình thành những khu công nghiệp quy mô lớn hơn so với hiện nay.

    Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái yêu cầu các cơ quan chức năng tập trung hoàn thiện Quy hoạch tỉnh Bắc Giang
    để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong tháng 12/2020. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

    Kết luận buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái yêu cầu các thành viên Ban Chỉ đạo lập Quy hoạch tỉnh cần rà soát và tập trung hoàn thiện dự thảo báo cáo Quy hoạch tỉnh. Đồng thời giao Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Cục Thống kê xem xét tính toán lại các chỉ tiêu, đảm bảo về căn cứ khoa học và thực tiễn. Đánh giá được những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn của tỉnh trong thời gian đến năm 2030, tầm nhìn 2050.

    Về nội dung trong dự thảo báo cáo, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan chức năng xem xét, tính toán lại khung định hướng và đề xuất phương án không gian phát triển. Đây là nội dung hết sức quan trọng trong việc quy hoạch tỉnh, các sở, ngành cần phối hợp thật tốt với các địa phương để tập trung nghiên cứu chi tiết, có tầm nhìn chiến lược trong quy hoạch.

    Về nội dung các đột phá và nhiệm vụ trọng tâm phát triển thời kỳ 2021 – 2030 được nêu trong dự thảo báo cáo cần bám sát hơn nữa theo các khâu đột phá trong chiến lược phát triển KT-XH của quốc gia, tập trung vào đột phá trong chính sách như chính sách thu hút đầu tư, thu hút nguồn lực. Đồng thời xem xét, thực hiện rà soát lại các số liệu, đặc biệt là các số liệu về đất đai.

    Cùng đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các ngành, địa phương rà soát những nội dung cần điều chỉnh, làm rõ trong dự thảo báo cáo và gửi lại ý kiến cho Sở Kế hoạch và Đầu tư trước ngày 30/9 để hoàn thiện xin ý kiến Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Trước ngày 05/10, Sở Kế hoạch và Đầu tư hoàn thiện hồ sơ, gửi xin ý kiến các bộ, ngành, địa phương. Mục tiêu trong tháng 12/2020 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050./.

     

    Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang (Hoàng Hà).

  • Bắc Giang: 9 tháng đầu năm thu hút hơn 100 dự án đầu tư

    Trong bối cảnh khó khăn chung, song thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thời gian qua vẫn đạt kết quả khá tích cực. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh thu hút được 941 triệu USD vốn đầu tư quy đổi, bằng 95,3% cùng kỳ.

    Ảnh minh họa: BGP/An Nhiên

    Trong đó cấp mới 79 dự án đầu tư trong nước (DDI) vốn đăng ký 7.730 tỷ đồng, gấp 5,1 lần; 22 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) vốn đăng ký 307,9 triệu USD, bằng 43%; điều chỉnh 15 dự án DDI vốn đăng ký tăng thêm 303 tỷ đồng, 38 dự án FDI vốn đăng ký bổ sung 288,3 triệu USD, tăng 40,1%.

    Riêng trong tháng 9, toàn tỉnh đã thu hút được 12,5 triệu USD vốn đầu tư quy đổi; trong đó cấp mới và điều chỉnh 9 dự án DDI vốn đăng ký 196 tỷ đồng, điều chỉnh 01 dự án DDI vốn đăng ký tăng thêm 20 tỷ đồng, điều chỉnh 4 dự án FDI vốn đăng ký tăng thêm 3,2 triệu USD.

    Các dự án DDI tập trung chủ yếu ngoài khu công nghiệp với số vốn thu hút lên tới 7.465 tỷ đồng, chiếm 96,6% số vốn DDI toàn tỉnh; trong khi đó, các dự án FDI lớn tập trung chủ yếu trong các khu công nghiệp với tổng số vốn thu hút đạt 296,8 triệu USD, chiếm 96,4% số vốn FDI toàn tỉnh.

    Bên cạnh đó, các hoạt động hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp được đẩy mạnh. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tuy có giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19, song quy mô doanh nghiệp được nâng lên. 9 tháng toàn tỉnh có 790 doanh nghiệp được thành lập, giảm 11,6% so với cùng kỳ, tổng số vốn đăng ký 8.108 tỷ đồng, tăng 3,9%./.

     

    Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang (An Nhiên).

  • Bắc Giang: Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 27,2%

    Tháng 9/2020, chỉ số sản xuất công nghiệp của tỉnh Bắc Giang tăng 8,3% so với tháng trước, tăng 27,2% so với cùng kỳ.

    Lĩnh vực may mặc là một trong những lĩnh vực có chỉ số sản xuất tăng khá so với tháng trước. Ảnh: BGP/An Nhiên

    Một số ngành lớn đã cơ bản sản xuất ổn định như: Sản xuất linh kiện điện tử, sản xuất thiết bị điện… và một số ngành bước đầu có dấu hiệu hồi phục, chỉ số sản xuất tăng khá so với tháng trước như: May trang phục tăng 43,2%, sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 25%, sản xuất kim loại tăng 30,3%…

    Tuy nhiên, một số ngành vẫn chưa hết khó khăn, chỉ số sản xuất thấp đã ảnh hưởng đến tăng trưởng chung toàn ngành như: Sản xuất đồ uống; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét

    Chỉ số sản xuất 9 tháng dù có mức tăng thấp hơn so với cùng kỳ các năm trước song vẫn đạt mức 16,8%. Trong đó ngành khai khoáng tăng 1%, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 22,7%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,2%./.

     

    Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang (An Nhiên).

  • Bắc Giang: 9 tháng đầu năm thu ngân sách đạt 67,3% dự toán

    Tháng 9/2020, tổng thu ngân sách nội địa của tỉnh Bắc Giang ước đạt 478 tỷ đồng; lũy kế 9 tháng ước đạt 5.966 tỷ đồng, giảm 21,1% cùng kỳ, đạt 67,3% dự toán.

    Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có mức tăng khá. Ảnh minh họa: BGP/An Nhiên

    Có 10/16 khoản thu tăng so với cùng kỳ, trong đó một số khoản thu từ sản xuất kinh doanh vẫn có mức tăng khá cao đã góp phần làm tổng thu trừ tiền sử dụng đất đạt 3.472 tỷ đồng, tăng 11,1% cùng kỳ, đạt 75,4% dự toán.

    Một số khoản thu có mức tăng khá như: Doanh nghiệp nhà nước trung ương 328 tỷ đồng, tăng 4,6%, đạt 80,1% dự toán; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 764 tỷ đồng, tăng 24,3%, đạt 73,2%; thuế công thương nghiệp (ngoài quốc doanh) 735 tỷ đồng, tăng 14,1%, đạt 72,1%; thuế thu nhập cá nhân 596 tỷ đồng, tăng 21,8%, đạt 79% dự toán.

    Tuy nhiên, vẫn còn 6/16 khoản thu đạt thấp, trong đó thu từ tiền đất mới chỉ đạt 2.219 tỷ đồng, giảm 46,5% cùng kỳ, đạt 55,5% dự toán.

    Để tăng thu ngân sách, những tháng cuối năm, tỉnh Bắc Giang được triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp thu ngân sách, vừa đảm bảo thu đúng, đủ, vừa kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp, người nộp thuế do ảnh hưởng của dịch bệnh. Đồng thời chủ động đánh giá, phân tích giám sát chặt chẽ các nguồn thu hiện tại, khai thác triệt để các nguồn thu mới và các nguồn thu còn thất thu.

    Bên cạnh đó, quản lý hiệu quả các nguồn thu như chuyển nhượng bất động sản, khai thác khoáng sản, các nguồn vãng lai, thu từ các dự án khu đô thị, khu dân cư… Thực hiện nghiêm các biện pháp đôn đốc, xử lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế theo quy định; tập trung đôn đốc với các doanh nghiệp chiếm tỷ trọng nợ cao, các doanh nghiệp có khả năng tài chính nhưng không thực hiện nghĩa vụ với nhà nước./.

     

    Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang (An Nhiên).